Tự chỉ trích là tác phẩm lý luận cách mạng do đồng chí Nguyễn Văn Cừ Tổng Bí thư của Đảng viết. Tác phẩm gắn liền với Lịch sử Đảng ta thời kỳ 1936 – 1939. Tự chỉ trích là tác phẩm bút chiến giữa hai nhà lãnh đạo là Trí Cường (Nguyễn Văn Cừ) và Lê Hồng Phong (Tứ Bình hay TB), trong lúc Đảng hoạt động bí mật, nhưng tranh luận thì công khai. Nội dung tác phẩm xoay quanh 2 vấn đề lớn. Nêu cao tính Đảng trong thực hiện tự phê bình và phê bình Nguyên nhân không thành công của đại biểu cộng sản tham gia tranh cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, những kinh nghiệm rút ra trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Mục đích, Yêu cầu Nắm được hoàn cảnh ra đời, nội dung, ý nghĩa của tác phẩm Nắm được 1 thời kỳ đấu tranh cách mạng trong Đảng và cách mạng Đông Dương. Vận dụng nghiên cứu thời kỳ MTDCĐD và trong công tác xây dựng Đảng hiện nay.
Trang 1Chuyên đề giới thiệu tác phẩm Tác phẩm
TỰ CHỈ TRÍCH CỦA ĐỒNG CHÍ NGUYỄN VĂN CỪ
(VKĐ, TT, T6, Nxb CTQG, H 2000, tr 617 – 645)
MỞ ĐẦU
Tự chỉ trích là tác phẩm lý luận cách mạng do đồng chí Nguyễn Văn Cừ Tổng
Bí thư của Đảng viết Tác phẩm gắn liền với Lịch sử Đảng ta thời kỳ 1936 – 1939
Tự chỉ trích là tác phẩm bút chiến giữa hai nhà lãnh đạo là Trí Cường (Nguyễn Văn Cừ) và Lê Hồng Phong (Tứ Bình hay TB), trong lúc Đảng hoạt động bí mật, nhưng tranh luận thì công khai Nội dung tác phẩm xoay quanh 2 vấn đề lớn
- Nêu cao tính Đảng trong thực hiện tự phê bình và phê bình
- Nguyên nhân không thành công của đại biểu cộng sản tham gia tranh cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, những kinh nghiệm rút ra trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương
Mục đích, Yêu cầu
- Nắm được hoàn cảnh ra đời, nội dung, ý nghĩa của tác phẩm
- Nắm được 1 thời kỳ đấu tranh cách mạng trong Đảng và cách mạng Đông Dương
- Vận dụng nghiên cứu thời kỳ MTDCĐD và trong công tác xây dựng Đảng hiện nay
Nội dung bố cục
1 Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
2 Nội dung cơ bản của tác phẩm
3 Ý nghĩa của tác phẩm
Thời gian
4 tiết
Phương pháp
Giới thiệu từng nội dung, liên hệ với lý luận CN Mác – Lênin và tư tưởng HCM cùng thực tiễn cách mạng Việt Nam
Rút ra ý nghĩa lịch sử và hiện thực
Tài liệu
- Tác phẩm Tự chỉ trích VKĐ, T6, Nxb CTQG, H 2000, tr 617 – 645
- Đào phiếu, Nguyễn Văn Cừ một người lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nxb ST
H 1987
- Trần Văn Giàu, Sự phát triển tư tưởng ở Việt Nam, T3, Nxb CTQG, H 1997,
tr 345 – 356
Trang 2I Hoàn cảnh ra đời tác phẩm
1 Tình hình thế giới
- Cuối năm 1938 đầu năm 1939, nguy cơ chiến tranh thế giới II đến gấn.
+ Đức, Ý, Nhật cấu kết thành một trục phát xít.
+ Ý (Mútxôlini), Đức (Hít le) giúp Frăng Cô (Tây Ban Nha) đưa quân từ thuộc
địa Marốc về đánh bại chính phủ Tây Ban Nha
+ Đức chiếm Áo và xâm lược Tiệp khắc
+ Anh – Pháp nhân nhượng, thỏa hiệp trước yêu sách lãnh thổ (Dân tộc Trung
Âu – Đông Âu) Tới Hội nghị Duy rích (9/1938) đến phátxít Đức hành động khiêu khích phátxít xâm lược
+ 2/1939 Nhật chiếm đảo Hải Nam Đông Dương bị cuốn vào chiến tranh Trung
– Nhật Nhật tiến công từ Quảng Đông đến Quảng Tây áp sát biên giới Việt – Trung Được thế Pháp đóng cửa biên giới Việt – Trung để Nhật kiểm soát biên giới Nhật xúi giục Thái Lan gây sự với Pháp ở biên giới Đông Dương
- Chính phủ Pháp ngày càng ngả về phía hữu, lún sâu vào con đường phát xít hóa
+ 6/1937, Chính phủ Blum sụp đổ, Sô Tăng một đảng viên cấp tiến lên làm thủ tướng ráo riết chuẩn bị tiến công ĐCS và quần chúng lao động
+ 10/1937, nhiều tổ chức phát xít ở Pháp trỗi dạy
+ 11/1938, Đalađiê, đảng viên phái hữu của Đảng cấp tiến lên nắm quyền ban hành đạo luật đặc biệt như:
Tăng thuế, hủy bỏ chế độ tuần làm việc 40 giờ;
Nhân nhượng với Nhật;
Cấm báo chí đưa tin các vụ khiêu khích của Nhật;
Bắt giam những người đấu tranh cho hòa bình, chống chiến tranh, chống xâm lược
Tóm lại
- Tình hình chính trị thế giới và nước Pháp ngày càng xấu đi bất lợi cho cách mạng Đông Dương và CMVN
Trang 3- Khẩu hiệu đấu tranh chống bọn phản động thuộc địa và chiến tranh phát xít của ĐCS Đông Dương có ý nghĩa cấp bách
2 Tình hình Đông Dương
- Cuộc vận động dân chủ Đông Dương (1936 – 1939) giành nhiều thắng lợi to
lớn song đang đi vào giai đoạn kết thúc.
Biểu hiện:
+ Cuộc vận động đã tạo thế cho đấu tranh công khai, hợp pháp với nhiều hình thức đấu tranh phong phú đa dạng Đấu tranh diễn ra sôi nổi làm cho kẻ thù phải rút
lui từng bước
Điển hình là: phong trào Đông Dương đại hội, một cuộc biểu dương lực lượng cách mạng to lớn đòi dân sinh dân chủ từ 13/8/1936 Hội nghị có 400 người, lập Uỷ ban trù bị Đông Dương Đại hội, là cơ sở cho lập 600 ủy ban hành động Thực tế lập được 300 ủy ban có trụ sở công khai
+ Phong trào đấu tranh báo trí, các cuộc mít tinh (1/5/38 ở Hà Nội).
+ Giành thắng lợi lớn trong đấu tranh nghị trường.
Trong Viện dân biểu Trung kỳ (1937), Đảng đã liên hệ được với những người tiến bộ trong trí thức, phong kiến, tiểu tư sản, dân chủ cấp tiến để vận động tranh cử,
do đó nhiều đại biểu của mặt trận thắng cử
Năm 1938, Viện dân biểu Bắc Kỳ có 15 người Mặt trận dân chủ thắng cử
- Từ cuối 1938 đầu 1939, bọn phản động trong nước tăng cường bóc lột, đàn
áp và chống phá phong trào dân chủ.
+ Giữa 1938, Khâm xứ Trung kỳ đại diện chính phủ bù nhìn đưa ra dự án tăng thuế Đến tháng 6/1939 tăng lên 40% so với cùng kỳ năm 1938, so với năm 1914 tăng 177%
+ Mượn cớ phòng thủ Đông Dương chống xâm lược Nhật, Pháp bắt mua 40 triệu đồng công trái làm cho đời sống nhân dân vốn đã khó khăn nay lại khó khăn hơn
+ Tăng cường bắt bớ, cầm từ
Trang 4+ Báo dân chúng – Tờ báo công khai của ĐCS ra số đầu 22/7/1938 thì 30/8/1939 bị cấm xuất bản, nhân viên toà soạn bị bắt, tài sản bị tịch thu
+ Ở Bắc kỳ: tờ tin tức số 1 ra ngày 2/4/1938 thì 15/10/1938 cũng bị đình bản
=> Không khí khủng bố tràn ngập khắp Đông Dương.
- Lợi dụng tình hình bọn Tờ rốt kít ra sức chống phá cách mạng.
Tiêu biểu là: Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Hàm, Trần Văn Thạch
Thủ đoạn chống phá: Đưa ra những thủ đoạn cực tả như: “Mặt trận công – nông” Mạo là người cộng sản len lỏi để lừa gạt lôi kéo quần chúng
Kích động vào những sai lầm của ĐCS (thỏa hiệp vô nguên tắc, tả khuynh cô độc, gây chia rẽ trong Đảng)
3 Nguyên nhân trực tiếp ra đời tác phẩm
Cuộc bầu cử Hội đồng quản hạt Nam kỳ, những ứng cử viên cộng sản không giành thắng lợi.
Cụ thể:
- Cuộc bầu cử diễn ra 26/4/39, đại biểu cộng sản tham gia 3 người nhưng đều
thất bại Nhóm Trốtkít (Lập hiến) lại giành thắng lợi, do đó trong Đảng nổ ra cuộc tranh luận trên những báo xuất bản ở Sài Gòn
Đại biểu cộng sản gồm: Nguyễn Văn Tạo UVTW ĐCS Pháp Năm 1932 bị trục xuất từ Pa ri về Sài gòn Dương Bạch Mai, Nguyễn An Ninh cũng không trúng
Nhóm Trốtkít (Lập hiến) gồm: Tạ Thu Thâu, Nguyễn Hàm, Trần Văn Thạch
=> Từ tranh cử thất bại, trong Đảng nổ ra cuộc tranh luận trên những báo xuất
bản ở Sài Gòn như: Báo dân chúng, Tạp chí Phương Đông
Khởi đầu cuộc tranh luận là bài của đồng chí Nguyễn Văn Tạo đăng ở Tạp chí Phương Đông số 6 ngày 19/5/1939: “Đảng Lập hiến có bị đánh đổ không?”
Đáp lại là loạt bài của đ/c Lê Hồng Phong (hoạt động bí mật) đăng trên báo
“Dân chúng” số 58, 67, 68, 69 (tháng 4, 5, 6/1939)
Trang 5- Cuộc tranh luận bộc lộ những quan điểm trái ngược nhau giữa quan điểm cho phải đánh đỏ đảng Lập hiến và chủ trương không đánh đổ 1 đảng phái nào, 1 giai cấp nào của giới bản xứ.
Cuộc tranh luận bộc lộ những quan điểm trái ngược nhau Nguyễn Văn Tạo cho Đảng Lập hiến là phản động phải đánh đổ
Lê Hồng Phong cho rằng: Đảng lập hiến và giai cấp địa chủ phong kiến không hoàn toàn phản động mà trong đó có nhiều phần tử muốn cải cách dân chủ Nhóm dân chúng có thể lập mặt trận chung ở trong và ngoài nghị trường với Đảng lập hiến Như vậy, không chủ trương đánh đổ 1 đảng phái nào, 1 giai cấp nào của giới bản xứ Qua sự kiện trên cho thấy
1là, ĐCS hoạt động bí mật, song lại tranh luận công khai Đây là việc từ trước
không có
2là, cuộc tranh luận lần này khác tranh luận lần trước (1937) ở chỗ:
Lần 1 gồm: Tạo, Tập, Ninh nổ ra trong nhóm tranh đấu chủ trương lập mặt trận dân chủ rộng rãi
Lần 2, diễn ra trong nội bộ Đảng, tranh luận công khai trước dư luận xã hội Do nhận thức sai lầm về chính trị kèm theo tự ái cá nhân TTS đã đi đến đả kích nhau
- Cuộc tranh luận trong Đảng lần này gây ảnh hưởng xấu trong Đảng và giai cấp công nhân, làm hại đến sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.
Vì vậy, Nguyễn Văn Cừ hoạt động ở Hà Nội đã theo dõi, nhận thức và chỉ ra:
+ Đây là bộc lộ những sai lầm tả khuynh trong quan điểm chính trị
+ Sai lầm về nguyên tắc tổ chức, về tự phê bình và phê bình, về đường lối của
Đảng và danh dự cá nhân
+ Nguyễn Văn Cừ đã có nhiều bài viết gửi cho tờ “Dân chúng” để tranh luận song không được đăng Do đó, Nguyễn Văn Cừ quyết định viết tác phẩm “Tự chỉ trích”
Trang 6- Nguyễn Văn Cừ viết tác phẩm xong 6/1939 có gửi cho Trường Chinh, Võ
Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai góp ý Sau đó gửi vào Nam kỳ để các đồng chí TW và
Xứ ủy Nam Kỳ (Nguyễn Minh Khai bí thư thành ủy Sài Gòn – Gia Định) góp ý kiến Tác phẩm hoàn thành, Nguyễn Văn Cừ bàn với Xứ ủy Bắc Kỳ xuất bản Nhà xuất bản tập sách dân chúng và hiệu sách Đồng Xuân – Cơ quan phát hành báo chí của Đảng đã xuất bản vào 7/1939 Hiệu sách còn gửi đến các đại lý của mình ở Viêng chăm (Lào) và Phnômpênh (Cawmpuchia)
II Nội dung cơ bản của tác phẩm (A, B)
A Quan điểm, thái độ, nguyên tắc phê bình và tự phê bình trong Đảng (2vđ)
- Vđ1: Mục đích viết tác phẩm: Phân tích xác thực hoàn cảnh, không bi quan
hoảng hốt, mà cũng không đắc trí tự mãn để tìm ra nguyên nhân thất bại và tìm phương pháp sửa lỗi để tiến thủ.
Thái độ của Nguyễn Văn Cừ cho những ý kiến sai là ở chỗ:
+ Đây là tự ái và có xu hướng “tả khuynh” cô độc.
+ Có xu hướng thỏa hiệp hữu khuynh trong nội bộ Đảng.
Muốn khắc phục tư tưởng sai lầm đó phải bằng cuộc thảo luận nghiêm túc tự phê bình và phê bình, Bôn sê vích trong Đảng
- Vđ2: Vì sao phải tự phê bình và phê bình Bên sê vích?
Vì:
1là: Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng
+ ĐCSĐD là Đảng cách mạng có đường lối chính trị đúng đắn luôn bệnh vực quyền lợi cho dân chúng
+ Đảng ta còn trẻ tuổi, còn phạm nhiều sai lầm khuyết điểm, sai lầm nhưng luôn
tự phê bình và phê bình thành thật, mạnh dạn nhận ra khuyết điểm để sửa chữa, do
đó Đảng lãnh đạo được quần chúng
Trang 625: “Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chiến lược mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn hoàn trách nhiệm”
Trang 7+ Khi Đảng hoạt động bí mật, kẻ thù luôn đàn áp, chia rẽ, tiêu diệt Đảng, do đó mỗi đảng viên của Đảng có quyền tự do thảo luận và tự chỉ trích Có như vậy Đảng mới mạnh, mới thống nhất ý chí và hành động”
2là: Đảng phải làm cho đảng viên giác ngộ rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của
mình, biết đề ra sáng kiến và hoạt động theo sáng kiến, đồng thời cũng tăng cường công tác kiểm tra mọi hoạt động của đảng viên.
Làm như vậy để:
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo trong hoạt động lãnh đạo
Biết ứng phó với mọi khó khăn, kẻ cả những lúc khó khăn nghiêm trọng
3là: Bao giờ sự chỉ trích cũng là chỉ trích Bôn sê vích (nguyên tắc Đảng).
Tức là,
Trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng để chỉ trích
Trên nguyên tắc tập trung dân chủ, không lấy ý kiến cá nhân làm ý kiến của Đảng để công kích, đối phó với Đảng
Không lấy danh dự cá nhân đặt trên danh dự của Đảng, gieo mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng, gây mầm mống bè phái trong Đảng
Trang 623:
“… Chứ không phải đặt cá nhân mình lên trên Đảng, đem ý kiến riêng dù cho đúng đối chọi với Đảng, vin vào 1 vài khuyết điểm mà mạt sát Đảng, phá hoại ảnh hưởng của Đảng, gieo mối hoài nghi lộn xộn trong quần chúng …”
Trang 629: “Trước hết phải nói ngay rằng: chủ trương “không đánh đổ 1 giai cấp nào, 1 đảng phái nào của người bản xứ” là ý kiến riêng của anh TB chứ không phải chủ trương của ĐCS Đông Dương … vì chủ trương của Đảng cộng sản “tuy không phân biệt giai cấp, đảng phái nhưng vẫn có giới hạn, có nguyên tắc rõ ràng …”
=> Phê phán quan điểm của TB là đoàn kết, hợp tác vô nguyên tắc.
Trang 84là: Tự phê bình và phê bình nhằm tạo sự thống nhất cao về ý chí và hành động
trong Đảng, mỗi đảng viên trưởng thành và tiến bộ, tăng thêm uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng, đưa cách mạng tiến lên.
5là: Thái độ của người cộng sản trong phê và tự phê bình phải công khai, mạnh
dạn, trung thực nhận rõ khuyết điểm, tìm ra phương hướng sửa chữa sai lầm.
Trong LNTT, T 41, TB M 1977, tr 51 :
“Thái độ của 1 chính đảng trước những sai lầm của mình là 1 trong những tiêu chuẩn quan trọng nhất và chắc chắn nhất để xem xét đảng ấy có nghiêm chỉnh không
và có thực sự làm tròn nghĩa vụ của mình đối với giai cấp và đối với quần chúng lao động không Công khai thừa nhận sai lầm của mình, tìm ra nguyên nhân sai lầm, phân tích hoàn cảnh đẻ ra sai lầm, nghiên cứu cẩn thận những biện pháp để sửa chữa sai lầm ấy đó là dấu hiệu của 1 đảng nghiêm chỉnh, đường lối đảng đó như thế gọi là làm tròn nghĩa vụ của mình là giáo dục và huấn luyện giai cấp rồi đến quần chúng”
“Người thông minh không phải là không có sai lầm, nhưng trước sai lầm mà biết sửa chữa thì đó mới là người thông minh”
Trang 623 tác phẩm:
“Mỗi đảng viên có quyền tự do thảo luận và chỉ trích, nhưng phải có nguyên tắc
… phải cần làm cho đảng viên giác ngộ, rõ ràng và đầy đủ trách nhiệm của mình, biết xoay phương hướng trong những hoàn cảnh khó khăn, nghiêm trọng, biết chỉ trích đúng và kịp thời những khuyết điểm, sai lầm”
6là: Phải phòng, chống các khuynh hướng tư tưởng: Sợ khuyết điểm, sợ địch
lợi dụng không dám đấu tranh công khai”.
Trang 624: (T.B quy cho Tạo “nối giáo cho giặc” là không đúng
Trang 624: Đóng cửa bảo nhau giữ vỏ thống nhất bên ngoài trong thì hổ lốn một cục
Ấu trĩ tả khuynh: công kích xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng
Tóm lại: Cần chống
Trang 9+ Sai lầm tả khuynh trong quan điểm chính trị
+ Sai lầm về nguyên tắc tổ chức, về phê bình và tự phê bình
+ Sai làm về đường lối của Đảng
+ Sai lầm trong đề cao danh dự cá nhân
=> Từ 6 vấn đề trên rút ra ý nghĩa hiện thực.
VK ĐH9 trang 138 nêu:
“Từ ĐH VIII … Hội nghị TW 8 (lần 2) khóa VIII đã ra nghị quyết về 1 số vấn đề
cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng, mở cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, tiến hành tự phê bình và phê bình … Qua gần 2 năm thực hiện cuộc vận động thu được 1 số kết quả và kinh nghiệm bước đầu song chưa đạt yêu cầu đề ra Trong công tác xây dựng Đảng bên cạnh những ưu điểm đang nổi lên 1 số mặt yếu kém và khuyết điểm …
dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo,
nội bộ không đoàn kết, chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút …
Có nhiều nguyên nhân song: “chưa chỉ đạo tốt việc kết hợp tự phê bình và phê bình …”
Phương hướng tới: Tiếp tục thực hiện các nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là NQ TW 6 (lần 2) Đưa phê bình và tự phê bình thành nề nếp thường xuyên
B Nguyên nhân thất bại trong bầu cử 4/1939, bài học kinh nghiệm về công tác Mặt trận.
Mục này tác giả phân tích kết quả, kinh nghiệm, đánh giá nguyên nhân sự kiện 4/1939, rút ra những kinh nghiệm chủ yếu của Đảng trong thời kỳ MT DCĐD Đồng thời khẳng định mục đích, lý tưởng cao cả, đường lối chính sách của Đảng là đúng, hợp quy luật phát triển của lịch sử
1 Nguyên nhân thất bại của tranh cử ở Nam kỳ 4/1939 (4vđ)
- Vđ1: Về yêu cầu đánh giá nguyên nhân thất bại, tác giả yêu cầu:
Trang 10Trang 625:
“Chúng ta không bao giờ đổ hết những nguyên nhân thất bại do quân thù đàn
áp và cử tri chưa giác ngộ mà phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan
mà chính chúng ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm”.
- Vđ2: Về nguyên nhân khách quan: nhất trí với phân tích của TB
+ Do chính sách đàn áp của kẻ thù đối với những người cộng sản và Mặt trận Dân chủ Đó là nguyên nhân quan trọng.
+ Bọn Trốt kít được kẻ thù ủng hộ, chúng tự do hoạt động phá hoại; chúng đã
lợi dụng triệt để những ấu trĩ của những người cộng sản để gây ảnh hưởng
+ Do cử tri chưa thật sự giác ngộ
- Vđ3: Về nguyên nhân chủ quan
Tác giả đi sâu phân tích 3 nguyên nhân chủ quan: đó là
+ 1là: Mặt trận dân chủ mới được thành lập chưa được mạnh (tr 625 – 626)
Tức là, lực lượng ta chưa đủ mạnh để xây dựng mặt trận thống nhất rộng khắp vững chắc từ đó lôi cuốn các đảng phải liên hiệp hành động
Vì:
Về khách quan: do kẻ thù đàn áp, các phần tử trung bình, tự do còn do dự yếu ớt
Về chủ quan:
Ta chưa đủ sức lãnh đạo quảng đại quần chúng, thúc giục các đảng phái, nhân vật cấp tiến liên hiệp hoạt động;
Phong trào quần chúng chưa đủ mạnh để cho họ tin và mạnh dạn tham gia vào Mặt trận Dân chủ
=> Phê phán TB đăng trên báo dân chúng là: đã có cơ sở vững chắc trong quảng
đại quần chúng” Đó là mộng tưởng, tự mãn
=> Nhiệm vụ của những người cộng sản là:
Tiếp tục gây ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng chưa giác ngộ