1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Phát triển mô hình hàm độ thấm phụ thuộc áp suất vỉa

5 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 903,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này sẽ tập trung xây dựng mô hình bán cơ học để nghiên cứu ảnh hưởng của độ thấm phụ thuộc áp suất (Permeability Compliance-PC) đến mối quan hệ hiệu suất dòng vào của các vỉa không thông thường, đặc biệt là sự hình thành đá phiến sét. Các tác giả đã phát triển hai mô hình dựa trên phương trình của Yilmaz và phương trình của Raghavan và Chin. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH HÀM ĐỘ THẤM

PHỤ THUỘC ÁP SUẤT VỈA

LƯƠNG Ả L N * NGUYỄN T NG QUÂN

Development of pressure-dependent permeability model Abstract: This paper develops a pressure-dependent permeability model

for unconventional reservoirs, especially shale formation, from that relevant factors such as pressure drawdown are considered to find the optimal value of pressure drawdown ensuring a normal and efficient production process, and we simulate permeability distribution in the reservoir simultaneously Therefore, this topic will focus on developing a semi-mechanical model to study the effect of pressure-dependent permeability (Permeability Compliance-PC) on the inflow performance relationship of unconventional reservoirs, especially shale formation The authors developed two models based on the equation of Yilmaz and the equation of Raghavan and Chin The results show that at the optimum PC values, there exists a pressure drawdown at which the maximum flow rate

is present

Keywords: Permeability compliance, pressure drawdown, inflow

performance relationship

1 G Ớ T ỆU *

Ngày nay với nguồn tài nguyên dầu khí

thông thường (chủ yếu là dầu) không còn dồi

dào nữa thì trọng tâm của ngành công nghiệp đã

chuyển sang các nguồn tài nguyên phi truyền

thống, như khí than metan (coal bed methane),

đá phiến và vỉa chặt sít có độ thấm thấp Những

kết quả trong phòng thí nghiệm dưới những điều

kiện được điều chỉnh đã chỉ ra tính chất của đá

phụ thuộc ứng suất thể hiện rất rõ ở những vỉa

chặt sít

Áp suất suy giảm là một hiện tượng tự nhiên

trong vỉa chứa một khi quá trình khai thác bắt

đầu Một trong những thông số quan trọng trong

việc xác định tiềm năng khai thác của giếng là

độ thấm của đá vỉa Các kỹ sư trong ngành công

nghiệp dầu khí đôi khi không xem xét đến độ

*

Trường Đại học Dầu khí Việt Nam

762 Cách mạng tháng tám, P Long Toàn, Tp Bà Rịa,

tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Email: linhlh@pvu.edu.vn

thấm phụ thuộc áp suất trong các phép tính toán bởi vì thiếu dữ liệu trong thí nghiệm để xác định mức độ phụ thuộc của độ thấm vào áp suất Khi tốc độ khai thác suy giảm, các phương pháp khai thác nhân tạo thường được triển khai vào giếng để duy trì sản xuất trước khi các mô phỏng vỉa đắt đỏ khác được xem xét như công nghệ thu hồi dầu tăng cường Nguyên tắc chính của bất kỳ phương pháp khai thác nhân tạo là sử dụng nguồn năng lượng bên ngoài (nhân tạo) đưa vào giếng để giảm áp suất đáy giếng hoặc

để tăng chênh áp Sự chênh áp cao này có thể làm cho thành hệ bị nén dẫn đến giảm độ thấm

Do đó, việc tìm ra một chênh áp tối ưu cho một

hệ thống khai thác đối với một vỉa cụ thể là rất quan trọng để tối đa hóa sản lượng khai thác hoặc hệ số thu hồi

Phương pháp thông thường để mô hình hóa đặc tính dòng chảy của vỉa trong các giếng thẳng đứng và giếng ngang giả định tính thấm của vỉa không đổi trong suốt vòng đời của vỉa

Trang 2

(Phương trình cân bằng vật chất quan tâm đến

khả năng nén của thành hệ cũng như chất lưu

trong giếng với sự suy giảm của áp suất Độ nén

của thành hệ thay đổi khi độ rỗng và độ thấm

thay đổi Hơn thế nữa, khi độ nén của chất lưu

thay đổi tức là chất lưu giãn nở, độ bão hòa chất

lỏng thay đổi, do đó độ thấm tương đối thay

đổi) Tuy nhiên trong quá trình khai thác, đất đá

thành hệ giãn nở dẫn đến sự thay đổi tính thấm

của vỉa Mục tiêu chính của nghiên cứu này là

phát triển một mô hình bán cơ học để nghiên

cứu ảnh hưởng của thông số độ thấm phụ thuộc

áp suất (Permeability Compliance-PC) trên

đường đặc tính dòng vào của các vỉa phi truyền

thống, đặc biệt là vỉa phiến sét

2 P ƯƠNG P P

Sự phụ thuộc của độ thấm vào áp suất lỗ

rỗng tạo nên sự không tuyến tính của phương

trình dòng chảy trong vỉa Để nghiên cứu dòng

chất lưu đi qua môi trường lỗ rỗng phụ thuộc

vào ứng suất, một thông số mới – module thấm

“γ” được xác định bởi Nur và cộng sự [1]

(1)

Trong đó, là PC (psi-1), k là độ thấm

(mD) Thông số này đóng một vai trò quan

trọng khi xét đến môi trường lỗ rỗng có độ

thấm bị ảnh hưởng khi thay đổi ứng suất hiệu

dụng Độ thấm thay đổi theo hàm mũ với áp

suất lỗ rỗng như sau:

(2)

Trong đó, Pi và Plà áp suất vỉa ban đầu và

áp suất đáy giếng Các thí nghiệm của Nur và

cộng sự cho thấy độ lớn của PC tương đương

với độ nén trong vỉa, chỉ ra sự quan trọng của

thông số PC trong suốt quá trình khai thác hay

bơm ép Ảnh hưởng của hệ số độ thấm phụ

thuộc vào áp suất có thể rất quan trọng đối với

việc bơm ép chất lưu và khai thác từ vỉa Ví

dụ, chênh áp quá mức có thể gây ra bít tắc

dòng gần giếng Ngoài ra, ước tính khả năng

lưu trữ của các vỉa có thể được điều chỉnh rất

nhiều khi γ lớn Gradient áp suất gần giếng lớn tạo ra trong quá trình khai thác bởi γ lớn

có thể gây ra hiện tượng sinh cát và sụp lở thành giếng do tốc độ khai thác quá mức Raghavan và Chin (2004) [2] đưa ra sự phụ thuộc của độ thấm vào áp suất như sau:

(3)

Với m là biến thể hiện sự suy giảm độ thấm

Ngoài ra, Kozeny (1927) [3], Darling (2005) [4], Kotyakhove (1956) [5] , Willie và Rose (1950) [6], Timur (1968) [7] cũng đã phát triển hàm độ thấm cho cho các loại đá khác nhau Đối với đá phiến sét, giá trị γ nằm trong khoảng

từ 0.83E-4psi-1

đến 6.83E-4psi-1 [8], [9]

Trong nghiên cứu này nhóm tác giả xét đến dòng chảy một chiều tuyến tính ổn định qua một khối thể tích nhất định của chất lưu không nén được Phương trình liên tục có thể được viết như sau:

Với Q là lưu lượng chất lưu qua khối thể tích nhất định

Sử dụng phương trình Darcy để mô tả mối quan hệ giữa lưu lượng và sụt áp do ma sát cho dòng chảy của chất lưu Newton không nén được qua một khối thể tích nhất định, được viết lại như sau:

Trong đó là độ thấm, mD; là độ nhớt, cp

là gradient áp suất do ma sát, psi/ft

Kết hợp giải 2 cụm phương trình (2), (4), (5) và (3), (4), (5) áp dụng 2 điều kiện biên: tại thành giếng (x = rw), áp suất bằng áp suất đáy giếng (P = Pwf); tại biên ngoài của vỉa (x =

re), áp suất bằng áp suất vỉa ((P = Pe), nhóm tác giả thu được phương trình phân bố áp suất theo hướng x trong vỉa như công thức (6), (7)

Tại các giá trị khác nhau của và m, phương

trình dự báo các sự phân bố áp suất khác nhau trong vỉa

Trang 3

Phương trình Joshi (1988) [10] được sử dụng để tính toán đặc tính dòng vào cho giếng ngang được thể hiện ở công thức (6)

Trong đó:

, ft

: độ thấm ngang, mD

: độ thấm dọc, mD

: bán kính tháo lưu (radius of drainage

area), ft

: chiều dài của giếng ngang,

, ft Kết quả từ phương trình (6) và (8) sẽ được

xác thực bằng cách sử dụng các kết quả mô

phỏng từ một phần mềm thương mại Phần mềm

tính toán dòng vào của vỉa theo công thức:

Trong đó:

là độ linh động của dầu

: áp suất ở block thứ j, psi

PI: là chỉ số khai thác (Productivity Index),

STB/day/psi

3 K T QUẢ VÀ T ẢO LUẬN

Để biểu diễn sự thay đổi của độ thấm theo

sự thay đổi của áp suất, ta sử dụng Excel để

tính toán Để dự báo sự phân bố áp suất trong

vỉa, các thông số như áp suất vỉa (5000psi), áp

suất đáy giếng (3000psi), bán kính vỉa (10000ft) và bán kính giếng (0.25ft) được sử dụng Các thông số để tính toán đường đặc tính dòng vào cũng như mô phỏng trên phần mềm thương mại được trình bày trong các bảng dưới đây Ngoài ra còn có các thông số

độ bão hòa và độ thấm tương đối dầu- nước cũng được sử dụng trong mô phỏng trên phần mềm thương mại

ảng 1 Thông số đầu vào để dự báo sự ph n

bố áp suất trong vỉa và hiệu chỉnh đường PR

Chiều sâu thực (MD) (ft) 14000 Chiều sâu thẳng đứng (TVD) (ft) 9500 Đường kính Tubing (ft) 0,25

Độ thấm ngang, Kh (mD) 1

Hệ số thể tích thành hệ 1,1

Áp suất đầu giếng (psi) 300 psi

Trang 4

ảng 2 Thông số đầu vào cho mô phỏng

trên phần mềm thương mại

Áp suất vỉa ban đầu, Pe (psi) 5000

Áp suất đáy giếng, Pwf (psi) 3000

Bán kính vỉa, re (ft) 10000

Bán kính giếng, rw (ft) 0,25

Chiều sâu thẳng đứng (TVD) (ft) 9500

Chiều dài đoạn giếng ngang (ft) 4500

Chiều dày của vỉa (ft) 1,4 hoặc100

Độ rỗng của thành hệ (%) 10

Độ bão hòa dầu ban đầu (%) 90

Độ bão hòa nước ban đầu (%) 10

Tổng số ô lưới trong block 2323

Các kết quả được minh họa trong hình 1 và

hình 2 mô tả mối quan hệ giữa độ chênh áp và

độ thấm tính toán theo Yilmaz, Raghavan và

Chin Ở giai đoạn ban đầu của vỉa, độ thấm tính

toán giống như độ thấm ban đầu, ki = 1 mD cho

các giá trị khác nhau của và m Khi chênh áp

tăng, độ thấm tính toán giảm theo từng giá trị cụ

thể của PC Mặc dù chênh áp là giống nhau cho

tất cả các giá trị của PC, nhưng sự phân bố áp

suất trong vỉa thay đổi đáng kể do sự thay đổi

của giá trị PC (hình 3, hình 4) Kết quả trong

hình 3 cho thấy rằng có sự sụt áp diễn ra nhanh

gần thành giếng và áp suất khá ổn định khi cách

xa thành giếng, điều này không được thể hiện rõ

như trên hình 4

H nh 1 Sự thay đổi độ thấm theo chênh áp

ΔP (xét theo hàm phụ thuộc Yilmaz)

H nh 2 Sự thay đổi độ thấm theo chênh áp ΔP (xét theo hàm phụ thuộc Raghavan)

H nh 3 Sự phân bố áp suất trong vỉa theo PC (xét theo hàm phụ thuộc Yilmaz)

H nh 4 Sự phân bố áp suất trong vỉa theo m (xét theo hàm phụ thuộc Raghavan)

Hình 5 So sánh sự phân bố áp suất giữa kết quả

từ phương tr nh (6) và phần mềm thương mại

với PC = 0.001

Trang 5

Trên hình 5 so sánh sự phân bố áp suất giữa

kết quả trên Excel (áp dụng phương trình 6) và

phần mềm thương mại Có sự khác biệt giữa hai

phương pháp và sự chênh lệch kết quả được quan

sát là khoảng 8% Ở hình 6 mô tả dữ liệu về lưu

lượng so với chênh áp Với giá trị PC ngày càng

tăng, đặc tính dòng vào sẽ khác với đường đặc

tính của Joshi, và chênh áp tăng làm cho lưu

lượng giảm Vậy có thể nhận thấy có mối tương

quan tối ưu mô tả lưu lượng tối đa ở các giá trị

khác nhau của chênh áp và PC (hình 7)

H nh 6 Mối quan hệ giữa lưu lượng và chênh

áp thông qua mô h nh Joshi hiệu chỉnh

Hình 7 Mối quan hệ giữa PC và chênh áp tối

ưu tại áp suất vỉa khác nhau

4 CONCLUSIONS

Trên cơ sở tính toán, phát triển mô hình hàm

độ thấm phụ thuộc áp suất vỉa, đồng thời so

sánh kết quả với phần mềm thương mại có thể

rút ra một vài kết luận sau: (1) Phương trình 6

đáng tin cậy hơn phương trình 7 trong việc xác

định phân bố áp suất trong vỉa có độ thấm phụ

thuộc áp suất; (2) Khi PC= 0.0003 psi-1 hoặc cao

hơn, có một giá trị Pwf tối ưu mà tại đó lưu

lượng đạt giá trị lớn nhất; (3) Khi PC = 0.0003

psi-1 hoặc cao hơn, tồn tại một giá trị chênh áp

mà tại đó lưu lượng là lớn nhất; (4) Cần chú trọng đến ảnh hưởng của áp suất đến sự thay đổi của độ thấm trong các vỉa phi truyền thống để

có cái nhìn chính xác cũng như dự báo đúng về khả năng ước tính thu hồi dầu cuối cùng

TÀ L ỆU T AM K ẢO

1 Nur A., and Yilmaz, O.: Pore pressure in fronts in fractured rock systems, Dept of Geophysics, Stanford U., Stanford, CA,1985

2 Raghavan R., Chin L Y.: Productivity Changes in Reservoirs With Stress-Dependent Permeability, SPE Reservoir Evaluation &

Engineering, Vols SPE-88870-PA, 2004

3 Kozeny J., "U¨ ber kapillare Leitung des Wassers im Boden (Aufstieg Versikerung und Anwendung auf die Bemasserung)," Sitzungsber

Akad., Wiss, Wein, Math Naturwiss , vol 136,

p 271–306, 1927

4 Darling, T.: Well Logging and Formation Evaluation, Gulf Profess Publishers/Elsevier Inc., Amsterdam, Boston, Heidelberg, London,

NY, Oxford, Paris, San Diego, San Francisco, Singapore, Sydney, Tokyo, 2005

5 Kotyakhov FI.: Approximate method of determining petroleum reserves in fractured rocks, Neftyanoe Khozyaystvo, vol 4, pp

40-46, 1956

6 Wyllie MRJ, Rose WD.: Some theoretical considerations related to the quantitative evaluation of the physical characteristics of reservoir rock from electric log data," Trans

AIME, vol 189, pp 105-118, 1950

7 Timur A.,: An investigation of permeability, porosity and residual water saturation relation for sandstone reservoirs, The

Log Analyst, vol 9, no 4, pp 8-17, 1969

8 Yasser M., Metwally M., and Sondergeld Carl H.: Measuring low permeabilities of gas-sands and shales using a pressure transmission technique, International Journal of Rock

Mechanics and Mining Sciences, vol 48, pp

1135-1144, 2011

9 Jyotadiya S.: Steady state permeability measurements in shales, Thesis Master of science, University of Oklahoma, 2018

10 Joshi S.: Augmentation of Well Productivity with Slant and Horizontal Wells, Journal of Petroleum Technology, Vols

729-739, June 1988

Người phản biện: TS PHAN TỬ CƠ

Ngày đăng: 27/09/2021, 15:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w