Nhận thấy sự ảnh hưởng to lớn do đại dịch COVID19 tác động lên chuỗi cung ứng thực phẩm, chúng em lựa chọn phân tích đề tài “Ảnh hưởng của COVID19 đến chuỗi cung ứng thực phẩm Đông Nam Á”. Nhóm xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS Vũ Sĩ Tuấn trong suốt quá trình hoàn thành bài nghiên cứu. Với nguồn tri thức còn hạn hẹp, thời gian nghiên cứu chưa nhiều, nhóm chúng em có thể gặp nhiều sai sót. Chúng em mong sẽ được thầy góp ý để bài nghiên cứu hoàn thiện hơn.
Trang 1VIỆN KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
****
TIỂU LUẬN LOGISTICS VÀ VẬN TẢI QUỐC TẾ
ĐỂ TÀI:
“ẢNH HƯỞNG CỦA COVID-19 ĐẾN CHUỖI CUNG ỨNG
THỰC PHẨM TẠI KHU VỰC ĐÔNG NAM
Hà Nội, tháng 9/2021
Trang 2Biểu đồ 1: Tỷ lệ phần trăm khả năng tiếp cận đầu vào, phương tiện vận chuyển
và tìm người mua thủy sản (từ tháng 2-11/2020); ĐVT: % 10
Biểu đồ 2: Các vấn đề phân phối và tiếp thị khi áp dụng lệnh hạn chế di chuyển ở Malaysia 10
Biểu đồ 3: Doanh thu bán lẻ thực phẩm thông qua thương mại điện tử ở Đông Nam Á các năm 2015-2020-2025 11
DANH MỤC HÌNH VẼ Hình 1: Tác động của Covid-19 đối với người tiêu dùng của hệ thống thực phẩm 12
MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH COVID-19 VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG THỰC PHẨM 2
1.1 Tổng quan về dịch bệnh Covid-19 hiện nay 2
1.2 Tổng quan về chuỗi cung ứng thực phẩm 2
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA COVID-19 ĐẾN CHUỖI CUNG ỨNG THỰC PHẨM TẠI ĐÔNG NAM Á 5
2.1 Thực trạng chung của chuỗi cung ứng thực phẩm trên thế giới hiện nay 5
2.2 Ảnh hưởng của Covid-19 đến chuỗi cung ứng thực phẩm tại Đông Nam Á 7 2.3 Đánh giá thực trạng 12
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM DUY TRÌ CHUỖI CUNG ỨNG THỰC PHẨM TRƯỚC ẢNH HƯỞNG CỦA COVID-19 TẠI ĐÔNG NAM Á 14
3.1 Các giải pháp đã được áp dụng 14
3.2 Các giải pháp chung cho khu vực Đông Nam Á 15
3.3 Bài học cho Việt Nam 17
KẾT LUẬN 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Chuỗi cung ứng là một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu trong thế kỷXXI Chất lượng thực phẩm của nông sản nói chung và thực phẩm nói riêng luôn làmối quan tâm của toàn thế giới, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến không chỉ sức khỏecủa người tiêu dùng mà còn có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế, đặc biệt là kimngạch xuất nhập khẩu của mỗi quốc gia Hiện nay, cả thế giới đang chao đảo trước mộtđại dịch có sức tàn phá chưa từng có - đại dịch COVID-19 - bắt đầu từ năm 2019 vàđến nay vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại Do sự lây lan của biến chủng Delta 2021 màhầu hết các nước Châu Á, đặc biệt là các nước Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam)phải chịu những thiệt hại về y tế, sức khỏe và nền kinh tế đứt gãy nặng nề do giãn cách
xã hội Một trong những vấn đề lớn nhất đặt ra lúc này là việc giải quyết chuỗi cungứng thực phẩm để đảm bảo sinh hoạt và nhu cầu cơ bản của con người
Nhận thấy sự ảnh hưởng to lớn do đại dịch COVID-19 tác động lên chuỗi cungứng thực phẩm, chúng em lựa chọn phân tích đề tài “Ảnh hưởng của COVID-19 đếnchuỗi cung ứng thực phẩm Đông Nam Á” Nhóm xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình củaPGS.TS Vũ Sĩ Tuấn trong suốt quá trình hoàn thành bài nghiên cứu Với nguồn trithức còn hạn hẹp, thời gian nghiên cứu chưa nhiều, nhóm chúng em có thể gặp nhiềusai sót Chúng em mong sẽ được thầy góp ý để bài nghiên cứu hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH COVID-19 VÀ CƠ
SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHUỖI CUNG ỨNG THỰC PHẨM
1.1 Tổng quan về dịch bệnh Covid-19 hiện nay
1.1.1 Covid-19 là gì?
Covid-19 (Coronavirus Disease 2019) là một bệnh truyền nhiễm do CoV-2 gây hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng Trường hợp đầu tiên được biếtđến được xác định ở Vũ Hán, Trung Quốc, vào tháng 12 năm 2019 Căn bệnh này từ
SARS-đó lây lan trên toàn thế giới, dẫn đến đại dịch và để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng
Dựa theo dòng chảy kinh tế có thể chia quá trình từ lúc dịch bệnh bùng phát đếnnay thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: chính phủ áp dụng các chính sách khóa các hoạt động xã hội,
dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu
- Giai đoạn 2: các biện pháp tài khóa nhằm duy trì tăng trưởng kinh tế, các biện
pháp kiểm dịch và giãn cách xã hội
- Giai đoạn 3: chuyển sang phát triển, mua và phân phối vắc xin và các biện
pháp tài chính bổ sung để duy trì thu nhập hộ gia đình
1.1.2 Thực trạng dịch bệnh Covid-19 hiện nay
Theo số liệu của tổ chức y tế thế giới, tính đến 9:48 sáng ngày 30 tháng 8 năm
2021 theo giờ CEST, đã có 216.229.741 trường hợp ghi nhận nhiễm Covid-19 trên 221quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 4.496.681 trường hợp tử vong Tính đến ngày 24tháng 8 năm 2021, tổng số 4.953.887.422 liều vắc xin đã được tiêm Tại Đông Nam Á,
có hơn 41 triệu ca nhiễm và 643.250 ca tử vong
Covid-19 ảnh hưởng đến hầu hết các lĩnh vực từ vĩ mô như kinh tế, xã hội,chính trị, văn hóa cho đến các lĩnh vực đời sống con người như sức khỏe, tài chính,nghề nghiệp Có thể kể đến tăng trưởng GDP thế giới là -3,3% năm 2020, được dựđoán là tăng 6% năm 2021 (Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF), hay tỷ lệ thất nghiệp là6,6 % vào tháng 4 năm 2021 theo OECD
1.2 Tổng quan về chuỗi cung ứng thực phẩm
1.2.1 Khái niệm
a Khái niệm chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng là 1 mạng lưới (có thể lựa chọn) về phương tiện và phươngpháp để thực hiện các chức năng thu mua nguyên, phụ liệu… chuyển hóa chúng thànhsản phẩm trung gian và cuối cùng, rồi phân phối sản phẩm đó tới khách hàng
b Khái niệm chuỗi cung ứng thực phẩm
Trang 6Chuỗi cung ứng thực phẩm là một hệ thống bao gồm tổ chức, con người, thôngtin, hoạt động và các nguồn lực liên quan đến quá trình chuyển đổi thực phẩm từ trangtrại nuôi trồng cho đến bàn ăn của con người.
1.2.2 Đặc điểm
- Thực phẩm có yêu cầu cao về độ tươi mới và tính an toàn vệ sinh (ATVS), dễhỏng trong điều kiện tự nhiên, chu kỳ sống sản phẩm ngắn Do đó, các biện pháp kỹthuật và logistics duy trì số lượng, chất lượng tốn kém về chi phí và các nguồn lựckhác
- Các nhóm mặt hàng khác nhau có các đặc điểm sinh học, yêu cầu về ATVS vàkinh doanh khác nhau nên cần ứng dụng liên kết và cấu trúc chuỗi cung ứng khácnhau
- Sản xuất nông nghiệp có tính phân tán, quy mô nhỏ nên các thành viên đầuchuỗi thường là nhà sản xuất nhỏ, vốn ít, trình độ kinh doanh thấp, hạn chế tiếp cậnvới công nghệ hiện đại
- Nhu cầu tiêu dùng thực phẩm là quanh năm, có tính đều, quy mô thị trườnglớn nhưng lại rất dàn trải, các chuỗi cung ứng thực phẩm khó phủ kín các khu vực thịtrường
- Nhu cầu thị trường của các chuỗi cung ứng thực phẩm hoàn toàn phụ thuộcvào khả năng thanh toán và nhận thức của người tiêu dùng Nó cũng quyết định chấtlượng và giá bán thực phẩm đầu ra của chuỗi cung ứng
1.2.3 Cấu trúc
Một chuỗi cung ứng thực phẩm thưởng bao gồm 5 giai đoạn Đó là:
Giai đoạn 1: sản xuất Các nguyên liệu, thịt, rau củ quả, thực phẩm, đồ uống
được sản xuất và thu mua, bao gồm cả động vật và thực vật
Giai đoạn 2: chế biến Nguyên liệu được chế biến, sơ chế thành dạng ăn được.
Giai đoạn 3: phân phối Thực phẩm sẽ được vận chuyển, phân phối đến các
nhà phân phối bán lẻ/bán buôn Các nhà phân phối bán các mặt hàng, quản lýhàng tồn kho, giảm chi phí và thực hiện các công việc khác để tăng giá trị chomặt hàng thực phẩm
Giai đoạn 4: bán lẻ Đây là quá trình cung cấp các sản phẩm đến tay người tiêu
dùng Bao gồm tất cả các công việc từ nhập các mặt hàng được phân phối đếnbán chúng đến tay người tiêu dùng
Giai đoạn 5: tiêu thụ Người tiêu dùng mua từ nhà bán lẻ và tiêu thụ thực
phẩm
Trang 71.2.4 Phân loại
a Chuỗi cung ứng thực phẩm tươi sống và thực phẩm chế biến
Chuỗi thực phẩm tươi sống cung ứng các mặt hàng tươi sống như rau tươi, hoa,trái cây, thịt tươi, thủy hải sản tươi sống
Chuỗi thực phẩm chế biến cung ứng các nông sản đã qua chế biến, bị thay đổitrạng thái tự nhiên thành mặt hàng thực phẩm phù hợp với yêu cầu tiêu dùng như đônglạnh, đóng hộp, nướng, sấy khô và thanh trùng
b Chuỗi cung ứng thực phẩm tổng hợp và chuyên biệt
Chuỗi cung ứng thực phẩm tổng hợp có khả năng cùng lúc cung ứng nhiều loạimặt hàng thực phẩm, thường thuộc về các nhà bán lẻ tổng hợp và hỗn hợp
Chuỗi cung ứng thực phẩm chuyên biệt cung cấp một nhóm các mặt hàng thựcphẩm có yêu cầu đặc biệt trong cung ứng như rau hoa quả, thịt và thủy hải sản tươi
c Chuỗi thực phẩm ngắn và chuỗi thực phẩm dài
Chuỗi cung phẩm ngắn thường phổ biến ở các nước phát triển giúp cải tạo môitrường, tăng hiệu quả quản lý VSATTP và duy trì sức khỏe người tiêu dùng
Chuỗi thực phẩm dài có phạm vi vượt ra ngoài biên giới các nước để phục vụthị trường ở các khu vực và quốc gia khác nhau
Trang 8CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA COVID-19 ĐẾN CHUỖI CUNG ỨNG THỰC PHẨM TẠI ĐÔNG NAM Á
2.1 Thực trạng chung của chuỗi cung ứng thực phẩm trên thế giới hiện nay
Ngày nay, nhu cầu về thực phẩm của con người ngày càng đa dạng và gia tăngdẫn đến sự phát triển của chuỗi cung ứng thực phẩm Theo số liệu thống kê từ TheEconomist, ngành công nghiệp thực phẩm toàn cầu đóng góp đến 10% tổng sản phẩmquốc nội (GDP) của thế giới và khoảng 1,5 tỷ lao động làm việc trong lĩnh vực này.Nguồn cung thực phẩm toàn cầu đã tăng gần gấp ba lần kể từ năm 1970, với dân số đãtăng gấp đôi lên 7,7 tỷ người Xuất khẩu thực phẩm đã tăng gấp sáu lần trong vòng 30năm qua với 4/5 dân số sống một phần dựa vào nguồn cung thực phẩm được sản xuất
ở một quốc gia khác
Cuối năm 2019, sự xuất hiện của dịch bệnh Covid-19 đã gây ra những cú sốccho tất cả các phân đoạn của chuỗi cung ứng thực phẩm, đồng thời ảnh hưởng đến sảnxuất nông trại, chế biến thực phẩm, vận chuyển và hậu cần cũng như nhu cầu cuốicùng Những quy tắc về giãn cách xã hội tác động lớn đến các giai đoạn trong chuỗicung ứng thực phẩm của nhiều quốc gia
cơ sở chế biến thịt của Pháp Việc thiếu hụt lao động trầm trọng khiến cho Mỹ và châu
Âu cần hơn 1 triệu lao động nhập cư từ Mexico, Bắc Phi và Đông Âu để thu hoạchnông sản
2.1.2 Chế biến thực phẩm
Covid-19 đã làm gián đoạn các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Nhữngkhông gian hạn chế, đông người như các nhà máy đóng gói, cơ sở chế biến là môitrường lý tưởng để lây lan Covid-19 Các cụm Covid-19 đã được tìm thấy trong cácnhà máy chế biến thịt ở nhiều quốc gia khác nhau Nhiều nhà máy chế biến thịt đãngừng hoạt động hoặc buộc phải hoạt động với công suất giảm Tại Hoa Kỳ, lượnggiết mổ gia súc và thịt lợn đã giảm khoảng 40% trong tháng 4 so với cùng kỳ năm
2019 Chế biến thịt có vẻ như bị ảnh hưởng hơn các loại chế biến thực phẩm khác,một phần vì tính chất sử dụng nhiều lao động Trong khi đó, xử lý và chế biến ngũ cốc
Trang 9được tự động hóa cao và ít sử dụng lao động hơn, và không gặp phải những gián đoạnnhư lĩnh vực chế biến thịt.
2.1.3 Phân phối thực phẩm
Những tắc nghẽn trong vận chuyển và hậu cần đã làm gián đoạn sự di chuyểncủa sản phẩm dọc theo chuỗi cung ứng Công suất vận chuyển hàng không toàn cầuthấp hơn 26% so với cùng kỳ năm ngoái Sự gián đoạn này là do sự sụt giảm nghiêmtrọng của việc đi lại của hành khách, vốn chiếm phần lớn sức chở hàng hóa bằngđường hàng không Số lượng tàu container hiện thấp hơn 8% so với bình thường docác hạn chế của Covid-19 như hạn chế về thay đổi thuyền viên, sàng lọc bổ sung, kiểmdịch bắt buộc và giảm nhu cầu Vận tải đường bộ trong tháng 4 thấp hơn khoảng 20%
so với bình thường ở Canada và Hoa Kỳ Ở châu Âu, lưu lượng xe tải ban đầu giảmhơn 50% ở Tây Ban Nha, 46% ở Pháp và 37% ở Ý, dù sau đó đã phục hồi
2.1.4 Bán lẻ thực phẩm
Covid-19 đã dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong nhu cầu của người tiêu dùng.Thay vì thường xuyên ra ngoài mua đồ tươi sống thì người tiêu dùng có nhu cầu tíchtrữ lương thực nhiều hơn dẫn đến nhu cầu bán lẻ thực phẩm tăng vọt Doanh số bánthực phẩm đông lạnh và đóng gói nói riêng đã tăng đáng kể: đỉnh điểm là vào nửa cuốitháng 3/2020, doanh thu hàng tuần của thực phẩm đông lạnh cao hơn 63% so với nămtrước ở Pháp, trong khi ở Đức là 56% Nhu cầu tương tự cũng tăng vọt ở các quốc giakhác Sau đợt tăng đột biến ban đầu này, nhu cầu bán lẻ đối với thực phẩm tươi sống,đông lạnh hoặc đóng gói vẫn cao hơn bình thường khoảng 15-20%
2.1.5 Tiêu thụ thực phẩm
Các biện pháp giãn cách xã hội cũng đang cản trở khả năng tiếp cận của ngườitiêu dùng với các nguồn thực phẩm, đặc biệt là ở các quốc gia bị ảnh hưởng nặng nềbởi đại dịch Số người phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực nghiêm trọng trênthế giới có thể tăng lên từ 1,7% lên 3,4% Khi các biện pháp khóa cửa và các giánđoạn khác liên quan đến Covid-19 dẫn đến suy thoái kinh tế toàn cầu, hàng triệu ngườiđang mất sinh kế hoặc giảm thu nhập nghiêm trọng Vì vậy, mạng lưới an toàn xã hội
và các chương trình hỗ trợ lương thực là rất cần thiết để tránh gia tăng nạn đói và mất
an ninh lương thực
Kết luận:
Mặc dù đã có những căng thẳng và vấn đề, nhưng nhìn chung, các chuỗi cungứng thực phẩm ở các nước phát triển đã chứng tỏ sự mạnh mẽ và khả năng phục hồiđáng kể khi đối mặt với Covid-19 Các kệ hàng tạp hóa đã được bổ sung theo thờigian, do người tiêu dùng giảm khối lượng mua thực phẩm sau khi dự trữ ban đầu vàkhi các chuỗi cung ứng phản ứng với sự gia tăng đặc biệt của nhu cầu Các tác nhân
Trang 10khác nhau trong chuỗi cung ứng thực phẩm vẫn giữ các nguồn dự trữ an toàn đã đượcgiảm xuống để đáp ứng nhu cầu tăng đột biến Ở cấp độ toàn cầu, dự trữ ngũ cốc cũnglớn hơn đáng kể so với trước cuộc khủng hoảng giá lương thực 2007-2008
2.2 Ảnh hưởng của Covid-19 đến chuỗi cung ứng thực phẩm tại Đông Nam Á 2.2.1 Ảnh hưởng của Covid-19 đến sản xuất thực phẩm tại Đông Nam Á
Nguồn cung:
Covid-19 gây ra nhiều vấn đề trong việc tìm kiếm đầu vào sản xuất Tiếp cậncác đầu vào của nông trại - chẳng hạn như hạt giống, phân bón và các sản phẩm bảo vệthực vật - trở nên khó khăn Tại Philippines, ngư dân ở Marawi báo cáo rằng khó cóđược lưới đánh cá và các vật dụng đánh bắt khác trong khi các nông hộ ở Basilankhông thể mua phân bón do các cửa hàng cung cấp chúng đã đóng cửa
Tại Myanmar, những người chăn nuôi gia súc, gia cầm gặp khó khăn khi muathức ăn chăn nuôi trong thời gian lockdown Các nhà chăn nuôi gia cầm thương mạicũng phải đối mặt với nguồn cung gà con từ Trung Quốc bị gián đoạn lớn
Người lao động:
Các biện pháp về giãn cách của chính phủ đã làm giảm lao động nhập cư trongngành công nghiệp thực phẩm, từ đó làm gián đoạn quá trình sản xuất thực phẩm ởĐông Nam Á đặc biệt khi người lao động nhập cư có đóng góp đáng kể vào nền kinh
tế của các quốc gia Đông Nam Á Phần lớn nhân lực tại các trang trại chăn nuôi giasúc ở Singapore đến từ nước láng giềng Malaysia và khi Malaysia đóng cửa biên giới
để hạn chế sự lây lan của COVID-19, những công nhân này không thể qua biên giới đểlàm việc Điều đó làm giảm khoảng 30% công suất hoạt động tại các trang trại này
Trước tình hình dịch bệnh, nông dân không thể đến trang trại, nhà máy sản xuất
để làm việc hoặc nhà máy phải giới hạn số người làm việc Điều này ảnh hưởng lớnđến việc trồng các loại cây lương thực và các hoạt động sản xuất thâm dụng lao động
Trang 11Đất nước
Sản lượng nông nghiêp (Triệu tấn)
Năng suất lao động (Tấn/người)
Trước bối cảnh Covid 19
Ước tính
số người lao động nông nghiệp (triệu người)
Sản lượng nông nghiệp ước tính (triệu tấn)
% thay đổi sản lượng nông nghiệp do giảm lao động nông nghiệp
Lượng sản lượng nông nghiệp giảm (triệu tấn)
Brunei 0.16 15.793 0.01 0.156 -1.40% -0.002Campuchia 4.88 1.580 2.98 4.705 -3.63% -0.177Indonesia 0.05 0.001 38.05 0.045 -3.28% -0.002Lào 12.30 5.211 2.35 12.230 -0.56% -0.069Malaysia 132.73 80.932 1.60 129.274 -2.60% -3.454Myanmar 64.47 5.302 11.90 63.096 -2.13% -1.373Philippines 99.98 9.379 10.34 97.011 -2.97% -2.972Singapore 0.18 6.163 0.0296 0.182 -1.40% -0.003Thái Lan 112.53 9.002 12.16 109.442 -2.74% -3.084Đông Timor 0.38 1.595 0.24 0.377 -1.40% -0.005Việt Nam 120.67 5.492 21.13 116.056 -3.82% -4.614Đông Nam Á 548.33 5.272 100.77 531.295 -3.11% -17.034
Bảng 1: Ước tính giảm sản lượng nông nghiệp do giảm lực lượng lao động nông
nghiệp ở Đông Nam Á năm 2020
Nguồn: ageconsearch.umn.edu
Trong số các nước bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi sự suy giảm nguồn cung laođộng nông nghiệp là Việt Nam, Campuchia và Indonesia, với mức giảm ước tính vềsản lượng nông nghiệp lần lượt là 3,82%, 3,63% và 3,28%
2.2.2 Ảnh hưởng của Covid-19 đến chế biến thực phẩm tại Đông Nam Á
Các cơ sở chế biến thực phẩm là nơi mà nhiều ổ dịch bùng phát do công nhânlàm việc bên cạnh nhau với thời gian làm việc dài Tình hình lực lượng lao động giảm
và việc áp dụng biện pháp chống lây nhiễm đã khiến quá trình chế biến bị tạm ngừng,đình trệ Cuối tháng 5/2021, Charoen Pokphand Foods Pcl, nhà sản xuất thịt lớn nhấtThái Lan phải đóng cửa nhà máy ở tỉnh Saraburi trong 5 ngày do dịch bùng phát
Qua bảng dưới từ Mill Survey, ta thấy 19% các nhà máy xát gạo đóng cửa trong
ít nhất 1 tuần, 46% giảm hoạt động Các nhà máy xát gạo gặp khó khăn trong việc vận