1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp tăng cường giao tiếp tiếng việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số

42 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 106,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua chuyên đề tăng cường kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinh mẫu giáo 5 tuổi vùng dân tộc thiểu số đã được sở, phòng mở các lóp tập huấn ,hội thảo, tổ chức thi giáo giỏi các cấp, làm và thi đồ dùng tự tạo phục vụ cho chuyên đề này đạt kết quả cao. Tuy nhiên việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc không phải là dễ, mà còn rất nhiều phức tạp bởi vì thời gian trẻ tiếp xúc với cô trên lớp quá ít, chỉ có một buổi, thời gian ở nhà là chính, trẻ lại giao tiếp bằng tiếng dân tộc, tiếng Việt không có ai để giao tiếp cho nên trẻ rất mau quên, trẻ phát âm không chuẩn, viết chữ không được.

Trang 1

Một số biện pháp tăng cường giao tiếp Tiếng Việt cho

trẻ Mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số.

trang

A Phần mở đầu

I Lý do chọn đề tài

II Mục đích nghiên cứu

III Nhiệm vụ nghiên cứu

IV Phương pháp nghiên cứu

V Đối tượng và khách thể nghiêm cứu

VI Giả thuyết khoa học

VII Đóng góp đề tài

B Nội dung nghiên cứu I

Cơ sở lý luận của đề tài

1 Cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ

2 Vai trò của ngôn ngữ

II.Thực trạng trong hoạt động làm quen chữ viết của trẻ mẫu giáo 5 tuổi người

dân tộc thiểu số ở trường mầm non Yên Hoà-Tương Dương-Nghộ An

III Những biện pháp để tăng cường giao tiếp tiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi

II Kiến nghị sư phạm

D Tài liệu tham khảo

33435555

5 6

Trang 2

Có thể nói rằng giáo dục mầm non là một thâu quan trọng của hộ thống giáo quốc dân,

là bậc học chuẩn bị tiên đề cho giáo dục phổ thông theo mục tiêu giáo dục toàn diện, nó sẽảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển nhân cách con người ,vậy vấn đề đặt ra trong lứatuổi này là phải quan tâm đầy đủ đến giáo dục thể chất ,trí tuệ và tinh thần cho trẻ nhưC.Mác đã từng khẳng định “ Việc kết hợp giáo dục, trí tuệ, và thể chất không chỉ là mộtphương tiện tăng thêm sản xuất xã hội mà còn là phương tiện duy nhất để phát triển conngười toàn diện

Ngành học mầm non trong những năm qua có những chuyển biến về chất lượng chămsóc nuôi dưỡng và giáo dục trẻ không những ở các thành phố lớn, thị xã, thị trấn mà cònđược nhân dân ở các vùng ven, miền núi, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũngđang từng bước được củng cố Để thực hiện được vấn đề này một cách có hiệu quả nângcao chất lượng giao tiếp bằng tiếng Việt cho trẻ dân tộc thiểu số thì cần phải phát triểnngôn ngữ, bởi vì tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai của trẻ, sự phát triển ngôn ngữ là giúp trẻtham gia trực tiếp vào các hoạt độngkhác, vì ngôn ngữ là phương tiện để giao lưu tìnhcảm, về mối quan hộ và cách ứng xử trong xã hội, là sự tìm tòi, khám phá thế giới tựnhiên, cuộc sống xung quanh trẻ Nhưng đối với người đồng bào dân tộc quả là một vấn

đề bức xúc, vận động con em đến tuổi ra lóp không ít khó khăn, họ có lối sống biệt lậpgiữa các dân tộc nên ít có điều kiện giao tiếp, cách suy nghĩ và khả năng tiếp thu còn hạnchế Thêm vào đó sự bất đồng về ngôn ngữ giữa cô và trẻ đã gây nhiều khó khăn trongviệc giao tiếp, mặt khác họ chưa hiểu đúng đắn về vấn đề học tập, con cái muốn học hànhnhư thế nào cũng được, và muốn ở nhà giữ em vì con cái đông Đối với trẻ thì không

Trang 3

Song việc chuẩn bị cho quá trình giao tiếp bằng tiếng Việt thông qua tất cả các mônhọc, thông qua mọi hoạt động của trẻ, việc giao tiếp diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi cần phảitạo được môi trường cho trẻ hoạt động, tổ chức tiết học Như vậy việc trẻ được hoà lẫntrong các hoạt động vui chơi tự nhiên đầy hứng thú, như một chủ thể tích cực Thông quacác hoạt động trực tiếp với các sự vật, hiện tượng, qua giao tiếp xã hội mà trẻ làm quenđược chữ cái.

Trong những năm qua chuyên đề tăng cường kỹ năng giao tiếp tiếng Việt cho học sinhmẫu giáo 5 tuổi vùng dân tộc thiểu số đã được sở, phòng mở các lóp tập huấn ,hội thảo, tổchức thi giáo giỏi các cấp, làm và thi đồ dùng tự tạo phục vụ cho chuyên đề này đạt kếtquả cao Tuy nhiên việc dạy tiếng Việt cho trẻ dân tộc không phải là dễ, mà còn rất nhiềuphức tạp bởi vì thời gian trẻ tiếp xúc với cô trên lớp quá ít, chỉ có một buổi, thời gian ởnhà là chính, trẻ lại giao tiếp bằng tiếng dân tộc, tiếng Việt không có ai để giao tiếp chonên trẻ rất mau quên, trẻ phát âm không chuẩn, viết chữ không được

Từ những khó khăn như trên của trẻ học sinh mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc giao tiếpbằng tiếng Việt Để khắc phục được vấn đề này và giúp trẻ tiếp thu được kiến thức mới,học tiếng Việt một cách dễ dàng, đồng thời tạo hứng thú cho trẻ đến trường mạnh dạn, tựtin và tích cực hoạt động, nâng cao khả năng nhận thức cho trẻ ,vốn kinh nghiệm của trẻđược kích thích trẻ phát triển và tiếp xúc giao tiếp với mọi người xung quanh một cách dễdàng hơn, đó chính là lý do tôi chọn đề tài này

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Xây dựng biện pháp dạy tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết cho học sinhngười dân tộc thiểu số

Trang 4

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về dạy giao tiếp tiếng Việt trong hoạt động làm quenchữ viết cho học sinh dân tộc thiểu số

- Nghiên cứu thực trạng công tác dạy tiếng Việt và tiếp thu của trẻ ở trường mầmnon Yên Hoà

- Đề xuất những biện pháp dạy trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số họctiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viết

IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

- Nghiên cứu tài liệu về cho trẻ làm quen chữ viết như qua sách báo, tranh ảnh

- Quan sát hoạt động của trẻ làm quen chữ viết

- Điều tra bằng phiếu đối tượng là giáo viên về việc dạy làm quen chữ viết cho trẻ

- Tìm tài liệu tổng kết, báo cáo về chuyên đề dạy làm quen chữ viết ở trẻ mẫu giáo

5 tuổi người dân tộc

- Lấy ý kiến chuyên gia, giáo viên dạy giỏi, ý kiến đóng góp của các nhà quản lýchỉ đạo cấp trên về chuyên đề này

- Thực nghiệm về một số biện pháp

y ĐỐI TƯỢNG KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

- Khách thể: Là hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dântộc thiểu số

- Đối tượng: Là những biện pháp để dạy làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổingười dân tộc thiểu số

VI GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Nếu xây dựng được các biện pháp tốt, phù hợp trong hoạt động làm quen chẽ viếtcho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số thì chất lượng sẽ được nâng lên giúp trẻ tựtin khi bước vào học lóp 1

VII ĐÓNG GÓP CỦA ĐỂ TÀI:

- Hy vọng đề tài này thành công sẽ giúp cho nhà trường nâng cao chất lượng tronghoạt động làm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số và làm nềntảng cho trẻ vào lóp 1 phổ thông được dễ dàng

Trang 5

B NỘI DUNG NGHIÊN cứu

I Cơ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỂ TÀI:

Giáo dục mầm non là vấn đề có tầm chiến lược lâu dài, ảnh hưởng to lớn đến sựphát triển giáo dục phổ thông, đây là bậc học đầu tiên là nền tảng để các em học lên cáclóp trên, chuẩn bị tâm thế cho trẻ vào lóp 1 Góp phần phổ cập giáo dục tiểu học đúng độtuổi và phổ cập THCS đến năm 2010 Đồng thời mục tiêu của giáo dục mầm non là giúptrẻ phát triển nhận thức, phát triển ngôn ngữ, phát triển tình cảm - quan hộ xã hội

Song vị trí của phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non tương đối đặc biệt vì từ sựphát triển ngôn ngữ sẽ tham gia trực tiếp vào phát triển các lĩnh vực khác Bởi ngôn ngữ làphương tiện giao lưu tình cảm, phương tiện để trẻ nhận thức, khám phá tự nhiên

1 Cơ sở lý luận chung về ngôn ngữ.

*Ngôn ngữ:

Con người có khả năng truyền đạt kinh nghiệm cá nhân cho người khác và sử dụngkinh nghiệm của người khác vào hoạt động của mình, làm cho mình có những khả năng tolớn, nhận thức và nắm vững được những lực lượng bản chất tự nhiên, xã hội và bản thân chính là nhờ ngôn ngữ

Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội - lịch sử Do sống và làm việc (hoạt động) cùngnhau nên con người có nhu cầu phải giao tiếp (thông báo) với nhau và nhận thức (kháiquát hoá) hiện thực Trong quá trình lao động (hoạt động) cùng nhau hai quá trình giaotiếp và nhận thức đó không tách rời nhau: để lao động phải thông báo cho nhau về sự vật,hiện tượng đó vào trong một lóp, một nhóm các sự vật, hiện tượng nhất định, cùng loại.Ngôn ngữ đã ra đời và thoả mãn được nhu cầu thống nhất các hoạt động đó1

2 Vai trò của ngôn ngữ đối với nhận thức:

Từ những điều đã trình bày ở trên cho thấy khá rõ ngôn ngữ, lời nói (hoạt động lờinói) có vai trò rất to lớn trong đời sống tâm lý con người Ngôn ngữ là một trong hai yếu

tố (cùng với lao động) đã làm cho con vật trở thành con người (F Anghen) Nói cáchkhác, ngôn ngữ đã góp phần tích cực làm cho các quá trình tâm lý của con người có chấtlượng khác hẳn với con vật Ngôn ngữ đã cố định lại những kinh nghiệm lịch sử xã hội lờingười, nhờ đó thế hộ sau có được các sức mạnh tinh thần của thế hộ trước Ngôn ngữ làhình thức tồn tại của ý thức, ngôn ngữ là "ý thức thực tại" của con người (C Mác) Cóthể nói ngôn ngữ liên quan đến tất cả các quá

1 VưgốtxM L X Tư duy và lòi nói Trong: Những nghiên cứu tâm lý học chọn lọc M "GD", 1956

7

Trang 6

trình tâm lý của con người, là thành tố quan trọng nhất về mặt nội dung và cấu trúc củatâm lý người, đặc biệt là của các quá trình nhận thức.

2.1 Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức cảm tính

Ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng đối với các quá trình nhận thức cảm tính, nólàm cho các quá trình này ở người mang một chất lượng mới

a Đối với cảm giác.

Ngôn ngữ ảnh hưởng mạnh đến ngưỡng nhạy cảm của cảm giác, làm cho cảm giácđược thu nhận rõ ràng, đậm nét hơn Thí dụ, nghe những người khác suýt xoa "trời lạnhquá!" ta dễ cảm thấy lạnh hơn Khi cảm nhận các thuộc tính của sự vật, hiện tượng ở xungquanh (mầu sắc, âm thanh, mùi vị ) ta thường "gọi thầm" tên các thuộc tính đó ở trongđầu, điều này làm cho cảm giác của ta về thuộc tính ấy mạnh hơn, chính xác hơn

b Đối với tri giác.

Ngôn ngữ làm cho quá trình tri giác diễn ra dễ dàng, nhanh chóng hơn và làm chonhững cái tri giác được trở thành khách quan, đầy đủ và rõ ràng hơn Thí dụ việc tách đốitượng ra khỏi bối cảnh (quy luật về tính lựa chọn của tri giác), việc ây dựng một hình ảnhtrọn vẹn về đối tượng tuỳ theo nhiệm vụ của tri giác (quy luật về tính trọn vẹn của tri giác)nếu được kèm theo bằng lời nói thầm hay nói thành tiếng thì diễn biến sẽ nhanh hơn vàkết quả sẽ rõ hơn

Vai trò của ngôn ngữ đối với quá trình quan sát càng cần thiết hơn, vì quan sát làtri giác tích cực, có chủ định và có mục đích (tức có ý thức) Tính có ý thức, có mục đích,

có chủ định đó được biểu đạt và điều khiển, điều chỉnh nhờ ngôn ngữ Không có ngôn ngữthì tri giác của con người vẫn là tri giác của con vật Tính có ý nghĩa trong tri giác của conngười là một chất lượng mới làm cho tri giác người khác xa tri giác của con vật Chấtlượng mới này chỉ được hình thành và được biểu đạt thông qua ngôn ngữ

Trang 7

những thông tin cần nhớ ra bên ngoài đầu óc con người Chính bằng cách này con ngườilưu giữ và truyền đạt được kinh nghiệm của loài người cho thế hộ sau.

2.2 Vai trò của ngôn ngữ trong nhận thức lý tính

a Đối với tư duy

Ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với tư duy của con người Ngôn ngữ và tư duy không

có mối quan hộ song song Ngôn ngữ càng không phải là tư duy và ngược lại tư duy cũngkhông phải là ngôn ngữ Mối quan hộ chặt chẽ giữa ngôn ngữ với tư duy là ở chỗ tư duydùng ngôn ngữ làm phương tiện, công cụ của tư duy, chính nhờ điều này tư duy của conngười khác về chất so với tư duy của con vật: con người có tư duy trừu tượng Không cóngôn ngữ thì con người không thể tư duy có trừu tượng và khái quát được Mối quan hộkhông tách rời của tư duy và ngôn ngữ được thể hiện trong ý nghĩa của các từ Mỗi từ đều

có quan hộ với một lớp sự vật, hiện tượng nhất định và gọi tên lớp sự vật, hiện tượng đó.Khi gọi tên các sự vật, từ tựa như thay thế chúng và nhờ đó tạo ra những điều kiện với cácvật ấy kể cả khi các vật ấy vắng mặt (tức là thao tác với các vật thay thế, với ký hiệu từngữ hay là với ngôn ngữ) Tuy nhiên từ không chỉ gọi tên sự vật, nhờ vật tư duy ngôn ngữtrừu tượng hoá được những thuộc tính không bản chất của sự vật và khái quát hoá đượcnhững thuộc tính bản chất của nó Không có ngôn ngữ thì không thể có tư duy khái quát -logic được

Lời nói bên trong là công cụ quan trọng của tư duy, đặc biệt khi giải quyết cácnhiệm vụ khó khăn, phức tạp Lúc này lời nói bên trong có xu hướng chuyển từng bộ phậnthành lời nói thầm (khi nghĩ người ta hay nói lẩm nhẩm là vì thế) Nếu nhiệm vụ quá phứctạp thì ngôn ngữ bên trong chuyển thành lời nói bên ngoài Người ta nói to lên thì thấy tưduy rõ ràng và thuận lợi hơn Những điều đó chứng tỏ không có ngôn ngữ, đặc biệt không

có lời nói bên trong thì ý nghĩ, tư tưởng không thể hình thành được, tức không thể tư duytrừu tượng được

b Đối với tưởng tượng

Ngôn ngữ cũng giữ một vai trò to lớn trong tưởng tượng Nó là phương tiện đểhình thành biểu đạt và duy trì các hình ảnh mới của tưởng tượng

Ngôn ngữ giúp ta làm chính xác hoá các hình ảnh của tưởng tượng đang nảy sinh,tách ra trong chúng những mặt cơ bản nhất, gắn chúng lại với nhau, cố định chúng lạibằng từ và lưu giữ chúng trong trí nhớ Ngôn ngữ làm cho tưởng tượng trở thành một quátrình ý thức, được điều khiển tích cực, có kết quả và chất lượng cao

Trang 8

2.3 Mục đích ý nghĩa của việc cho trẻ làm quen với chữ:

Mục đích của việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ nhằm giúp trẻ nhận biếtđược các mặt chữ để phát âm chính xác khi nói mà còn tạo cho trẻ hứng thú học tiếng mẹ

đẻ, làm tiền đề cho trẻ thích ứng với việc tập đọc, tập viết ở lóp 1

Làm quen với chẽ không phải là một môn học độc lập, riêng biệt mà nó là mộtphần, một bộ phận của việc phát triển ngôn ngữ trong chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ

5 - 6 tuổi Vì vậy nó có ý nghĩa trực tiếp trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ Trước hết

là rèn luyện kỹ năng nghe nói và giúp trẻ phân biệt được các âm khó, thông qua các chữcái, ví dụ như: X - s; 1 - n Sau khi đã học các âm riêng lẻ cần giúp trẻ phân biệt được các

âm trong từ, bằng cách đưa ra một chữ cái bất kỳ, yêu cầu trẻ gọi tên đồ vật có những âmđầu bằng chữ cái đã cho để trẻ phân biệt

Ví dụ: Khi cho trẻ làm quen với chữ 1 - n Sau khi trẻ đã phân biệt được từng âmriêng lẻ 1 và n, cô giáo yêu cầu trẻ tìm đồ vật có tên gọi các âm vừa học để trẻ phân biệtnhư: cái làn, cái lược; cái nón, cái nơ

Thông qua việc làm quen với chữ, vốn từ của trẻ được nâng cao, bởi vì khi làmquen với chẽ, trẻ không chỉ làm quen với các chữ ở dạng tồn tại tự nhiên của chữ viết, màcác chữ đó được gắn vào các từ, thông qua các đối tượng cụ thể, các từ đó có các âm đầu

là các chữ cái đã học, nhằm rèn luyện cách phát âm cho trẻ Cho trẻ làm quen với chữ viếtcòn giúp cho trẻ hiểu được mối quan hộ giữa ngôn ngữ nói với ngôn ngữ viết, trẻ hiểu thếnào là "đọc và viết" sau này ở trường phổ thông Thông qua việc tìm kiếm các chữ cáikhác nhau ở các vị trí khác nhau của từ giúp trẻ phát triển óc quan sát, ghi nhớ, chú ý cóchủ định

Cho trẻ làm quen với chẽ còn góp phần kích thích, phát triển tư duy, thể hiện ở chỗtrẻ đã xác định được tính chất đặc điểm của chữ đó bằng cách tìm kiếm các từ, tiếng thôngqua các đồ vật Trẻ tìm đúng các âm theo các chữ mà trẻ đã nhận ra Như vậy trẻ nhận rachữ đó thông qua việc phát âm chữ không phải chỉ thông qua mặt chữ Ví dụ qua trò chơi:

"Tai ai thính", "Tìm chữ cho tranh".v.v Đây là cơ sở quan trọng để trẻ tiếp nhận tri thứccủa trường phổ thông

Trong khi cho trẻ làm quen với chữ và chữ cái, cần giúp trẻ một số kỹ năng cầmbút, cầm sách, mở từng trang sách, tư thế ngồi của một học sinh

Việc cho trẻ làm quen với chữ không chỉ thông qua các tiết học mà đối với trẻ mẫugiáo phải thông qua nhiều hoạt động khác nhau như hoạt động tạo hình (vẽ, xé, cắt dán

Trang 9

các chữ cái) Đặc biệt là các trò chơi Những trò chơi phát triển giác quan, phát triển các

cơ nhỏ của ngón tay, là điều quan trọng để trẻ cầm bút sau này

Cho trẻ làm quen với chữ phải tạo ra được hứng thú, ham muốn đi học, tránh làmthay cho công việc của lóp 1 Thật sai lầm khi bắt trẻ tập viết vào một khuôn khổ nhấtđịnh, trong khi trẻ chưa chuẩn bị được những kỹ năng cần thiết trước khi tập viết, như vẽcác nét giống với chữ viết được gọi là "tiền chữ viết" Còn tập viết thực sự là nhiệm vụcủa lóp 1 và chỉ đến lớp 1 trẻ mới có thể làm việc này một cách có kết quả Không nêndạy trước những gì mà trẻ phải học một cách bài bản ở phổ thông

2.4 Nội dung làm quen với chữ.

- Dạy trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt

- Dạy trẻ nhận biết các chữ cái thông qua việc tri giác bằng âm thanh

- Dạy trẻ nhận biết các kiểu chữ (in thường, viết thường)

- Dạy trẻ cách liên hộ các chữ cái với các từ đã học và tìm ra các chẽ cái có trongcác từ đó

- Dạy trẻ làm quen với cách tách âm, ghép âm thông qua cho trẻ làm quen với các

vị trí của các âm trong từ

- Dạy trẻ làm quen với các kỹ năng ban đầu về tiền tập đọc, tiền tập viết: cáchngồi, cách cầm bút, mở sách, đọc

2.5 Yêu cầu cần đạt:

- Trẻ nhận biết và phát âm đúng 29 chữ cái tiếng Việt

- Phân biệt và phát âm đúng các âm khó như: 1 - n; b - p; s - X.

- Phân biệt được các chữ gần giống nhau p - q ; b - d - m - n thông qua việc phântích các nét

- Trẻ hứng thú nhận dạng, tìm kiếm các chữ cái ở mọi lúc mọi nơi, thông qua sáchbáo, tranh ảnh và các bảng chữ.v.v

Dạy trẻ tập nói tiếng Việt là một nội dung hết sức quan trọng trong giáo dục mầmnon Song việc đó càng trở nên bức xúc, cấp thiết đối với trẻ mầm non vùng dân tộc thiểu

số, để trẻ em người dân tộc thiểu số có thể hoà nhập và học tập được bằng tiếng Việt cầnchuẩn bị vốn tiếng Việt cho trẻ ngay từ tuổi mầm non "Dạy trẻ nói tiếng Việt là nội dungquan trọng của giáo dục mầm non, thực tế cho ta thấy rằng chất lượng học tập của họcsinh tiểu học ở vùng này phụ thuộc lớn vào trình độ tiếng Việt của các em

Trang 10

Đối với lứa tuổi mầm non trước khi vào lóp 1 trẻ chỉ được học ít tiếng Việt ở lópmẫu giáo theo lối truyền khẩu Trong giao tiếp ở gia đình và cộng đồng trẻ không có thóiquen nói tiếng Việt nên vốn tiếng Việt của trẻ nghèo nàn, khả năng sử dụng tiếng Việt rấthạn chế Đối với trẻ người dân tộc, việc học tiếng Việt được gọi là ngôn ngữ thứ hai Quátrình học ngôn ngữ hai có những đặc điểm khác với quá trình ngôn ngữ mẹ đẻ.

- Khác nhau ở trình độ xuất phát Nếu trẻ em người kinh học tiếng Việt trên cơ sởvốn kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt, thì trẻ người dân tộc bắt đầu học tiếng việt trên

cơ sở kinh nghiệm tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Việt

- Khác nhau về môi trường học tập, rèn luyện và sử dụng ngôn ngữ hai chủ yếu làmôi trường nhân tạo, bị thu hẹp cả về mặt không gian lẫn thời gian (trong phạm vi trườnghọc môi trường tự tạo của giáo viên

- Khác nhau về cơ chế lĩnh hội "nếu như việc phát triển tiếng mẹ đẻ là bắt đầu từviệc sử dụng nói một cách bột phát, tự do và kết thúc bằng sự hiểu rõ ngôn ngữ và nắmđược chúng thì sự phát triển tiếng ngoại ngữ (ngôn ngữ thứ hai) bắt đầu từ sự hiểu rõ đượcngôn ngữ và nắm nó một cách chủ định và kết thúc bằng lời nói có tự do và bột phát"(DX.Vưgotky) Ngoài ra, trong quá trình học ngôn ngữ thứ hai còn bị ảnh hưởng bởi sựgiao thoa ngôn ngữ, bởi những yếu tố tâm lý của người học bởi những điều kiên xã hội

Tăng cường tiếng Việt cho trẻ ở trường lớp mầm non phải thông qua tất cả các hoạtđộng và ở mọi lúc mọi nơi trong hoạt động làm quen chữ viết đòi hỏi trẻ biết đọc thì mớibiết viết và phát âm đúng, rõ ràng, chính xác các chữ cái Trẻ biết đọc, biết viết thì mớihọc được các môn học khác, mới tiếp thu được các kiến thức mà cô giáo truyền thụ

Làm quen chữ viết cho trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số là một việc làm không đơngiản mà vô cùng khó khăn, phức tạp Nó đòi hỏi, kéo theo các kiến thức của môn học khác

vì trong chương trình học mầm non hiện nay theo phương pháp đổi mới tích hợp không gò

bó cứng nhắc như phương pháp học trước nên đòi hỏi giáo viên trước hết phải nắm bắt,hiểu được đặc điểm tâm sinh lý, tư tưởng, từng độ tuổi phải biết chắt lọc sáng tạo, nắmbắt vững chương trình đổi mới để cung cấp, dạy trẻ tiếng Việt một cách tự nhiên thôngqua môn học làm quen chữ viết mà trẻ hiểu và nói được tiếng Việt Dạy ngôn ngữ tiếngViệt cho trẻ không phải là dạy theo lối truyền khẩu bắt chước mà dạy trẻ theo khoa học

II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LÀM QUEN CHỮ VIẾT CỦA TRẺ MẪUGIÁO 5 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU số Ở TRƯỜNG MẦM NON HỌA MI HIỆNNAY

Trang 11

1 Yài nét về địa bàn trường.

Từ trung tâm thị trấn Hoà Bình, đi theo hướng Đông Nam đến trung tâm xã YênHoà là 25 Km, xã có diện tích là 8.900km2 với tổng số dân là 11.175 người, trong đó họcsinh dân tộc là 150 trẻ thuộc dân tộc Thái và Khơ Mú Toàn xã có 1 trường mầm non với

12 lớp nằm rải rác ở 8 thôn làng

a Khó khăn:

- Đường xa đi lại rất khó khăn, đặc biệt về mùa mưa đường xuống các thôn làngtrơn, lầy lội

- Đa số học sinh là người dân tộc thiểu số, ngôn ngữ bất đồng

- Nhận thức của phụ huynh học sinh còn hạn chế chưa thấy được tầm quan trọngcủa việc học

- Đời sống kinh tế phụ huynh gặp nhiều khó khăn, ít có thời gian quan tâm đếncon, em

- Cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện dạy học của trường còn thiếu, tạm bợ

- Các cháu đều học một buổi nên hạn chế nhiều về vốn tiếng Việt khi cháu đếntrường lớp, giáo viên gặp nhiều khó khăn trong việc cung cấp kiến thức, rèn kỹ năng đểnâng cao chất lượng giảng dạy và vốn tiếng Việt cho trẻ

Trang 12

- Trình độ giáo viên không đồng đều.

Nhận thức của giáo viên về việc dạy tiếng Việt trong hoạt động làm quen chữ viếtcho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc Tổng số giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy là

12, trong đó 12 giáo viên dạy lóp mẫu giáo ghép 3 độ tuổi (3, 4, 5 tuổi) học sinh là ngườidân tộc thiểu số chiếm 100% ở 12 lớp

Có 03 giáo viên là người dân tộc thiểu số, trình độ chuyên môn chưa đạt chuẩn vànói tiếng Việt cũng còn chưa thành thạo, tuổi đời cao ngoài 45 tuổi

Với đặc thù của trường lớp như vậy nên đa số giáo viên dạy lóp học sinh là ngườidân tộc, nhận thức còn hạn chế và trông chờ ỷ lại chưa tự giác nêu cao tinh thần tráchnhiệm trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và trong việc dạy trẻ tập nói tiếngViệt nói riêng

Giáo viên chưa thấy được tầm quan trọng cấp bách phải dạy tiếng Việt cho trẻ mẫugiáo 5 tuổi nên hàng ngày chỉ dạy qua loa, thiếu trực quan, đồ dùng bài soạn rập khuôn,máy móc theo sách hướng dẫn Giáo viên người dân tộc thì quá lạm dụng trong giờ dạythường dùng tiếng dân tộc để truyền thụ kiến thức và ngại giải thích từ khó bằng tiếngViệt cho trẻ

Vì nhận thức của giáo viên như vậy nên ảnh hưởng đến kết quả dạy tăng cườngtiếng Việt cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số

**vé nhân thức của phu huynh hoc sinh:

Phụ huynh học sinh đa số là người dân tộc Thái, Kho Mú, cuộc sống rất khó khăn,trình độ dân trí thấp, ít giao lưu, đông con Nhiều gia đình không đủ cơm ăn áo mặc hàng

Trang 13

1 3

ngày vào rừng kiếm củi, bẻ măng, làm rẫy xa làng bản Chính vì vậy họ chưa thật sự quantâm đến học hành của con cái muốn đến lớp hay không cũng được, còn nhiều phụ huynhkhi đi làm còn đưa con đi theo và ở lại rẫy đến vài ngày, vài

13

Trang 14

tuần mới về vì thế nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác duy trì sĩ số học sinh dẫn đến chấtlượng chăm sóc giáo dục trẻ bị hạn chế rất nhiều.

**vé nhân thức của hoc sinh

Ở lứa tuổi này trẻ người dân tộc chưa biết được tâm quan trọng của việc đi học mà trẻthích đến trường bởi vì có đồ chơi, có nhiều bạn đông vui, được cô dạy múa hát Tuỳ thuộcvào tính nết của các cháu mặc dù được cô giáo động viên, gần gũi nhắc nhở nhưng cháu vẫnkhông hoạt động chỉ ngồi im Nhưng đa số các cháu đã biết thực hiện theo yêu cầu của cô với

sự giải thích giúp đỡ nhiều nên trong tổ chức, hoạt động làm quen chữ viết giáo viên phải tíchcực dùng nhiều biện pháp sinh động để thu hút trẻ hứng thú tham gia để phát triển thêm ngônngữ cho trẻ

** Viẽc làm của giáo viên trong viẽc tổ chức hoat dồng

Theo chỉ đạo của ngành học mầm non thực hiện theo hướng đổi mới tích hợp, lồngghép các môn học phải sáng tạo, linh hoạt phù hợp với nhận thức từng lứa tuổi, đối tượng họcsinh

Trong hoạt động làm quen chữ viết theo phân phối chương trình 26 tuần dạy trong 3tiết

Tiết 1: làm quen chữ cái

Tiết 2: trò chơi chữ cái

Tiết 3: tập tô chữ cái

Hết năm học yêu cầu trẻ phải nhận biết, phát âm

Viết được 29 chữ cái o, ô, 0, a , ă, â, e, ê, ư và viết được tên trẻ, sao chép từ

Thực tế giáo viên khi lên lớp về bài soạn còn cứng nhắc, rập khuôn máy móc, cungcấp kiến thức chưa đầy đủ, còn làm thay trẻ Có tích hợp các môn học nhưng chưa phù hợp

về đồ dùng trực quan tranh ảnh, đồ dùng, thẻ chữ còn thiếu cho cô và trẻ

Một số giáo viên lên lớp chưa nhiệt tình giảng dạy mang tính chất đối phó Đối với trẻchưa gần gũi quan tâm, có khi còn cắt xén chương trinh giảng dạy

Tuy nhiên cũng có một số giáo viên cũng rất nhiệt tình năng nổ, gần gũi thương yêutrẻ, đã biết vận dụng phương pháp giảng dạy một cách linh hoạt Ở những lớp này chất lượngtrẻ đạt cao hơn, khả năng sử dụng về tiếng Việt của trẻ phát triển hơn

Giáo viên tổ chức các hoạt động làm quen chữ viết thông qua hoạt động dạy học Hầuhết trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc không có đủ điều kiện nhưng đồ dùng đồ chơi ở tronggia đình, ở nhà lại thường chơi tự do, không ai chỉ bảo và thường sử dụng tiếng địa phương

để giao tiếp với những bạn cùng trang lứa và với người lớn trong thôn bản Chính vì vậy tất

cả những kiến thức về vốn tiếng Việt cô dạy cho trẻ ở trên lớp, về nhà hầu như mai một hết

Trang 15

mặc dù cô giáo đã cố gắng dạy trẻ phát âm, luyện đọc và sử dụng các mẫu câu để cùng cấp,củng cố vốn từ cho trẻ.

Hoạt động làm quen chữ viết giáo viên dạy tích hợp các môn học như môn làm quenvăn học, cô dạy đọc thơ, kể chuyên, câu đố qua đó cô cung cấp thêm vốn từ cho trẻ Nhưnggiáo viên chưa đi sâu rèn luyện sửa sai cho trẻ kịp thời như: rèn phát triển ngôn ngữ luyệnđọc qua câu đồng dao

"Bà còng đi chợ trời mưa

Cái tôm cái tép đi đưa bà còng

Tiền bà trong túi rơi ra

Tép tôm nhặt được trả bà mua rau"

Thường tiếng dân tộc khi nó là không có dấu nên khi luyện trẻ đọc với tiếng "tôm" thìđọc là "tom", "túi" đọc là "tui", "tra" đọc là "tra"

Hay qua môn học tạo hình cô cho trẻ tô màu chữ cái in rỗng, nối chữ cái với từ, tiếng,

tô màu tranh Qua đó cô phải cho trẻ nhận biết, làm quen; hình vẽ hay mẫu tô nhưng cô chỉnói qua, không cho trẻ khắc sâu nhận biết màu tô nên trẻ thích tô màu nào thì tô màu đó.Không biết được tô màu hình bông hoa phải tô cánh hoa màu đỏ, hay vàng mà trẻ sẽ tô bất

cứ màu gì, có khi là màu đen, màu xanh vì vậy, ngôn ngữ tiếng Việt trẻ hạn chế ảnh hưởngnhiều đến nhận thức của trẻ

Còn qua hoạt động mọi lúc mọi nơi hay đi dạo, cô giáo cũng đã tổ chức được nhưngchưa chú ý nên trẻ nói bằng tiếng Việt Để trẻ trò chuyện với nhau hoặc nhắc cho bạn bằngtiếng dân tộc

Trong tất cả các họat động cô giáo cần tăng cường dạy trẻ nói bằng tiếng Việt bằngnhiều hình thức lặp đi, lặp lại nhiều lần để luyện tập cho trẻ và qua đó mới củng cố được kiếnthức cho trẻ lâu bền hơn

Hay thông qua hoạt động vui chơi cô tổ chức trò chơi nhưng chưa được linh hoạt, vì

đồ chơi còn ít chưa phong phú đa dạng, cách thức tổ chức của cô cứng nhắc, chưa phát huyhết khả năng tích cực của trẻ

Ví dụ: Trò chơi tìm chữ theo yêu cầu của cô ở những tiết đầu cô phải hướng dẫn cáchchơi, luật chơi cho trẻ biết cách chơi với từ khó cô phải giải thích bằng tiếng dân tộc để trẻhiểu cách chơi và chơi được, nhưng những tiết sau cô chưa nâng cao yêu cầu đặt câu hỏi gợi

mở để trẻ nói được cách chơi mà cô làm thay trẻ cô nói hết như vậy, đã làm ảnh hưởng rấtlớn đến phát triển ngôn ngữ cho trẻ Đối với trẻ học mà chơi, chơi mà học, đòi hỏi cô giáophải tìm tòi sáng tạo những trò chơi phù hợp với nhận thức của trẻ và tổ chức linh hoạt kíchthích trẻ hứng thú tham gia chơi Qua đó vừa củng cố được kiến thức, phát huy tinh thần tíchcực cho trẻ, rèn luyện tính nhanh nhẹn, chú ý, tinh thần kỷ luật như thông qua trò chơi "Hoa

Trang 16

nào quả ấy" thì những cháu có hoa mang chữ “ a ” sẽ phải nhận biết tìm đúng bạn có quảmang chữ cái “ a Hay những cháu có hoa, quả mang chữ cái “ ă ” sẽ tìm nhau và đứng vềthành từng cặp hoa nào quả ấy Khi trẻ đã tìm đúng hoa hay quả có cùng chữ cái cô sẽ đến vàhỏi từng trẻ tên hoa, tên quả cùng chữ cái gì, yêu cầu trẻ trả lời đúng, rõ ràng.

Ví dụ: Cô giáo hỏi bông hoa của cháu có chữ cái gì, trẻ phải trả lời: thưa cô bông hoacủa cháu có chữ cái a

Nếu trẻ trả lời chưa đúng, rõ ràng, nói chưa đủ câu cô giáo phải sửa sai, luyện trẻ nóilại và động viên trẻ kịp thời

Qua nhiều lần chơi, nhiều trò chơi cô giáo chú ý cung cấp thêm từ, mẫu câu để trẻ cóthêm vốn ngôn ngữ tiếng Việt

Hoạt động làm quen chữ viết qua khảo sát, điều tra, tổng hợp báo cáo về chuyên đềlàm quen chữ viết ở trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số ở trường mầm non Yên Hoà Tôi nhậnthấy rằng giáo viên đã nhiệt tình yêu nghề, tích cực trong giảng dạy cung cấp kiến thức, kếthợp rèn giao tiếp tiếng Việt cho trẻ và đã tích hợp được các môn học, thực hiện theo phươngpháp đổi mới truyền thụ đủ kiến thức bộ môn thông qua ba tiết học: 1 Làm quen chẽ viết; 2.Trò chơi chữ viết; 3 Tập tô chữ viết qua khảo sát chất lượng cuối năm

Tôi tiến hành đánh giá hiệu quả chất lượng tiếng Việt qua hoạt động làm quen chữ viếttheo 3 tiêu chí:

Tiêu chí 1: Nhận biết - Phát âm đúng chữ cái đã học Tiêu chí 2:

Nhận biết, phát âm chính xác chữ cái qua trò chơi Tiêu chí 3: Tô - viết đúng chữ cái và viết được tên trẻ

Mỗi tiêu chí được đánh giá theo 3 mức độ:

Mức độ 1: 3 điểmMức độ 2: 2 điểmMức độ 3: 1 điểm

Cụ thể:

* Tiêu chí 1: Nhận biết, phát âm đúng chữ cái đã học

+ Mức độ 1: Trẻ nhận biết chính xác, phát âm tốt các chữ cái đã học

+ Mức độ 2: Nhận biết, phát âm đúng chữ cái 2/3 chữ cái đã học

+ Mức độ 3: Trẻ nhận biết và phát âm được 1/3 chữ cái đã học

* Tiêu chí 2: Trẻ nhận biết phát âm chính xác chữ cái qua các trò chơi

+ Mức độ 1: Trẻ phát âm đúng - nhanh các chữ cái

+ Mức độ 2: Trẻ phát âm đúng nhưng với sự giúp đỡ của cô giáo

+ Mức độ 3: Trẻ phát âm chậm các chữ cái với sự gợi ý nhiều của cô giáo

Trang 17

* Tiêu chí 3: Trẻ biết cách cầm bút, ngồi đúng tư thế tô viết được các chữ cái đã học

và viết được tên trẻ

+ Mức độ 1: Trẻ tô - viết đúng - đẹp các chữ cái theo yêu cầu

+ Mức độ 2: Trẻ tô - viết được tên trẻ, chữ cái theo yêu cầu

+ Mức độ 3: Trẻ tô - viết được 1/3 chữ cái với sự gợi ý của cô giáo

Dựa trên số điểm mà trẻ đạt được ở ba tiêu chí trên tôi đánh giá hiệu quả tiếng Việttheo 3 loại:

- Loại tốt: từ 7 - 9 điểm

- Loại trung bình: từ 5 - 6 điểm

- Loại yếu: từ 4 điểm trở xuống

Tôi tiến hành khảo sát số trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số ở hai lớp mẫu giáo La-Cho,mẫu giáo Kép-Ram với số trẻ là 95 cháu Kết quả đạt như sau:

- Loại tốt có: 41/95 trẻ chiếm 43,16%

- Loại trung bình: 46/95 trẻ chiếm 48,42%

- Loại yếu: 8/95 trẻ chiếm 8,42%

Điểm trung bình của trẻ đạt X = 6

Kết quả này được thể hiện quả bảng 1

Bảng 1 Kết quả khảo sát thực trạng ngôn ngữ, tiếng Việt ở trẻ 5 tuổi người dân tộcthiểu số ở trường mầm non Yên Hoà

Qua kết quả điều tra trên tôi thấy tỷ lộ trẻ có vốn tiếng Việt qua hoạt động làm quenchữ viết ở loại trung bình và yếu là rất cao (54/95 trẻ chiếm 56,84%)

3 Hiệu quả hoạt động

Có sự nhiệt tình, cố gắng, nỗ lực của giáo viên trong việc thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ,

Trang 18

cái, viết được chữ cái theo yêu cầu và viết được tên trẻ Nghe - hiểu làm theo lời chỉ dẫn củagiáo viên.

4 Hạn chế:

Nguyên nhân hạn chế:

- Tuy đã có sự cố gắng rất nhiều của giáo viên để dạy và rèn luyện vốn từ tiếng Việtcho trẻ nhưng vẫn còn nhiều học sinh chưa nhận biết phát âm đúng chữ cái và viết được theoyêu cầu của giáo viên

Vì đối với những trẻ này hay theo cha mẹ đi lên rẫy, đi học không đều nên quá trìnhhọc tập kiến thức bị ngắt quãng có cháu vẫn còn nhút nhát trong giao tiếp, ngại tiếp xúc vớingười lạ

- Giáo viên còn hạn chế trong việc làm và sử dụng đồ dùng đồ chơi tự tạo

+ Phục vụ môn học, đồ dùng, đồ chơi sắp xếp ở các góc còn ít, phòng học còn thiếu vànhỏ nên bố trí các góc cũng chưa phù hợp

+ Giáo viên cũng chưa thật sự cố gắng nhiệt tình

+ Giáo án khi soạn còn sai lỗi chính tả, dùng từ, câu văn chưa chính xác Giờ dạy cònrập khuôn chưa linh hoạt, sáng tạo, cung cấp kiến thức chưa đầy đủ, chưa sâu, còn làm thaytrẻ Hạn chế phát huy tính tích cực ở trẻ

- Giáo viên người dân tộc thiểu số đều đã lớn tuổi, trình độ nhận thức về chuyên mônhạn chế Trong giờ dạy và trong giao tiếp với trẻ vẫn còn lạm dụng tiếng mẹ đẻ, nhiều khichưa triệt để sử dụng đồ dùng, tranh ảnh minh hoạ để giúp trẻ phát triển ngôn ngữ tiếng Việt,chưa rèn kỹ năng cho trẻ

- Điều kiện kinh tế phụ huynh rất khó khăn, trình độ dân trí thấp chưa thật sự quantâm đến việc học tập của trẻ, nhiều phụ huynh còn đưa con lên rẫy vài ngày mới về

Trong cuộc sống hàng ngày phụ huynh có thói quen giao tiếp với trẻ bằng ngôn ngữđịa phương, nên việc nói tiếng Việt của trẻ được học ở trường lóp cũng bị lãng quên

Đề xuất:

Qua năm học kết quả về chất lượng tiếng Việt ở trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộcthiểu số qua hoạt động làm quen chữ viết còn chưa cao, sẽ ảnh hưởng việc học tập ở lóp 1phổ thông của các em nên tôi mong muốn cùng với đồng nghiệp nghiên cứu tìm những biệnpháp thiết thực, khả quan đưa vào thực tế giảng dạy để nâng cao chất lượng làm tăng cườngtiếng Việt qua hoạt động làm quen chữ viết cho trẻ 5 tuổi người dân tộc thiểu số

III NHŨNG BIỆN PHÁP ĐỂ TĂNG CƯỜNG GIAO TIẾP TIÊNG VIỆT CHOTRẺ MẪU GIÁO 5 Tuổi NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU số QUA HOẠT ĐỘNG LÀM QUENCHỮ VIÊT

Trang 19

1 Xây dựng biện pháp

Mục đích xây dựng những biên pháp tăng cường giao tiếp tiếng Việt qua hoạt độnglàm quen chữ viết cho trẻ mẫu giáo 5 tuổi người dân tộc thiểu số ở trường mầm non YênHoà-Tương Dương Đồng thòi kiêm nghiêm tính đúng đắn và khả thi của giả thuyết khoa học

mà đề tài đã đặt ra

1.1 Mỗi giáo viên phải có tinh thần cầu tiến, nêu cao tinh thần trách nhiệm, có tâmhuyết với nghề

1.2 Phải vận động học sinh 5 tuổi người dân tộc thiểu số ra lớp 100% và duy trì được

sĩ số từ đầu đến cuối năm học bằng nhiều biện pháp như kết hợp với ban nhân dân các thônlàng, các đoàn thể Giáo viên làm tốt công tác quần chúng, vận động các bậc phụ huynhkhông đưa con lên nương rẫy, luôn làm tốt công tác chăm sóc giáo dục trẻ phối hợp với nhàtrường tổ chức các ngày tết, lễ Vận động quyên góp quần áo, đồ dùng để động viên tinh thầngiúp các em ham thích đến lớp

1.3 Giáo viên phải tự học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lựccông tác, thực hiện đúng thời gian biểu, bài soạn đầy đủ sáng tạo, có chất lượng Sưu tầmsáng tác những bài hát, câu đố, thơ chuyện, lam đồ dùng dạy học, đồ chơi, tranh ảnh, trang trílớp phù hợp với từng chủ điểm và mang bản sắc dân tộc, gần gũi với trẻ

Bằng nhiều hình thức giáo viên cung cấp kiến thức, rèn luyện phát triển ngôn ngữ chotrẻ một cách nhẹ nhàng, tuỳ từng đối tượng học sinh có phương pháp dạy thích hợp

1.4 Đối với giáo viên là người dân tộc thiểu số không được lạm dụng tiếng mẹ đẻ.1.5 Rèn ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ ở mọi lúc mọi nơi trong hoạt động tự

Ví dụ: ở góc chơi có treo biển góc học tập hay góc thư viện, góc thiên nhiên Vấn đề

là không phải bắt trẻ đọc đúng dòng chữ mà hàng ngày kích thích trẻ quan sát và tìm các chứcái hên hộ với chữ cái đã học khi trẻ nhớ được các chữ cái có thể đọc dòng chữ một cách rõràng để cho trẻ làm quen, lần sau trẻ sẽ đọc đúng như vậy (trẻ đọc theo cách riêng của mình)

- Góc "thư viện" với những quyển truyện tranh, sách tranh để trẻ tự "đọc" Thậm chí

có thể vẽ theo các chữ đó, đặc biệt nên chọn những sách tranh đen trắng để cho trẻ tô màu

- Khi trẻ "đọc" cô giáo hướng dẫn cách giở sách đọc từng trang một và bắt đầu đọc từtrang bìa, khi cô đọc cho trẻ nghe hướng trẻ chú ý vào từng bức tranh (mỗi trẻ có 1 quyểnsách giống cô để trẻ theo dõi) sau đó trẻ đọc theo hiểu biết của mình Sau khi trẻ đọc cô gợi ý

Trang 20

cho trẻ tìm chữ cái đã học trên 1 trang sách hoặc dùng bút chì khoanh tròn chữ cái và đếm cóbao nhiêu chữ giống nhau.

1.7 Kết hợp giữa gia đình, nhà trường, xã hội

Đây là ba môi trường trẻ hàng ngày hoạt động ở trường lớp, cô giáo, quan tâm rènluyện, cung cấp kiến thức cho trẻ Trẻ tiếp thu lĩnh hội và phản ánh lại qua mọi hoạt động.Nên khi về nhà phụ huynh cần phải nắm được hôm nay trẻ học những gì để kịp thời củng cố,luyện lại cho trẻ và ra xã hội tất cả mọi người đều phải quan tâm thấy được tầm quan trọngcủa ngành học mầm non cần phải phát triển ngôn ngữ tiếng Việt cho trẻ vì xã hội còn là môitrường để trẻ thể hiện mình Vì vậy trong trường lớp cô giáo phải làm tốt công tác xã hội hoágiáo dục, mỗi lóp đều phải có bảng tuyên truyền cho các bậc phụ huynh

1.8 Thông qua hoạt động tạo hình

Để chuẩn bị cho trẻ học đọc, học viết tốt sau này môn tạo hình góp một phần khôngnhỏ trong việc cho trẻ làm quen với chữ Thông qua cơ quan cảm giác và thị giác sự phối hợpmắt - tay là kỹ năng quan trọng trong việc cho trẻ tập viết, cho trẻ chơi với vở, bút, phấn.Chơi với các nét chữ trước khi cho trẻ tập tô, chỉ cần trẻ tập viết được liền mạch các nét chữsau đó trang trí thành hình mà trẻ thích Như vậy trẻ sử dụng bút vào tập viết mà không biếtmình đang tập viết

Ví dụ "trò chơi vẽ nét chữ" sau khi trẻ vẽ các nét thẳng, nét cong, nét xiên liền mộtmạch Tiếp theo trẻ vẽ thêm các nét phụ tạo thành hình vẽ các con vật hay trang trí thành hình

em bé, cái ô Ngoài ra cô giáo cho trẻ nhận biết các nét chữ bằng cách cắt, xén, vẽ trên khôngđường nét của các chữ

1.9 Thông qua việc phát triển ngôn ngữ

Trẻ làm quen với chữ thông qua việc phát âm đúng các tiếng, từ nếu cho trẻ làm quenchữ bằng cách nhận mặt chữ thì trẻ mới cảm nhận ở mức cảm tính mà cần phải cho trẻ làmquen với chữ thông qua việc rèn luyện phát âm qua phát âm các từ, tiếng có các chữ cái, giúptrẻ phát triển khả năng bắt âm Ví dụ: trò chơi "tai ai bịnh" khi nghe âm thanh trẻ biết được

đó là chữ gì? ví dụ "con sóc" trẻ nghĩ đến chữ s.

1.10 Thông qua hoạt động vui chơi

Bởi vì nó có thể thay thế được toàn bộ hoạt động của cô và trẻ trong tiết học cho trẻlàm quen với chữ thông qua các trò chơi giúp trẻ củng cố, tiếp thu kiến thức, kỹ năng mộtcách nhẹ nhàng, trẻ có cảm giác chơi nhưng thực chất là học

Ví dụ: Trò chơi xếp chữ bằng hạt Trẻ sẽ xếp hạt thành chữ cái theo yêu cầu hoặc xếpchữ trẻ thích

Hay trò chơi tìm chữ cái theo yêu cầu, trẻ sẽ phải nhận biết nhanh, tìm đúng chữ cái

và phát âm đúng chữ đó

Trang 21

* Có nhiều hình thức cho trẻ làm quen với chữ có hiệu quả như thông qua hoạt độnglàm quen với toán, làm quen văn học với các hình thức cơ bản giúp trẻ làm quen với chữthông qua các hoạt động tích cực bằng các giác quan và thể hiện theo hướng tích hợp các nộidung trong quá trình làm quen với chữ.

1.11 Thông qua tổ chức "tiết học"

Ở lóp mẫu giáo 5 tuổi thời gian 1 tiết học là 25 phút, trong đó trẻ hoạt động có địnhhướng rõ rệt dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở đây trẻ được hướng vào việc làm quen vớichữ viết

Dạy trẻ nhận biết chữ cái đúng, nhận biết chữ cái thông qua việc tri giác bằng âmthanh, nhận biết các kiểu chữ in thường, viết thường Dạy trẻ biết cách liên hộ các chữ cái vớicác từ đã học và tìm ra các chữ cái có trong các từ đó

Dạy trẻ làm quen với cách tách âm, ghép âm thông qua cho trẻ làm quen với các vị trícủa các âm trong từ

Dạy trẻ làm quen với các kỹ năng ban đầu về tiền tập đọc, tiền tập viết, cách ngồi,cách cầm bút, mở sách, đọc

Tiết 1: Môn: Làm quen chữ viết

Đề tài: Làm quen nhóm chữ u, ư

I- MỤC ĐÍCH YÊU CẦU:

- Cháu nhận biết được nhóm chữ u, ư qua từ tiếng và qua các trò chơi

- Rèn kỹ năng quan sát, chú ý - ghi nhớ - phát triển tư duy

- Giúp trẻ phát âm đúng, chính xác chữ cái u, ư, rõ ràng, trọn câu

- Giáo dục cháu ham thích học chữ cái

II- CHUẨN BỊ:

- Tranh vẽ có chứa chữ cái u, ư

- Thẻ từ rời của cô, của cháu

- Chữ in thường, viết thường

- Máy cát xét

- Vở bé tập tô

III- TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG:

Hoạt động của cô Hoạt động của trẻ

- Cô cháu vận động bài "Bác đưa thư vui tính"

- Các con ơi cô và các con vừa vận động bài hát nói về

ai?

Cháu làm theo cô Bác đưa thư

Ngày đăng: 28/09/2021, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w