Đề tài này nêu lên các tính chất cơ học của đất dính nhân tạo đã được nghiên cứu thông qua một loạt các thử nghiệm đất trong phòng thí nghiệm và phương pháp phần tử hữu hạn. Đất được nghiên cứu là đất pha sét được cố kết từ hỗn hợp bùn dưới áp lực cố kết thẳng đứng cuối cùng là 100 kPa. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1TÍNH CHẤT CƠ HỌC CỦA MỘT LOẠI ĐẤT DÍNH NHÂN TẠO
HOÀNG THỊ LỤA *
Mechanical properties of an artificial cohesive soil Abstract: Mechanical behaviours of clayey soils are always known as
problematic issues in geotechnical engineering In this paper, mechanical properties of an artificial cohesive soil were investigated through a series of laboratory soil tests and a finite element method The studied soil was a clayey soil consolidated from a slurry mixture under a final vertical consolidation pressure of 100 kPa A series of soil tests including oedometer tests, consolidated-undrained triaxial compression tests, unconfined compression tests, cone penetration tests, and T-bar tests were conducted, in order to obtain mechanical properties of the soil such as the strength parameters, compressibility indices, and permeability property; the results from different testing methods are also compared and discussed The soil parameters measured from the above-mentioned tests are then directly used for a soil constitutive model to simulate the soil element tests by a finite element method, employed Plaxis 3D The simulation results are compared with measurement ones to evaluate the applicability of the soil constitutive model to analyse and estimate other soil properties as well as soil behaviour under construction loads
Keywords: clayey soil; laboratory soil tests; undrained shear strength;
compression index; soft soil creep model; finite element method
Khi nghiên cứu, xem xét sử dụng một loại
đất trong l nh vực xây dựng, các tính chất cơ
học, vật lý của loại đất đó luôn là vấn đề tiên
quyết được quan tâm Đặc biệt hơn là với các
loại đất dính, theo thời gian, dưới tác dụng của
thay đổi độ ẩm, tải trọng, quá trình cố kết, quá
trình nén từ biến, đất dính có những diễn biến
phức tạp về cường độ chống cắt, tính chất nén
lún, và tính thấm nước (Lastiasih và Tantri
(2015), Pezowicz và Choma-Moryl (2016), Ya
Li (2018)) Rất nhiều nghiên cứu đã được thực
hiện để đánh giá tính chất cơ học của đất dính,
thường xem xét mức độ ảnh hưởng bởi các yếu
tố khác nhau đến một loại đất cụ thể nào đó
*Bộ môn Địa kỹ thuật, Tr ng Đ i học Thủy l i
DĐ: 0936260288
Email: hoangthilua@tlu.edu.vn
(Toyota et al (2001), Ya Li (2018), Yasodian et
al (2015)) Hiện nay, có nhiều phương pháp để đánh giá, dự báo các chỉ tiêu tính chất cơ học của đất, cùng một chỉ tiêu cũng có thể có nhiều phương pháp để xác định Ví dụ để xác định sức
kháng không thoát nước cu của đất, có thể sử dụng thí nghiệm cắt trực tiếp, thí nghiệm ba trục, thí nghiệm nén một trục nở hông tự do, thí nghiệm xuyên côn t nh, thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn, thí nghiệm cắt cánh m i phương pháp
có những lợi thế và nhược điểm riêng; mức độ chính xác của từng phương pháp cũng khác nhau Nói chung việc đánh giá đúng tính chất cơ học của đất dính rất quan trọng để khai thác, sử dụng đất và dự báo những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra với đất trong quá trình sử dụng đất sau này Trong bài báo này, tính chất cơ học của một loại đất dính nhân tạo sẽ được nghiêm cứu
Trang 2qua các thí nghiệm khác nhau và qua phương
pháp phần tử hữu hạn, sử dụng phần mềm
Plaxis 3D Mục đích ngoài việc xác định các chỉ
tiêu cường độ của đất còn để so sánh kết quả từ
các phương pháp thí nghiệm thông qua công
thức/ phương trình thực nghiệm và kết quả từ
các phương pháp cho giá trị tính trực tiếp cho
loại đất nghiên cứu; đánh giá khả năng mô
phỏng ứng xử của đất bằng các mô hình vật liệu
có sẵn trong chương trình phần tử hữu hạn
Plaxis, từ đó có thể đánh giá một phần độ tin
cậy của kết quả khi sử dụng mô hình đất để mô
phỏng các bài toán địa kỹ thuật khác như mái
dốc, hố đào, móng công trình
2 ĐẤT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đất nghi n cứu
Đất nghiên cứu là một loại đất dính nhân tạo,
được chế từ h n hợp của một loại bột sét thương
mại có tên là Kasaoka và một loại cát mịn
thương mại có tên là Silica (loại số 6) Đất được
chế trong một thùng hình trụ có đường kính
trong thùng là 420 mm và chiều cao hiệu quả là
420 mm Thùng chế bị mẫu có van đáy để nước
có thể thoát qua khi mở van
Tuần tự chuẩn bị đất được diễn ra như sau:
Trước hết, một lớp silica hạt thô (số 3) được đổ
và đầm chặt đến độ chặt tương đối Dr ≈ 82 % ở
đáy thùng để làm lớp thoát nước đáy Lớp này
coi như lớp cát chặt, được bão hòa và phủ giấy
thấm Sau đó bột sét Kasaoka và cát mịn silica
được trộn ở tỷ lệ khối lượng khô 1:1, trộn với
nước để được một h n hợp sệt với độ ẩm w gấp
1,3 lần độ ẩm giới hạn chảy LL H n hợp sệt
được đổ lên trên lớp thoát nước đáy đến đầy
thùng và được cố kết tự do dưới trọng lượng bản
thân trong 2 ngày Tiếp theo, giấy thấm được
đặt lên bề mặt lớp h n hợp sệt và một lớp silica
thô khác được đổ lên bề mặt để làm lớp thoát
nước mặt Sau đó, các tấm đệm gia tải, load-cell
đo áp lực (LC), máy gia tải (AC), đồng hồ đo
lún (DG) được lắp đặt để thực hiện cố kết h n
hợp và đo áp lực cố kết, đo độ lún cho từng cấp
áp lực Áp lực cố kết được tăng từng cấp đến
khi đạt cấp cuối 100 kPa Với m i cấp áp lực, thời gian cố kết được duy trì cho tới khi độ cố kết đạt 90% theo lý thuyết cố kết thấm một hướng của Terzaghi Riêng cấp cuối cùng, thời gian cố kết được duy trì thêm 10 ngày sau khi
độ cố kết đạt 90 % để đất đạt được độ cố kết cao hơn nữa Sau cùng, áp lực cố kết được giảm dần, đất chế bị được trải qua quá trình trương nở trong 10 ngày sau khi giải phóng hoàn toàn áp lực cố kết Hình 1 thể hiện sơ đồ lắp đặt thiết bị trong quá trình cố kết mẫu Hình 2 thể hiện mối quan hệ thời gian – lún ở (a) cấp tải cố kết cuối cùng (tăng từ 70 kPa đến 100 kPa) và (b) quá trình chờ mẫu trương nở Tổng số 7 thùng mẫu
đã được chuẩn bị lặp lại trong nghiên cứu Trước khi xác định các tính chất cơ học của đất như sức kháng cắt không thoát nước, góc ma sát trong, hệ số thấm, chỉ số nén, chỉ số nở, chỉ
số nén thứ cấp, một loạt các thí nghiệm được thực hiện để xác định tính chất vật lý của đất bao gồm trọng lượng riêng tự nhiên, độ ẩm tự nhiên, độ ẩm giới hạn Atterberg, khối lượng riêng hạt, hệ số r ng và cấp phối hạt Các kết quả thí nghiệm được tổng hợp trong bảng 1 Từ
độ ẩm giới hạn Atterberg (độ ẩm giới hạn chảy
LL và chỉ số dẻo PI = LL – PL), đất nghiên cứu
được phân loại (theo USCS) về đất sét có tính dẻo thấp (hình 3), đất quá cố kết dưới áp lực tiền cố kết là 100 kPa
Giấy thấm
Lớp thoát nước mặt (Silica số 6)
Lớp thoát nước đáy (Silica số 3) Van thoát nước
Hỗn hợp sét lỏng
420
10
360
50 mm
K50S50
(a) Mặt cắt ngang
Trang 3
Van thoát
nước
Tấm gia tải
LC
DG1
DG2
AC
(b) Sơ đồ lắp đặt thiết bị đo
Hình 1: Quá trình chuẩn bị đất thí nghiệm
Bảng 1: Tính chất vật lý của đất thí nghiệm
Khối lượng riêng hạt, s (Mg/m3
) 2,653 Khối lượng riêng bão hòaa
, sat (Mg /m3) 1,98
Độ ẩm giới hạn dẻo, PL (%) 13,6
Độ ẩm giới hạn chảy, LL (%) 33,9
Chỉ số dẻo, PI (%) 20,3
Độ ẩm tự nhiêna
, w (%) 26,2
Hệ số r nga, e 0,703
Ghi chú: aKết quả ở thời điểm sau khi hoàn
thành quá trình cố kết nền dưới áp lực 100 kPa
và quá trình dỡ tải
80
78
76
74
72
70
straight line 1.15 times of initial straight line
Initial
straight
line
t90
Elapsed time, t (hours)Thời gian
Đường
thẳng
ban
đầu
Đường thẳng ban đầu nhân hệ số 1.15
(a) Quá trình cố kết
0 1 2 3
Time, t (hours)Thời gian (hrs)
(b) Quá trình trương nở
Hình 2: Quan hệ lún theo th i gian trong quá trình chuẩn bị đất thí nghiệm
0 20 40 60 80 100
Đường kính hạt, d (mm)
(a) Đường cong cấp phối
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90 100 0
10 20 30 40 50 60
ML
or OL
MH or OH
CL or OL
C
or OH
CL-ML
E:
PI
0.9(
LL- 8)
A LIN E:
PI =
0.73(
LL-2
(LL) (%)
Độ ẩm giới hạn chảy,
Đất nghiên cứu
Ký hiệu: Loại đất: C: sét O: hữu cơ M: bụi mịn Trạng thái: L: dẻo thấp H: dẻo cao
(b) Phân loại đất theo USCS
Hình 3: Phân lo i đất thí nghiệm
2.2 Phương pháp thí nghiệm
a Sức kháng cắt không thoát nước
Để xác định sức kháng cắt không thoát nước của đất, ba loại thí nghiệm xuyên côn t nh CPT, thí nghiệm T-bar và thí nghiệm nén một trục hở hông tự do (UCT) được thực hiện
Thí nghiệm xuyên côn t nh: Thí nghiệm được thực hiện với bộ xuyên côn cỡ nhỏ Thiết bị
Trang 4gồm hai bộ phận chính là mũi xuyên (mũi côn)
và cần xuyên Mũi xuyên có dạng hình côn
(nón) với góc ở đỉnh là 600, đường kính đáy nón
là 20 mm và là bộ phận trực tiếp xuyên vào đất
Cần xuyên có dạng thanh hình trụ, đường kính
10 mm, chiều dài hiệu quả là 500 mm và gắn
một đầu với mũi côn Cần xuyên là bộ phận
truyền lực đến mũi côn để đưa mũi côn vào đất
Các cổng đo biến dạng được gắn trên cần xuyên
ở hai vị trí (i) ngay sát mũi côn để đo sức kháng
của đất tác dụng lên mũi côn và (ii) phía đầu cần
xuyên để đo toàn lực truyền tới cần xuyên để
đưa hệ cần và mũi xuyên vào đất Tất cả các thí
nghiệm xuyên côn được thực hiện với tốc độ
xuyên tương đối cao và ổn định ở 2 mm/s Với
m i thùng mẫu, 1-3 thí nghiệm CPT được thực
hiện Khoảng cách giữa các vị trí thí nghiệm
được bố trí cách nhau tối thiểu 10 lần đường
kính đáy côn để đảm bảo kết quả của thí nghiệm
thực hiện sau không bị ảnh hưởng bởi thí
nghiệm trước Sức kháng cắt không thoát nước
cu được tính toán từ kết quả đo sức kháng của
đất tác dụng lên mũi côn qcone tip, sử dụng
phương trình tính thực nghiệm (theo Low et al.,
2010) như sau:
(1) trong đó: vo là ứng suất tổng theo phương
thẳng đứng và là Nk hệ số sức kháng cho mũi
côn Hệ số này được lấy theo nghiên cứu của
Low et al (2010), nghiên cứu đã sử dụng hệ
thống dữ liệu chất lượng cao được thu thập rộng
rãi trên toàn thế giới dành cho sét quá cố kết nhẹ
ở cả dạng nguyên mẫu và mẫu bị xáo trộn Kết
quả nghiên cứu của Low et al (2010) đã cho
thấy giá trị Nk giao động trong phạm vi từ 10
đến 14 cho các mẫu nguyên trạng và giá trị
trung bình là 12 Trong bài báo này, giá trị trung
bình Nk = 12 sẽ được sử dụng để tính toán
Thí nghiệm T-bar: Thí nghiệm cũng được
thực hiện trên thiết bị là một bộ T-bar cỡ nhỏ
Thiết bị T-bar cũng gồm hai bộ phận chính là
cần xuyên và đầu xuyên Đầu xuyên T-bar là
một hình trụ nằm ngang có đường kính dT-bar
7mm và chiều dài LT-bar 35 mm Cần xuyên có hình dạng, chức năng tương tự cần xuyên CPT với đường kính 7mm Sức kháng của đất tác dụng lên đầu xuyên cũng được đo đạc qua cổng
đo biến dạng gắn trên cần xuyên ngay sát đầu xuyên Tốc độ xuyên 2 mm/s cũng được sử dụng trong tất cả thí nghiệm T-bar Với m i thùng mẫu, 2-3 thí nghiệm T-bar được thực
hiện Sức kháng cắt không thoát nước cu được tính toán từ kết quả đo sức kháng của đất tác
dụng lên đầu xuyên qcone tip, sử dụng phương trình tính thực nghiệm (theo Low et al., 2010) như sau:
(2)
trong đó: P là lực tác dụng lên toàn bộ đầu
xuyên (đo qua cổng đo biến dạng đã đề cập ở
trên), Nt là hệ số sức kháng cho đầu xuyên có
giá trị trung bình Nt = 10,5 và khoảng giao động
từ 8,5 đến 12,5 (theo nghiên cứu của Low et al
(2010), như trình bày ở phần hệ số Nk ở trên) cho các loại sét quá cố kết nguyên trạng
Thí nghiệm nén một trục nở hông tự do (UCT): Với m i thùng mẫu, ngay sau khi hoàn thành thí nghiệm CPTs và T-bars, các đất được lấy lên bằng các ống lấy mẫu với đường kính trong 100 mm Đất lấy lên được cắt gọt thành mẫu có đường kính 35 mm và chiều cao khoảng
75 - 90 mm Sau khi cắt gọt, mẫu được nén trên máy nén dọc trục, nở hông tự do Với m i thùng mẫu, 2-3 thí nghiệm UCT được thực hiện Sức
kháng cắt không thoát nước cu được dự đoán
trực tiếp từ lực nén dọc trục cực đỉnh qu trong quá trình nén mẫu:
cu = qu /2 (3)
b Góc ma sát trong và các đặc trưng cơ học khác của đất
Để xác định góc ma sát trong và các đặc trưng cơ học khác của đất như hệ số thấm, chỉ
số nén, chỉ số nở (nén lại), mô đun biến dạng, hệ
số poisson của đất nền, thí nghiệm nén ba trục
cố kết không thoát nước CU và thí nghiệm nén
cố kết Oedometer được thực hiện
Thí nghiệm nén ba trục cố kết không thoát
Trang 5nước CU: được thực hiện trên mẫu có kích
thước 50 mm x 100 mm Mẫu được cố kết dưới
áp lực buồng là 100 kPa trước khi tăng tải dọc
trục nén mẫu
Thí nghiệm nén cố kết Oedometer: được thực
hiện trên mẫu có đường kính 60 mm và chiều
cao ban đầu là 20 mm Mẫu được nén qua nhiều
cấp áp lực tăng dần, bao gồm cả quá trình giảm
tải và nén lại Ở cấp áp lực cuối cùng (v = 1250
kPa), mẫu đã được duy trì nén trong tổng cộng
hơn 200 ngày để quan sát lún thứ cấp và xác
định chỉ số nén thứ cấp
2.3 Phương pháp phần tử hữu hạn (FEM)
Để xem xét khả năng mô phỏng ứng xử của
đất thông qua các mô hình đất có sẵn trong một
số chương trình phần tử hữu hạn phổ biến, đồng
thời đánh giá độ tin cậy của kết quả khi sử dụng
mô hình đất đó để mô phỏng các bài toán địa kỹ
thuật khác, hai thí nghiệm nén ba trục CU và
nén cố kết oedometer sẽ được mô phỏng bằng
phương pháp phần tử hữu hạn, sử dụng chương
trình Plaxis 3D
25 mm
Hình 4: Kích th ớc mô hình, l ới phần tử
hữu h n và mặt gia tải trong mô phỏng
thí nghiệm nén ba tr c CU
Mô hình vật liệu: trong các mô hình vật liệu
sẵn có của Plaxis, một số mô hình như
"Cam-Clay", mô hình "Soft Soil", mô hình "Soft Soil
Creep (SSC)", mô hình "Hardening Soil" và mô
hình "Sekiguchi-Ohta" đều là những mô hình vật liệu nâng cao, có khả năng mô phỏng tính ép
co của đất sét thông thường Tuy nhiên, chỉ mô hình SSC mô phỏng được ứng xử theo thời gian cho sét quá cố kết Vì vậy trong bài báo này, mô hình SSC được lựa chọn Chi tiết về mô hình SSC được trình bày trong cuốn hướng dẫn sử dụng mô hình vật liệu của Plaxis (PLAXIS
2018, Material Models Manual) Một số đặc trưng cơ bản của mô hình SSC như sau:
- Độ cứng của đất phụ thuộc, thay đổi theo ứng suất
- Có sự phân biệt giữa các giai đoạn tăng tải lần đầu, giảm tải và tăng lại tải
- Xét đến nén/ biến dạng thứ cấp
- Xét ảnh hưởng của ứng suất tiền cố kết
- Ứng xử bền tuân theo tiêu chuẩn Mohr-Coulomb
Các thông số nhập vào cho mô hình đất SSC cũng như nguồn gốc các thông số được liệt kê ở bảng 2 Các kích thước mô hình, điều kiện thoát nước, tải trọng, tốc độ tăng tải, thời gian cố kết được lấy giống thí nghiệm trong phòng đã thực hiện, tuy nhiên, chỉ 1/4 mẫu thí nghiệm được mô phỏng để giảm thời gian tính toán, lợi dụng tính chất đối xứng của mẫu Hình 4 thể hiện lưới phần tử hữu hạn trong mô phỏng thí nghiệm CU
3 KẾT QUẢ VỀ CÁC TÍNH CHẤT CƠ HỌC CỦA ĐẤT NGHIÊN CỨU
3.1 Kết quả thí nghiệm
a Sức kháng c t không thoát n ớc c u
Kết quả sức kháng không thoát nước thu được từ thí nghiệm CPTs và T-bars và UCTs được tổng hợp trong hình 5
Như đã đề cập ở phần trước, sức kháng cắt cu được thu trực tiếp từ cường độ kháng nén dọc trục trong thí nghiệm UCTs theo công thức (3)
và tính toán theo công thức (1), (2) đề xuất bởi Low et al (2010) đối với thí nghiệm CPTs và T-bars Ba phương pháp thí nghiệm cho kết quả tương đối gần nhau Nếu sử dụng một đường trung bình đại diện cho các kết quả tính toán
trực tiếp để biểu diễn sự biến đổi của cu theo độ
Trang 6sâu thì cu có thể biểu diễn xấp xỉ theo phương
trình đường thẳng sau:
(4) Hình 5 cho thấy phương trình 4 cũng tương đối
phù hợp với sức kháng trung bình tính toán từ cả
hai phương pháp CPTs và T-bars, ngoại trừ
khoảng 50 mm đầu tiên (tính từ mặt nền) Cũng có
thể giải thích sự sai khác ở vùng đầu tiên là do giai
đoạn đầu mũi côn (CPTs) và đầu xuyên (T-bars)
chưa xuyên ngập hoàn toàn trong đất nên diện tích
tiếp xúc giữa mũi côn/ đầu xuyên chưa huy động
đầy đủ Thêm một yếu tố khác, khi độ sâu xuyên
còn nhỏ, đất có xu hướng trượt và đẩy trồi lên trên
bề mặt nên kết quả cu thu được giai đoạn này có
thể chưa tin cậy cao So sánh kết quả giữa CPTs
và T-bars, ban đầu, cu thu được từ CPTs cao hơn
so với thu từ T-bars Tuy nhiên càng xuống sâu thì
kết quả từ hai phương pháp càng giống nhau Cần
lưu ý rằng, các hệ số sức kháng Nk và Nt sử dụng
trong công thức tính toán cu là giá trị trung bình từ
kết quả nghiên cứu của Low và đồng nghiệp cho
hàng loạt các loại đất dính cố kết khác nhau rộng
rãi trên toàn thế giới Hệ số này có thể giao động/
điều chỉnh lên/ xuống như đã trình bày ở mục 2.2
Nhìn chung, đối với loại đất nghiên cứu thì cả
CPTs và T-bars đều đã cho kết quả tương đối phù
hợp với kết quả đo trực tiếp từ UCTs, thí nghiệm
CPTs/ T-bars nhanh và đơn giản hơn và cho được
biểu đồ phân phối cu liên tục theo độ sâu
300
250
200
150
100
50
0
UCTs CPTs Tbars
cu = (qu cone tip-
vo )/ Nk
Nk = 12
cu = qu T-bar/ Nt
Nt = 10.5
cu (kPa) = 10 kPa + +0.04 (kPa/mm)
x z (mm)
Sức kháng cắt không thoát nước, cu (kPa)
Hình 5: Biểu đồ phân bố sức kháng
không thoát n ớc cu theo độ sâu
b Góc ma sát trong và các đặc trưng cơ học khác của đất
Kết quả các đặc trưng cơ học khác của đất thu được từ thí nghiệm nén ba trục CU gồm góc ma sát trong của đất ở trạng thái cực đỉnh p' = 36,9
và trạng thái ổn định ' = 34,8, hệ số Poisson trong điều kiện không thoát nước s ≈ 0,5 Ngoài
ra, thí nghiệm còn cho kết quả đường cong quan
hệ biến dạng – độ lệch ứng suất chính cực đại, từ
đó có thể tính toán các giá trị về mô đun biến dạng của đất Các đặc trưng về khả năng ép co và tính thấm nước của đất thu được từ thí nghiệm oedometer trình bày trong bảng 2
Đường cong quan hệ thời gian - biến dạng thể tích trong giai đoạn cố kết mẫu và đường quan hệ giữa ứng suất chính trung bình - độ lệch ứng suất chính trong giai đoạn tăng tải dọc trục cắt mẫu trong thí nghiệm CU được thể hiện trong hình 6 Trong hình 6, các kết quả tính toán theo FEM cũng thể hiện để thuận tiện trong thảo luận và so sánh kết quả đo đạc với kết quả tính toán Tương tự, đường cong quan hệ lún theo thời gian đo đạc từ thí nghiệm oedometer được thể hiện trong hình 7 cùng với kết quả FEM
3.2 Kết quả tính toán theo FEM
Như đã trình bày ở mục 2.3, hai thí nghiệm nén
ba trục CU và oedometer sẽ được mô phỏng lại bằng phương pháp phần tử hữu hạn FEM, sử dụng chương trình phần mềm Plaxis 3D (bản 2018) Các thông số sử dụng cho mô hình đất "soft soil creep (SSC)" được liệt kê trong Bảng 2
Bảng 2: Các thông số đầu vào cho
mô hình đất SSC
Chỉ số nén Cc
0,291 (từ thí nghiệm oedometer)
Chỉ số nở Cs
0,055 (từ thí nghiệm oedometer) Chỉ số nén thứ cấp (creep
index)C
0,00125 (từ thí nghiệm oedometer)
Lực dính hiệu quả c'
0,005 N/mm2 / 5 kPa (dự đoán qua mô phỏng thí nghiệm CU)
Trang 7Thông số đất Giá trị
Góc ma sát trong ' 34,8
(từ thí nghiệm CU) Sức căng t 0 (đặt chế độ defaut)
Hệ số Poisson ur 0,17 (giả thiết)
Áp lực tiền cố kết POP 0,1 N/mm2 / 100 kPa
Hệ số r ng ban đầu e0 0,703
Hệ số thấm k
0,00038 mm/min (thí nghiệm oedometer)
Chỉ số thấm ck
0,425 (thí nghiệm oedometer) Trọng lượng riêng không
bão hòa unsat
0,000019 N/mm3
Trọng lượng riêng bão
hòa sat
0, 000019 7 N/mm3
Trọng lượng riên của
nước water
0,00001 N/mm3
Hình 6 thể hiện mối quan hệ biến dạng thể
tích theo thời gian của mẫu đất thí nghiệm trong
quá trình cố kết mẫu Kết quả tính toán và kết
quả thí nghiệm cùng được trình bày để so sánh
khả năng mô phỏng ứng xử của đất theo mô
hình SSC Có thể thấy từ hình 6, với hầu hết các
thông số nhập vào cho mô hình SSC lấy từ thí
nghiệm thì kết quả tính toán thể hiện rằng, giai
đoạn đầu m i cấp tăng áp lực cố kết, tốc độ biến
dạng thể tích (tốc độ thoát nước ra khỏi l r ng)
trong tính toán cao hơn kết quả đo đạc Ở cuối
giai đoạn cố kết của cấp áp lực cố kết đầu, độ
biến dạng thể tích mẫu từ cả hai phương pháp
khá giống nhau (khoảng 3,3 %) Ở cuối giai
đoạn cố kết của cấp áp lực sau, kết quả tính toán
(6,2%) trở lên nhỏ hơn kết quả đo đạc (7%)
Tuy có những sự khác nhau về giá trị, nhưng
tổng quan chung mô hình đất SSC đã mô phỏng
một cách tương đối tốt ứng xử của đất trong giai
đoạn cố kết mẫu
(a) Sự biến đổi áp lực nước l r ng (trái)
và biến dạng (phải) của mẫu
0 500 1000 1500 2000 2500 3000 0
2 4 6 8
Thời gian, t (phút)
Thí nghiệm FEM
(b) Quan hệ biến đổi thể tích mẫu – thời gian
Hình 6: Biến d ng thể tích mẫu trong giai đo n
cố kết - thí nghiệm n n ba tr c CU
Hình 7 thể hiện quan hệ ứng suất chính hiệu quả trung bình với độ lệch ứng suất chính trong giai đoạn cắt mẫu của thí nghiệm CU Kết quả tính toán đã cho kết quả tốt so với kết quả đo từ thí nghiệm trong giai đoạn đầu quá trình tăng tải
cắt mẫu Tại gần thời điểm mẫu bị phá hoại (q >
75 kPa), độ dốc của đường quan hệ tính toán có
xu hướng giảm trong khi ngược lại, độ dốc của đường quan hệ đo đạc có xu hướng tăng và tăng khá nhanh Tuy ở gần thời điểm phá hoại mẫu, kết quả mô phỏng có xu hướng ngược với kết quả thí nghiệm, nhưng cũng cần lưu ý thêm rằng, kết quả đo đạc thu được có thể cao hơn giá trị thực do ảnh hưởng (cản trở) của màng bọc cao su quanh mẫu trong thí nghiệm, đặc biệt ở giai đoạn mẫu biến dạng lớn
Trang 8Hình 8 thể hiện kết quả tính toán và đo đạc
cho thí nghiệm oedometer ở cấp tải cuối cùng
Với các giá trị chỉ số nén, nở và nén thứ cấp thu
được từ thí nghiệm, độ lún của mẫu trong các
giai đoạn lún cố kết, lún từ biến đều tương đối
hợp lý Tuy nhiên, có thể thấy từ kết quả, tốc độ
cố kết mô phỏng qua FEM cao hơn so với tốc
độ đo đạc thực tế Hiện tượng này tương tự như
kết quả thu được trong giai đoạn cố kết mẫu của
thí nghiệm CU (hình 6) Tốc độ thoát nước
thường liên quan đến hệ số thấm k và điều kiện
thoát nước Điều kiện thoát nước ở hai thí
nghiệm này đã được mô phỏng tương đương
trong thí nghiệm Như vậy nếu một hệ số thấm
nhỏ hơn hệ số thấm đo đạc được đưa vào cho
mô hình SSC thì có thể sẽ đạt được một kết quả
hợp lý hơn
0
25
50
75
100
125
1
M = 1.41
Thí nghiệm FEM
Ứng suất chính hiệu quả
trung bình, p (kPa)
Đường bao phá hoại
Hình 7: Quan hệ ứng suất chính hiệu quả
trung bình - độ lệch ứng suất chính trong
giai đo n c t mẫu - thí nghiệm n n ba tr c CU
Nhận xét chung từ kết quả mô phỏng hai thí
nghiệm trong phòng là mô hình vật liệu SSC với
các thông số đầu vào xác định trực tiếp từ các
thí nghiệm trong phòng đã mô phỏng tương đối
đúng ứng xử của đất, từ đó có thể nghiên cứu
các tính chất cơ học khác của đất như sự phân
bố ứng suất hiệu quả, áp lực nước l r ng theo không gian và thời gian, biến dạng cắt, biến dạng thể tích theo các phương trong trường hợp không có kết quả đo đạc hoặc kết quả đo đạc bị hạn chế
10-2 10-1 100 101 102 103 104 105 106 7.3
7.2 7.1 7.0 6.9 6.8 6.7 6.6
Thời gian t (min) [log t]
Thí nghiệm FEM
(a) Quan hệ độ lún và thời gian theo hàm log
0 100 200 300 400 500 600 700 7.2
7.1 7.0 6.9 6.8 6.7 6.6
Thời gian t (min) [ 𝑡]
Thí nghiệm FEM
(b) Quan hệ lún và thời gian theo hàm căn bậc hai
Hình 8: Đo đ c và tính toán quan hệ lún-th i gian ở cấp tải cuối trong thí nghiệm oedometer
4 KẾT LUẬN
Trong bài báo này, một số tính chất cơ học của một loại đất dính nhân tạo đã được nghiên cứu và thảo luận qua các thí nghiệm đất đơn giản thực hiện trong phòng và qua phương pháp phần tử hữu hạn, sử dụng Plaxis 3D Kết quả giữa các phương pháp được so sánh và thảo luận Một số nhận xét rút ra từ kết quả thí nghiệm và tính toán như sau:
Trang 9Cường độ kháng cắt không thoát nước của
đất nghiên cứu xác định từ thí nghiệm nén một
trục nở hông tự do UCTs tăng theo độ sâu và có
thể biểu diễn gần đúng bằng phương trình (4)
Cường độ kháng cắt xác định từ thí nghiệm
CPTs và T-bars thông qua phương trình thực
nghiệm và sử dụng giá trị trung bình hệ của số
sức kháng mũi côn/ đầu xuyên T-bar (từ nghiên
cứu của Low và đồng nghiệp) cho kết quả tương
đối gần nhau và gần với kết quả xác định trực
tiếp từ thí nghiệm UCTs
Các kết quả mô phỏng thí nghiệm nén ba trục
cố kết không thoát nước CU và oedometer trên
chương trình phần tử hữu hạn Plaxis 3D, sử
dụng mô hình đất "soft soil creep" và các thông
số đầu vào lấy trực tiếp từ kết quả các thí
nghiệm trong phòng cho kết quả tương đối hợp
lý so với kết quả đo đạc Từ đó, có thể sử dụng
kết quả mô phỏng để nghiên cứu một số ứng xử
cơ học khác của đất khi không có dữ liệu đo đạc
hoặc việc đo đạc khó khăn, đồng thời đánh giá
độ tin cậy của kết quả khi sử dụng mô hình đất
này để mô phỏng các ứng xử của đất nghiên cứu
trong các bài toán địa kỹ thuật khác
LỜI CẢM ƠN
Tác giả trân trọng cảm ơn Phòng thí nghiệm
Địa kỹ thuật, Viện Khoa học và Công nghệ -
Đại học Kanazawa Nhật Bản đã giúp đỡ trong
quá trình nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Lastiasih, Y., Tantri, P K S., 2015
Analysis of increasing shear strength of soil to
slope stability after consolidation settlement
completed with various method International
Conference of landslide and slope stability at
Bali, Indonesia
[2] Li, Y., 2018 Fundamental engineering characteristics of cohesive sediments in the Northern resion of south china sea In proceeding of IFCEE 2018 March 5-10,
/9780784481639.013 [3] Low, H.E., Lunne, T., Andersen, K.H., Sjursen, M.A., Li, X., Randolph, M.F., 2010 Estimation of intact and remoulded undrained shear strengths from penetration tests in soft
https://doi.org/10.1680/geot.9.P.017 [4] Pezowicz, P., Choma-Moryl, K., 2016
properties of selected cohesive soils from the Wielkopolskie Voivodeship southern part Studia geotechnica et mechanica 37(4), 37-46 https://doi.org/10.1515/sgem-2015-0043
[5] PLAXIS 3D 2018 - Material Models
support/manuals/plaxis-3d-manuals/
[6] Toyota, H., Sakai, N., and Nakamura, K., 2001 Mechanical properties of saturated cohesive soil with shear history under three dimensional stress conditions Soils and
https://doi.org/10.3208/sandf.41.6_97 [7] Toyota, H., Nakamura, K., Sakai, N., Sramoon, W., 2001 Mechanical properties of unsaturated cohesive soil in consideration of tensile stress Soils and foundations 43(2),
115-122 https://doi.org/10.1016/S0038-0806(20) 30806-4
[8] Yasodian, S E., Dutta, R K., Mathew, L., Anima, T M., and Seena, S B., 2012 Effect
of microorganism on engineering properties of cohesive soils Geomechanics and Engineering 4(2) https://doi.org/10.12989/gae.2012.4.2.135
Ng i phản biện: PGS,TS HOÀNG VIỆT HÙNG