Chắc hẳn các bạn đã từng bắt gặp hình ảnh nón lá gắn liền với hình ảnh người mẹ tần tảo sớm hôm, người chị đảm đang dẻo chân từng phiên chợ hay cô gái đương xuân e ấp nụ cười. Trong cuộc sống thường nhật nón lá luôn hiền hiện vừa mộc mạc vừa lam lũ mà mong manh duyên dáng. Không chỉ là vật dụng che mưa che nắng thường ngày, chiếc nón lá còn chứa đựng cả một kho tàng lịch sử văn hóa của người Việt với nền tảng là văn minh lúa nước. Bền và chắc, màu trắng đục với vành nón được nức bằng cước màu đỏ là nón lá làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội). Người làng Chuông được cả nước biết đến bởi chiếc nón với niềm tự hào: “Muốn ăn cơm trắng cá trê Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông”.
Trang 1Thuyết minh về nón lá làng Chuông
Xin chào quý khách! Rất vui khi được gặp gỡ quý khách tại đây (Giới thiệu)… Hy vọng rằng chúng ta sẽ có một chuyến tham quan đầy thú vị!
Thưa quý khách! Chắc hẳn quý khách đã từng bắt gặp hình ảnh nón lá gắn liền với hình ảnh người mẹ tần tảo sớm hôm, người chị đảm đang dẻo chân từng phiên chợ hay cô gái đương xuân e ấp nụ cười Trong cuộc sống thường nhật nón
lá luôn hiền hiện vừa mộc mạc vừa lam lũ mà mong manh duyên dáng Không chỉ là vật dụng che mưa che nắng thường ngày, chiếc nón lá còn chứa đựng cả một kho tàng lịch sử văn hóa của người Việt với nền tảng là văn minh lúa nước
Bền và chắc, màu trắng đục với vành nón được nức bằng cước màu đỏ là nón lá làng Chuông (Thanh Oai, Hà Nội) Người làng Chuông được cả nước biết đến bởi chiếc nón với niềm tự hào:
“Muốn ăn cơm trắng cá trê Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông”
1 Giới thiệu về làng Chuông
Dẫn: Vâng, chúng ta đang đứng ngay tại chân cổng làng Chuông Mình xin giới thiệu đôi nét về làng Chuông
Làng Chuông thuộc xã Phương Trung, huyện Thanh Oai, TP.Hà Nội nằm cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 40km Đây là mảnh đất đã sinh ra nhiều
tú tài thời vua chúa ở Việt Nam
Làng Chuông vào đầu thế kỷ XIX gọi là xã Thì Trung Theo sử sách Việt ghi chép lại, vào năm Tư Đức nguyên niên (1848), vì kiêng tên húy vua Tư Đức (tức Nguyễn Phúc Thì) nên đối tên thành xã Phương Trung, tổng Phương Trung, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên (sau là Ứng Hòa), trấn Sơn Nam Thượng Tên
xã được giữ đến nay Những năm trước cách mạng tháng Tám (1945), làng Chuông chỉ có 25 xóm Đến năm 1947, nơi đây được gộp lại thành 7 thôn: Tây Sơn, Chung Chính, Liên Tân, Quang Trung, Mã Kiều, Tân Tiến và Tân Dân Năm
2003, tách thôn Tân Dân thành Tân Dân 1 và Tân Dân 2 Như vây, từ làng gốc nay được chia thành 8 thôn
Trang 2Làng có trên 2.000 hộ dân, đất đai vốn dĩ khô cằn nên từ lâu dân làng đã làm thêm nghề phụ Làm nón lá là một trong những nghề truyền thống đem lại
cuộc sống kham khá cho dân làng Đây là nơi sản sinh ra những chiếc nón lá Việt
Nam, với hơn 300 năm tuổi đến nay vẫn còn lưu giữ và truyền nghề qua từng thế
hệ
Nguồn gốc của nghề làm nón ở làng Chuông cho đến nay vẫn là một câu hỏi bỏ ngỏ Người ta chỉ biết rằng làng nghề này đã có hơn 300 năm làm nón Xưa kia, nón làng Chuông là cống vật tiến hoàng hậu, công chúa bởi vẻ đẹp rất riêng được làm từ những bàn tay tài hoa khéo léo của các nghệ nhân lành nghề Ngày nay, nón làng Chuông có mặt khắp nơi, cả trên thị trường trong nước lần ngoài nước Trung bình mỗi ngày, dân làng làm được khoảng 7.000 chiếc nón
đưa đi khẳp nơi, sang cả Trung Ọuốc, Nhật Bản ,các nước châu Âu
2 Sản phẩm nón làng Chuông
Dẫn: Chúng ta cùng đi sâu vào bên trong làng để khám phá sản phẩm của các nghệ nhân nhé!
Nón làng Chuông ban đầu có rất nhiều loại dùng cho nhiều tầng lớp như: nón ba tầm cho các cô gái, nón nhô, nón long, nón dấu, nón chóp cho các chàng trai và những người đàn ông sang trọng
Trước thế kỷ 20, những sản phẩm nón lá truyền thống của làng Chuông là nón ba vòng Đấy là loại nón gần giống nón quai thao nhưng có ba vòng đấu, có thành tương đối nông Nón có kích thuớc to và dành cho người nông dân làm đồng nên không được khâu kỹ Nón thứ hai là nón thúng (quai thao) có vành rất rộng, hai bên buộc thao dành cho các cụ già đội đi chùa
Một loại nón cổ truyền khác của làng Chuông chính là nón lá già ghép sống Đây là loại nón có từ rất lâu cùng thời với chiếc nón quai thao Nón có ba vòng đấu, làm bằng lá hồ, khâu bằng móc đen rứa đen Loại nón này rất chắc chắn nên có thể dãi dầu mưa nắng cùng người trên đồng với rất nhiều công dụng khác nhau
Trang 3Trước đây, nghề làm nón lá phát triển mạnh mẽ, cả làng bao gồm già trẻ gái trai và cả trẻ con đều tham gia làm nón Tuy nhiên, thời gian gần đây, thị trường tiêu thụ nón lá truyền thống sa sút đồng thời một số hộ gia đình nhận được những đơn đặt hàng sản xuất những mặt hàng liên quan đến làm nón, có sử dụng kiến thức và tay nghề sẵn có của người làm nón ở làng
Ngày nay, Làng Chuông vừa sản xuất, vừa cung cấp sản phẩm để phục vụ những sản phẩm sáng tạo khác (nón quai thao, nón lụa nhiều màu), lưu niệm (nón các kích cỡ, màu sắc), trang trí nội thất (đèn lồng dạng nón, treo tường ở nhà hàng, quán giải khát, đồ đạc nội thất như bàn trà…) và trang trí đường phố (trang trí cảnh quan các khu phố đi bộ ở Hà Nội) để đáp ứng nhu cầu của thị trường và
du khách
3 Quy trình sản xuất nón làng Chuông
Dẫn: Chắc hẳn quý khách đang rất tò mò làm cách nào để nghệ nhân có thể làm
ra những chiếc nón đều, đẹp và bền đúng không ạ?Vậy chúng ta sẽ cùng di chuyển đến nơi sản xuất nón của các nghệ nhân để xem họ làm như thế nào nhé!
Có thể nói để làm được một sản phẩm nón làng Chuông hoàn chỉnh thì cần rất nhiều công đoạn, mỗi công đoạn đều phải tuân thủ những nguyên tắc thực hiện nhất định, gồm 10 bước là vò lá, phơi nắng lá, phơi sương, là lá cho phẳng, rẽ lá, bứt vòng, quay mo, khâu nón, lồng nhôi, nứt cạp và lợp ba lớp lá Quá trình làm nón lá truyền thống làng Chuông nhìn chung có 2 công đoạn chính như sau:
Giai đoạn 1: Chuẩn bị nguyên vật liệu
- Lá lụi: là nguyên liệu làm nón quan trọng của làng Chuông, được lấy từ
những cánh rừng ở Phú Thọ, Thanh Hóa và Quảng Bình
- Vòng nón: là một bộ phận không thể thiếu của chiếc nón Với chiếc nón
Chuông sẽ có 16 vòng ở mặt trong của nón Xưa kia vòng nón là do làng Chuông làm nhưng hiện nay thì do hai làng Đôn Thư và Tràng Xuân làm và mang đến chợ bán vào mỗi dịp có phiên Mười sáu chiếc vòng nón được phân thành các loại: vòng cạp 1 sợi, vòng chân 4 sợi (vòng tròn), vòng nứa 5 sợi (vòng nghiêng), vòng chúp 5 sợi (vòng nghiêng) và vòng chủm 1 sợi Các vòng này phải được vót
Trang 4thật đều tay mới tạo ra một chiếc nón đẹp Công việc làm vòng nón vừa đòi hỏi sức lực và sự khéo léo của đôi tay
- Liếc: cũng là một phần quan trọng làm nên chiếc nón chắc và đẹp Cây
liếc hay còn gọi là cây lòng bông do người làng Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên mua và đem bán ở chợ Chuông Ruột liếc là guột – thứ dùng để nối hai đầu vành nón và giữ cho vành nón được tròn và bền
- Cước là nguyên liệu để khâu nón, có rất nhiều loại: cước to màu đỏ thường
được dùng để khâu vành nón, cước nhỏ màu trắng được dùng để khâu các vòng nón Bên cạnh cước có sợi luồn nhôi Sợi này được làm bằng ren mua từ làng Triều Khúc dùng để thêu hai bên nón làm hai đầu quai nón giúp giữ nón chắc hơn
- Ngoài ra, còn những hình giấy vẽ (trang trí mặt bên trong), dao (để cắt vòng, gọt mo, lá); kéo (cắt chỉ, cắt lá); kim khâu (có nhiều kích thước, hình dáng, nhiều chức năng); bàn là lá (làm phẳng lá); lò hun lá, nón (để lá và nón
có màu trắng đẹp, chống mối mọt); lò sấy lá (sấy khô lá trong mùa ẩm thấp)
Giai đoạn 2: Xử lý vật liệu
*Vò lá – phơi lá – rẽ lá - là phẳng lá
- Công đoạn làm lá là công đoạn vất vả, khó khăn nhất bởi tất cả phải làm thủ công để đảm bảo lá không bị dập, rách nát Lá lụi được dùng chân vò trong cát khô có sỏi, đôi chân khéo léo đảo qua đảo lại những bó lá to nhìn tưởng như đơn giản nhưng lại tốn không biết bao nhiêu mồ hôi công sức của người làm lá Một bó là phải được vò liên tục trong vòng 30p cho đến khi lá mềm, đầu lá xoăn
lá, mình lá tẽ ra mới đạt được chuẩn
- Lá được phơi nắng trong làng, trong sân nhà hoặc dọc suốt bờ đê Phơi lá cũng phải cực kỳ cẩn thận Lúc lá tươi phải được chọn phơi tách riêng từng lá một Lá lụi từ màu xanh sau quá trình phơi dưới ánh nắng mặt trời sẽ chuyển thành màu trắng
Trang 5- Muốn làm nón lá phải phẳng vì vậy người thợ làm lá phải ủi lá cho phẳng Khi ủi phải dùng khăn nhúng nước hơ trên lửa cho nóng trước khi chà nhẹ lên lá cho thẳng
- Bứt vòng hay còn gọi là làm khung nón cũng là một công đoạn quan trọng Nón làng Chuông chỉ có 16 lớp vòng được làm bằng cật nứa vót nhỏ đều, khi nối bắt buộc phải tròn và không có vết
- Quay nón - Vòng nón sau khi hoàn thành sẽ được cắt gọn gàng và xếp theo 3 lớp bao gồm: 2 lớp lá lụi và một lớp mo nứa ở giữa cho cứng cáp
- Khâu nón (thắt nón) được coi là công đoạn rất khó đòi hỏi sự khéo léo của mỗi người bởi nếu không khéo lá sẽ bị rách Mũi thắt của người làng Chuông mau chứ không thưa như nón ở nơi khác, mười sáu vòng được bứt rất tròn, không vênh không méo
- Cạp nón hay còn gọi là nức nón là công đoạn hoàn tất việc khâu
- Hoàn thành những công đoạn cơ bản, người nghệ nhân sẽ dùng những sợi chỉ nhiều màu sắc như: đỏ, xanh, trắng…để trang trí và tiến hành lồng nhôi Công đoạn này sẽ có tác dụng để buộc quai nón sau này Chiếc nón thành phẩm sẽ được phết phía ngoài một lớp dầu thông mỏng để tránh thấm nước
Dẫn: Chúng ta cùng ghé qua chợ Chuông – đây là trung tâm mua bán trao đổi
nguyên liệu cũng như các loại nón lá
Chợ làng Chuông họp mỗi tháng 6 phiên vào ngày 4, 10, 14, 20, 24, 30 âm lịch hàng tháng Điểm đặc biệt là chợ này chỉ bán một thứ hàng duy nhất là nón
Ở đây người dân mọi miền đổ về tấp nập để mua nguyên liệu làm nón hay những chiếc nón Nón làm càng cầu kỳ thì càng được giá Một chiếc nón cho dân lao động được bán với giá khoảng 30.000 VND - 40.000 VND Chiếc nón được bán với giá cao nhất tại làng Chuông đạt mức 150.000 VND với nhiều họa tiết cầu
kỳ
4 Giá trị của nón lá làng Chuông
*Giá trị vật chất
Trang 6Trong đời sống thường nhật, nón lá trở thành người bạn đồng hành của mỗi người dân Việt:
- Nước Việt Nam vốn là một nước nóng ẩm mưa nhiều, vì vậy chiếc nón
lá được người nông dân sử dụng để che nắng, che mưa lúc cày cuốc trên cánh đồng Hoặc có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh những người mẹ, người chị đội nón dẻo chân từng phiên chợ, đi chùa,…;
- Những người lao động, những dì bán nước cùng ngồi tại gốc đa đầu làng, dùng chiếc nón quạt để làm dịu mát những ngày hè oi ả Chiếc nón cũng dùng để múc nước rửa mặt, múc nước uống tạm bên sông, chiếc nón của bà mẹ quê tạm dùng đựng những thứ mới mua ở chợ về
- Chiếc nón lá còn xuất hiện nơi thị thành đèn hoa đô hội: ngoài chiếc nón của thầy thông, thầy ký mắc tiền đội hờ cho có, còn chiếc nón của bác xích lô, người phu quét đường, người “cu li” bốc vác dùng để đội, để chắn gió mồi thuốc, để che mặt ngủ trưa hay chờ khách
=> Qua đây, chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng của con người Việt Nam hiền hòa, chăm chỉ với những nét đẹp trong lao động
*Giá trị tinh thần
Không chỉ để che nắng, che mưa, nón lá còn có ý nghĩa đặc biệt trong đời
sống tinh thần của người dân Việt Nam “Là biểu tượng văn hóa của người Việt”
Trong những đám cưới truyền thống, chiếc nón lá cũng là vật dụng mà mẹ chồng trao cho con dâu trước khi về nhà chồng chứa đựng biết bao tình cảm và
để cầu chúc cho cuộc sống vợ chồng trăm năm bền chặt Ở đây thấy được cả một
nền văn hóa truyền thống lâu bền của ông cha ta để lại
Hình ảnh nón lá luôn được gắn liền với hình ảnh người phụ nữ Việt Nam bên tà áo dài, áo tứ thân thướt tha, bình dị góp phần tô điểm thêm nét duyên dáng,
dịu dàng của người con gái;
Ngày nay, nón lá được xuất hiện nhiều trên các loại hình nghệ thuật như:
- Nón lá trở thành nguồn cảm hứng cho thơ ca, nhạc, họa: Chiếc nón lá có mặt trong các câu ca dao, sách vở thi ca, qua câu hò, tiếng hát của người bình dân
Trang 7để ngợi ca tình yêu trai gái và trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống vô cùng đẹp và lãng mạn của người Việt
Ví dụ: Câu ca dao:
"Nón nầy che nắng che mưa Nón nầy để đội cho vừa đôi ta"
hay
“Ra đường nghiêng nón cười cười Như hoa mới nở như người trong tranh”
- Trở thành điệu múa: Những màn múa nón duyên dáng trên sân khấu luôn khiến người xem không thể rời mắt Hay những chiếc nón quai thao trong những buổi biểu diễn hát quan họ (Bắc Ninh)
Nón lá còn trở thành một món quà lưu niệm độc đáo cho khách du lịch nhằm lưu giữ kỉ niệm khi đặt chân đến mảnh đất hiếu khách, nồng ấm tình người
và dồi dào bản sắc dân tộc;
Hơn thế nữa, nón lá như đại diện cho những phẩm chất cao quý của con người Việt, đưa hình ảnh người Việt rộng ra thế giới, giúp quảng bá văn hóa và trở thành niềm tự hào của con người Việt Nam Chiếc nón Việt Nam vì vậy là cái
gì kỳ diệu và thật sự trở thành một phần trong đời sống văn hóa của chúng ta
Ngày nay, chiếc nón lá đang dần thu hẹp vị trí và khả năng ứng dụng của
nó, thay vào đó là những loại nón mũ tiện dụng thời trang hơn du nhập từ nước ngoài Song, chúng ta không thể phủ nhận được những giá trị văn hóa, giá trị lịch
sử mà chiếc nón lá mang lại Đây là một vật dụng truyền thống cần được bảo tồn
và lưu giữ
5 Tính sáng tạo của làng Chuông
Người ta ví von những người làm nón lá làng Chuông là “những nghệ nhận của nghệ nhân” bởi sự tỉ mỉ, cầu kì và khéo léo từ các công đoạn làm nón đặc biệt
là những đường kim mũi chỉ và từng lớp lá và điểm riêng của nón làng Chuông
so với các loại nón nơi khác chính là ở 16 lớp vòng giúp nón có độ bền và chắc nhưng vẫn mềm mại
Trang 8Làng Chuông không chỉ dừng lại ở những chiếc nón lá truyền thống đan cho các bà, các mẹ đi chợ Mà sau này, làng còn phát triển đa dạng các loại nón
để đáp ứng nhu cầu thi trường và thị hiếu như: quai thao, nón chóp dứa, nón tơi, nón Lâm Sung, nón Thái Lan, nón Hàn Quốc Chính bởi sự “hiện đại hoá” nón
lá đã giúp Nón làng Chuông vinh dự được tham gia vào nhiều sự kiện lớn của đất nước như APEC, SEA Game và các hội chợ quốc tế trên thế giới
Sự sáng tạo được đến trực tiếp từ những người nghệ nhân với những trăn
trở muốn phát triển làng nghề, họ đã không ngừng tìm tòi những con đường phát triển mới, sáng tạo thêm các loại nón mới để làm mới đứa con tinh thần như:
Nghệ nhân Tạ Thu Hương
Nón lụa – Cốt làng Chuông, hồn Vạn Phúc: Bên trong vẫn là chiếc nón lá
làng Chuông bình dị, đoan trang nhưng bên ngoài lại được phủ thêm một lớp vải lụa yêu kiều, duyên dáng Lớp “áo” được nghệ nhân lựa chọn là dòng lụa nức tiếng gần xa – lụa Vạn Phúc Những tấm lụa được dệt bằng tơ tằm tự nhiên vừa mềm mượt, óng ả, lại đa dạng về màu sắc, hoa văn từ hình cúc, phượng, đào, mai đến các linh vật Sự kết hợp độc đáo ấy đã mang đến một diện mạo hoàn toàn mới cho chiếc nón làng Chuông
Nón sen: đúng như tên gọi của chúng, chúng được làm từ lá sen - một loài
cây biểu tượng cho văn hóa Việt Nam, đại diện cho vẻ đẹp của đồng quê, những chiếc nón này rất được người dân của chúng tôi ưu thích Chiếc lá sen vẫn giữ nguyên hình dáng đến từng đường gân, thớ lá, nhưng lại được phủ một cách khéo léo lên khung, tạo thành chiếc nón đội đầu Chiếc nón lá sen, dù là loại nón chóp thông thường hay nón ba tầm, đều được rất nhiều người ưa thích Ðây chính là một trong nhiều sáng tạo độc đáo của nghệ nhân Tạ Thu Hương, người con của làng Chuông
Nghệ nhân Phạm Trần Canh sinh năm 1931, được trao bằng nghệ nhân từ năm 2006, là một trong những nghệ nhân lớn tuổi nhất làng Ông là người giúp nón lá làng Chuông như được “hồi sinh”, ông phục chế được kỹ thuật làm mẫu nón cổ như: nón quai thao, nón Hồng Kông, nón Thái, nón chóp dứa, nón lá xà
Trang 9ghép sóng,… Đến nay, ông đã sáng tạo ra được 7 loại nón cổ, mỗi loại nón ông làm ra là sự mày mò dày công sưu tầm khơi dạy từ trong trí nhớ của ông với những gì trải qua trong đời Ông có hai chiếc nón khổng lồ được tham gia tại triển lãm hàng thủ công mỹ nghệ của cộng hòa Séc và Đức
Hay đến từ những sáng tạo của hai nghệ nhân Mai Thế Nguyên và Luyến Shell là những người con làng Chuông đã tạo ra chiếc ra chiếc đèn nghệ thuật từ nón lá với mong muốn đem lại tính ứng dụng cao cũng như đóng góp kinh tế mới cho vùng quê để duy trì truyền thống làm nón