1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu giải pháp xây dựng đường vào cầu bằng vật liệu nhẹ geofoam trên đất yếu

8 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 909,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết phân tích và thiết kế cầu tiếp cận kè bằng cách sử dụng EPS Geofoam, được áp dụng trên nền đất yếu mà không cần phải xử lý nền đất yếu bên dưới. Kết quả cho thấy: Các tấm đệm EPS Geofoams sản xuất tại Việt Nam với tỷ trọng 20 ± 1 kg/m3 có thể ứng dụng để thi công cầu tiếp cận kè trên nền đất yếu; Nền đường trong các giai đoạn xây dựng và sử dụng đảm bảo yêu cầu về khả năng chịu lực theo tiêu chuẩn Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐƯỜNG VÀO CẦU BẰNG

VẬT LIỆU NHẸ GEOFOAM TRÊN ĐẤT YẾU

P AN P ƯỚC V N , TRẦN NGUYỄN OÀNG NG *

Investigation of light weight Geofoam to construct bridge approaching embankments on soft ground

Abstract: Most of bridge abutments in Vietnam have been applied on soft

ground, especially in the Southern Vietnam After bridge abutments were used, almost all constructions have occurred differential settlement of bridge abutments which has caused difficultly for traveling of vehicles and reduced the traffic capacity on the route Some current solutions to treat differential settlement of bridge abutments are often costly and time-consuming EPS Geofoam lightweight materials were used to apply for highway embankments in developed countries such as the USA, Japan, and European countries However, EPS Geofoam has little known as construction materials for transportation structures in Vietnam This paper attempts to analysis and design bridge approaching embankment by using EPS Geofoam, which is applied on soft ground without having to treat the soft ground below The results show that: (1) EPS Geofoams made in Vietnam with density 20 ± 1 kg/m 3 can be applied to construct bridge approaching embankments on soft ground; (2) The road foundation

in construction and used stages ensures bearing capacity requirements according to Vietnam standard; (3) The load applied to EPS Geofoam is less than its compressive strength with safety factor, FS ≥ 1.2; (7) Bridge abutment ensures the instant settlement when there are dynamic loads and settlement caused by primary consolidation ensures the requires according

to Vietnam standard; (5) The slope stability was ensured with FS ≥ 1,4; (6) The buoyancy stability was ensured with FS ≥ 1,2

Keywords: EPS Geofoam, lightweight material, bridge abutment, bridge

approaching embankment, Soft ground improvement

Vật liệu nhẹ EPS Geofoam có nhiều tiềm

năng để ứng dụng xây dựng các công trình giao

thông ở Việt Nam bằng cách đặt trực tiếp trên

nền đất yếu mà không cần phải xử lý nền Quá

trình thi công để nâng cao mặt đường chỉ sử

dụng nhân công vận chuyển và lắp đặt bằng thủ

công, không cần sử dụng các loại thiết bị đặc

*Khoa Kỹ Thuật Xây Dựng, trường Đại học Bách Khoa -

Đại học Quốc gia TP HCM

biệt, rút ngắn thời gian thi công Geofoam được sản xuất và cung cấp từ các nhà sản xuất mút xốp trong nước hoàn toàn có thể đáp ứng được nhu cầu về mặt số lượng và chất lượng

Hiện nay ở thị trường trong nước, các khối Geofoam được sản xuất với kích thước 0,6 x 1 x

2 m và áp dụng chủ yếu cho mục đích cách âm, cách nhiệt trong xây dựng nhà dân dụng hay làm vật liệu xốp chống sốc bao quanh các thiết

bị điện - điện tử trong quá trình đóng gói và vận chuyển đến nơi tiêu thụ Các hạn chế và trở ngại

Trang 2

đưa vật liệu mới Geofoam áp dụng cho xây

dựng công trình giao thông nói riêng và các loại

công trình xây dựng khác nói chung có thể do:

(1) Giá thành cao do nhu cầu thị trường còn ít

và chưa có cạnh tranh (khoảng 1,2-1,5 triệu

đồng/m3); (2) Tiêu chuẩn ngành hướng dẫn ứng

dụng vật liệu nhẹ Geofoam xây dựng công trình

giao thông chưa có ở Việt Nam; (3) Định mức

xây dựng phục vụ công tác phân tích dự toán

xây dựng cơ bản chưa được ban hành; và (4)

Vật liệu nhẹ Geofoam chưa được nghiên cứu

khoa học bài bản, chuyên nghiệp, và ứng dụng

thành công để minh chứng tính khả thi phù hợp

với điều kiện đặc thù của Việt Nam

Việc phân tích và lên phương án thiết kế

được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn ASTM

của Mỹ, các tài liệu hướng dẫn thiết kế của Bộ

Giao thông vận tải Mỹ kết hợp với các tiêu

chuẩn ngành hướng dẫn quy trình thiết kế

đường trên nền đất yếu của Việt Nam Việc thiết

kế xây dựng đường vào cầu bằng Geofoam phải

kết hợp thí nghiệm trong phòng, phân tích lý

thuyết và lên phương án thiết kế hoàn chỉnh Do

đó, việc sử dụng Geofoam vào công trình giao

thông ở Việt Nam vẫn chưa được nghiên cứu và

chưa có ứng dụng thành công Bài báo này tập

trung phân tích và đưa ra phương án thiết kế

đường vào cầu bằng Geofoam Trình tự thiết kế

đường vào cầu bằng Geofoam được thực hiện

như sau:

- Các chỉ tiêu cơ lý của nền đất yếu được xác

định thông qua khảo sát địa chất Địa hình, thủy

văn cần được khảo sát để xác định cao độ địa

hình, sự thay đổi mực nước ngầm, và dòng chảy

lũ Cao độ mực nước dâng lên – hạ xuống là yếu

tố quan trọng ảnh hưởng đến công trình do áp

lực nước đẩy nổi tác dụng đến vật liệu nhẹ

Geofoam

- Xác định tải trọng bao gồm tải trọng thường

xuyên và hoạt tải xe tác dụng

- Sử dụng sơ bộ các thông số của Geofoam

có khối lượng riêng 20 kg/m3

để thiết kế và kiểm tra

- Kiểm tra khả năng chịu tải của nền đường,

FS ≥ 1,5

- Kiểm tra lún nền đường, S ≤ 0,2 m

- Kiểm tra độ ổn định nền đường, FS ≥ 1,4

(theo phương pháp Bishop)

- Kiểm tra áp lực nước đẩy nổi, FS ≥ 1,2

- Điều chỉnh việc chọn và kết luận loại Geofoam phù hợp

2 CƠ SỞ LÝ T UY T

Nền đường được xem như đủ khả năng chịu tải khi khả năng chịu tải cho phép của nền

đường (q ult) lớn hơn tổng tải trọng tác dụng của

nền đường (tải trọng đắp tương đương, H e γ e

hoạt tải xe thiết kế, q s ) với hệ số an toàn, FS ≥

1,5 như biểu thức (1) [2, 20]

1, 5

ult

e e s

q FS

Hq

Geofoam được xem đủ khả năng chịu tải khi

cường độ nén ở biến dạng 1% (q uEPS) lớn hơn

tổng tải trọng tác dụng lên Geofoam (q L) với hệ

số an toàn, FS ≥ 1,2 theo biểu thức (2) [10, 18]

1, 2

uEPS L

q FS

q

Độ lún tổng thể (S) của nền đường thiết kế

sau khi thi công xong và quá trình khai thác sẽ

bao gồm độ lún tức thời (S e ), độ lún cố kết (S c),

và độ lún từ biến (S s) như biểu thức (3) Độ lún

tức thời (S e) của Geofoam xảy ra khi có tải trọng mặt đường đặt lên và giá trị tải trọng nhỏ hơn cường độ nén nằm trong giai đoạn đàn hồi của

Geofoam ở biến dạng, ε ≤ 1% Do vậy, S e được tính toán và bù lún trong quá trình thi công để đảm bảo cao độ thiết kế ngay khi hoàn thành, nghiệm thu công trình và đưa vào sử dụng Độ

lún cố kết (S c) còn lại sau 15 năm của nền đường sau khi hoàn thành công trình ứng với

đường cấp 60 trở xuống phải thỏa điều kiện, S c

≤ 0,2 m như biểu thức (4) [2, 20] Độ lún từ biến xảy ra sau khi lún cố kết kết thúc và xảy ra rất chậm trong thời gian nhiều năm nên được xem xét bỏ qua trong trường hợp này

e c s

Trang 3

0, 2 1

c

o

e

e

Cơng trình sau thi cơng hồn thiện phải đảm

bảo độ ổn định tổng thể Độ ổn định tổng thể

của nền đường được đánh giá thơng qua hệ số

ổn định FS, được định nghĩa là tỷ số giữa

mơmen chống trượt và mơmen gây trượt với giả

thuyết mặt trượt dạng cung trịn theo biểu thức

(5) Nền đường được xem là ổn định tổng thể

khi FS ≥ 1,2 (nếu phân tích theo phương pháp

Phân mảnh cổ điển) và FS ≥ 1,4 (nếu phân tích

theo phương pháp Bishop đơn giản) [2, 4, 20]

Mômen chống trượt

FS

Mômen gây trượt (5)

Trọng lượng riêng của Geofoam khoảng 0,2

kN/m3, nhỏ hơn khoảng 50 lần so trọng lượng

riêng của nước (10 kN/m3) Do đĩ, đường vào

cầu được đắp bằng Geofoam được xem là ổn

định trong điều kiện ngập nước khi tỷ số giữa

tổng tải trọng khối đắp (ΣN) và áp lực nước đẩy

nổi của mực nước dâng cao nhất trong mùa mưa

lũ (ΣU) khi FS ≥ 1,2 theo biểu thức (6) [10, 19]

1, 2

N FS

U

3 P ƯƠNG P P NG ÊN CỨU

Khả năng chịu tải của vật liệu Geofoam cĩ khối lượng riêng 20 kg/m3, biến dạng tức thời

và biến lúc phá hoại theo kết quả nghiên cứu [14, 15, 16] Khả năng chịu tải, độ lún, và ổn định tổng thể của nền đất được phân tích bằng phương pháp giải tích dựa trên chỉ tiêu cơ lý đất nền tại khu vực đất yếu ở Khu cơng nghiệp Hiệp Phước, xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè,

TP HCM kết hợp phương pháp mơ phỏng bằng phần mềm GeoStudio Slope/W 2012 và Plaxis V8.6

3.1 ịa chất

Căn cứ tài liệu khảo sát địa chất được thực hiện năm 2012, các đặc trưng của đất nền trong phạm vi khảo sát đến độ sâu 70 m của mặt cắt tại vị trí nghiên cứu được trình bày ở Bảng 1

ảng 1 Chỉ tiêu cơ lý các lớp đất tại Khu cơng nghiệp iệp Phước [12]

Tên lớp đất

Chiều dày lớp (m)

Trọng lượng riêng,

γ sat

(kN/m3)

Gĩc

ma sát trong,

υ

(o)

Sức chống cắt khơng thốt nước

C u

(kN/m2)

số rỗng

e 0

Chỉ

số nén,

C c

Chỉ

số

nở

C r

ệ số

cố kết

C v

(m2/s)

Lớp 1: Bùn

sét, chảy 29 14,8 0,18 17,8 1,989 0,58 0,077 0,185x10

-7

Lớp 2: Sét,

dẻo chảy 22,3 15,8 0,27 41,84 1,787 0,713 0,112 0,155x10

-7

Lớp 3: Cát

pha sạn, dẻo 4,4 20 0,25 36,15 0,591 0,061 0,009 2,624x10

-7

Lớp 4:

Sét, cứng >14,3 20,8 0,35 187,12 0,575 0,251 0,066 0,128x10

-7

3.2 Mực nước

Cao độ mực nước ứng với đỉnh triều lịch sử

theo báo cáo thống kê tại trạm Phú An và trạm

Nhà Bè đến năm 2020 [21]

- Cao độ mực nước ngầm xấp xỉ mặt đất:

+1,45 m

- Cao độ mực nước cao nhất: +1,78 m

3.3 Tải trọng

Tải trọng tính tốn bao gồm hoạt tải và tĩnh tải của cơng trình xây dựng Hoạt tải thiết kế là

tải trọng tiêu chuẩn H30 [1], loại xe tải cĩ tải

trọng 30 tấn thường được sử dụng ở Việt Nam,

Trang 4

kích thước xe được thể hiện như Hình 1 Tĩnh

tải bao gồm kết cấu mặt đường bằng bê tông cốt

thép dày 0,2 m, tường chắn bằng thép tấm, vật

liệu đắp Geofoam, và cát san lấp tạo phẳng

- Hoạt tải xe: 25,56 kN/m2

- Kết cấu mặt đường: 5 kN/m2

- Kết cấu tường chắn: 1,06 kN/m2

- Geofoam: 0,44 kN/m2

- Cát san lấp: 1,5 kN/m2

Hình 1 Kích thước xe tải 30 tấn

4 K T QUẢ VÀ T ẢO LUẬN

Đường vào cầu được thiết kế đắp bằng

Geofoam có kích thước dài x rộng x cao là 25 m

x 3 m x 2,5 m với độ dốc dọc 10% Đường vào

cầu được thiết kế gồm: Phần đường dẫn được

đắp bằng cát cao 1 m, dài 10 m, phía trên bố trí

thép tấm dày 6 mm; phần đường đắp bằng

Geofoam cao 2,3 m, chiều dài 15 m, mặt đường

phía trên được thiết kế bằng tấm bê tông cốt

thép M300, dày 0,2 m Geofoam được chọn sơ

bộ có khối lượng riêng 19,3 kg/m3 do có các chỉ

tiêu cơ lý phù hợp như cường độ chịu nén, mô

đun đàn hồi, biến dạng tức thời, và giá thành vật

liệu phù hợp để đưa vào thiết kế Xung quanh

đường vào cầu bố trí tường chắn bằng tấm dày 6

mm bảo vệ Geofoam, tường chắn được gia

cường bằng thép V50x50x5 dạng khung hình

tam giác với mái dốc thanh xiên 1:1, khoảng

cách gia cường đều 1,5 m

4.1 Khả năng chịu tải của nền đường

- Trong giai đoạn thi công: q ult = 30,5 > q e =

7,4 kN/m2

- Trong giai đoạn khai thác: q ult = 61,0 > q o =

33,0 kN/m2

- Sức chịu tải của Geofoam: q uEPS = 58,6 >

1,2q L = 36,7 kN/m2

4.2 ộ lún của nền đường

Mô hình phân tích lún tải trọng nền phân bố theo lý thuyết đàn hồi tuyến tính (Hình 2) Kết quả phân tích lún và độ lún của nền đất sau 15

năm, S c = 0,127 m, nhỏ hơn độ lún yêu cầu 0,2

m [2], đảm bảo yêu cầu về độ lún của nền đường Hình 3 thể hiện diễn biến lún nền đường trong 50 năm

Hình 2 Mô hình phân tích lún tải trọng nền

phân bố đàn hồi tuyến tính

Hình 3 So sánh diễn biến độ lún cố kết nền đường trong 50 năm đắp bằng Geofoam và đất

4.3 Ổn định tổng thể

Phân tích ổn định tổng thể bằng phần mềm GeoStudio Slope/W để xác định hệ số ổn định

FS sau khi hoàn thiện công trình và đưa vào

khai thác được thể hiện ở Hình 4 và Hình 5 với thông số vật liệu đầu vào ở Bảng 2

Trang 5

ảng 2 Thông số vật liệu đầu vào dùng ph n t ch ổn định tổng thể

Khối lượng riêng, γ (kN/m3

Tải trọng đắp, q (kN/m2

Tải trọng đắp tương đương, q e (kN/m2) 7,41

Tải trọng xe, q s (kN/m2) 25,56

Theo phương ngang, khi hoạt tải xe đặt trên

phần đường dẫn đắp bằng cát, hệ số an toàn là

nhỏ nhất, FS = 1,79 Khi hoạt tải xe đặt tại đỉnh

đường dẫn được đắp bằng Geofoam thì hệ số an

toàn tăng lên, FS = 2,43 Xét theo phương dọc,

hoạt tải xe nằm trên phần đường dẫn được đắp

bằng cát, hệ số an toàn FS = 2,52 Khi hoạt tải

xe đặt tại đỉnh đường dẫn thì hệ số an toàn, FS =

8,35 Trong tất cả các trường hợp, hệ số FS >

1,4 Do đó, công trình được xem là đảm bảo ổn

định tổng thể với mô hình thiết kế trên

Hình 4 Phân tích ổn định theo phương ngang

Hình 5 Phân tích ổn định theo phương dọc

4.4 Ổn định đẩy nổi

Phân tích ổn định do áp lực nước đẩy nổi

được xác định bởi hệ số an toàn, FS sau khi thi

công và khai thác Hình 6 thể hiện mô hình phân tích áp lực truyền xuống nền đường và áp lực

nước đẩy nổi Hệ số an toàn theo phân tích, FS

= ∑N / ∑U = 1,26 > 1,2, đường đảm bảo ổn

định đẩy nổi

H nh 6 Mô h nh phân tích ổn định do áp lực

nước đẩy nổi

4.5 Mô phỏng bằng phần mềm Plaxis 2D

Áp lực tác dụng lên công trình do tải trọng xe gây ra được xem xét ở 4 trường hợp: (1) Xét áp lực phân bố do tải trọng toàn bộ xe gây ra; (2)

Áp lực phân bố của tải trọng 2 trục sau xe; (3)

Áp lực phân bố của tải trọng 1 trục sau xe; (4)

Áp lực phân bố của tải trọng 1 cụm bánh xe sau (Bảng 3) Kết quả ứng suất theo phương đứng

tại mặt cắt dưới tải trọng bánh xe với áp lực, p =

363,6 kN/m2 truyền xuống Geofoam và nền đất

là lớn nhất trong 4 trường hợp theo cả 2 phương

ngang và dọc Ứng suất trên Geofoam σ’ =

19,3-32,4 kN/m2, phù hợp với kết quả tính toán bằng

phương pháp giải tích, q L = 30,6 kN/m2, và nhỏ hơn cường độ nén trong giai đoạn đàn hồi của

Geofoam, q uEPS = 58,6 kN/m2 Ứng suất tác

dụng lên nền đất, σ’ = 12,1-36,6 kN/m2

, phù

Trang 6

hợp với kết quả tính toán bằng phương pháp

giải tích, q o = 33,0 kN/m2, và nhỏ hơn khả

năng chịu tải của nền đất trong giai đoạn khai

thác, q ult = 61 kN/m2 Biểu đồ phân bố ứng suất tại mặt cắt dưới bánh xe được thể hiện như Hình 7 và 8

ảng 3 p lực do tải trọng xe tác dụng lên nền đường trong các trường hợp

Tổng tải trọng phân tích, Q s (kN) 300 240 120 60

Bề rộng vệt bánh xe ngoài cùng từ

trái qua phải, B s (m) 2,4 2,4 2,4 0,55

Chiều dài vệt bánh xe trước đến

bánh xe sau, L s (m) 4,89 1,3 0,3 0,3

Áp lực do tải trọng xe tác dụng lên

nền đường, q e (kN/m2) 25,56 76,9 166,7 363,6

Kết quả chuyển vị theo phương đứng tại mặt

đường và Geofoam dưới tải trọng bánh xe là

nhỏ, giá trị từ 7-9 mm Do mặt đường bê tông

cốt thép phân tán lực tập trung dưới bánh xe

thành lực phân bố đều dàn trải trên bề mặt

Geofoam Do đó, áp lực tác dụng trên bề mặt

Geofoam nhỏ, nằm trong giai đoạn đàn hồi với

biến dạng nhỏ hơn 1% (23 mm), phù hợp với

kết quả nghiên cứu ứng xử nén của Geofoam [3,

5, 11, 14, 16]

Chuyển vị theo phương ngang của tường

chắn không đáng kể, giá trị tối đa 0,04 mm

Mômen lớn nhất của tường chắn xung quanh

đường dẫn là 0,07 kN.m Do Geofoam là vật

liệu nhựa tổng hợp, có cấu trúc xốp, không khí

chiếm tới 98% [7, 9, 11], với hệ số Poisson nhỏ,

ν= 0,093 cho EPS-19 [14, 16] Khi tác dụng tải

trọng lên Geofoam theo phương đứng, biến

dạng đứng tăng lên nhưng biến dạng ngang tăng

lên không đáng kể, làm giảm áp lực tác dụng lên

tường chắn phù hợp với các kết quả nghiên cứu

[5, 8, 13, 17, 19] Hệ số an toàn khi phân tích ổn

định theo phương ngang và phương dọc cầu, FS

= 3,9-4,7, phù hợp với kết quả kiểm toán ổn

định tổng thể bằng phần mềm GeoStudio

Slope/W, và cao hơn hệ số an toàn yêu cầu, FS

≥ 1,4 Do đó, kết cấu công trình đáp ứng được

khả năng chịu tải của đất nền và đảm bảo ổn định tổng thể

Hình 7 Bi u đồ phân bố ứng suất trong kết cấu đường và nền đất theo phương ngang

Hình 8 Bi u đồ phân bố ứng suất trong kết cấu đường và nền đất theo phương dọc

Trang 7

5 K T LUẬN

Phương án thiết kế đường vào cầu bằng vật

liệu nhẹ Geofoam được thiết kế kích thước cao

2,5 m, rộng 3 m, dài 25 m với độ dốc dọc 10%

trên nền đất yếu tại Khu Công nghiệp Hiệp

Phước, TP.HCM Đường đắp bằng Geofoam

khối lượng riêng 19,3 kg/m3

cao 2,3 m, mặt đường phía trên được thiết kế bằng tấm bê tông

cốt thép dày 0,2 m Kết quả kiểm toán bằng

phương pháp giải tích và phương pháp mô

phỏng đạt được như sau:

(1) EPS Geofoam có khối lượng riêng 21 ± 1

kg/m3 sản xuất ở trong nước phù hợp để ứng

dụng xây dựng đường vào cầu trên nền đất yếu

(2) Độ cao đường vào cầu tối đa khi đắp bằng

cát 1,7 m và đắp bằng Geofoam lên đến 150 m

(3) Chuyển vị đứng tức thời tại mặt đường và

Geofoam dưới tải trọng bánh xe từ 7-9 mm

Hoạt tải giảm dần từ 363 kN/m2 ở mặt đường

đến Geofoam từ 30-31 kN/m2

, nền đất từ 20-21 kN/m2, và bằng 0 kN/m2 ở độ sâu -0,5 m

(4) Kết quả phân tích mặt đường vào cầu có

1, 2, và 4 làn xe bằng phần mềm Plaxis thì độ

lún tức thời, sự phân bố hoạt tải và tĩnh tải theo

chiều sâu gần như không thay đổi

(5) Chiều cao đắp đường vào cầu càng lớn

với giả thiết cao 3 m, 6 m, và tối đa 150 m,

chuyển vị đứng vị tức thời trên mặt Geofoam

tăng lên Ứng suất phân bố trên mặt Geofoam

không đổi 30-31 kN/m2

, ứng suất truyền xuống nền đất giảm dần

(6) Nền đường trong giai đoạn thi công và

khai thác đều đảm bảo yêu cầu khả năng chịu tải

theo 22TCN 262-2000

(7) Tải trọng tác dụng lên Geofoam nhỏ hơn

cường độ nén của Geofoam với hệ số an toàn,

FS > 1,2, đảm bảo khả năng chịu tải và biến

dạng nằm trong giai đoạn đàn hồi của vật liệu

(8) Phương án thiết kế đường vào cầu bằng

Geofoam đảm bảo yêu cầu về độ lún tức thời

khi có hoạt tải xe và độ lún cố kết cho phép của

nền đường trong chu kì 15 năm theo 22TCN

262-2000

(9) Khả năng ổn định tổng thể của đường vào cầu đảm bảo theo 22TCN 262-2000 với hệ số an

toàn, FS > 1,4

(10) Đường vào cầu được đắp bằng Geofoam đảm bảo ổn định đẩy nổi với hệ số

an toàn, FS > 1,2

LỜ CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu này được thực hiện với nguồn kinh phí cấp từ Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (Hợp đồng số 45/2018/HĐ-SKHCN và 50/HĐ-ĐHBK-KHCN&DA) Các tác giả chân thành cảm ơn sự hỗ trợ này trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu

TÀ L ỆU T AM K ẢO

[1] Bộ Giao thông vận tải “Quy trình thiết

kế cầu cống theo trạng thái giới hạn” Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam, 22TCN 18-79, 295 trang, 1979

[2] Bộ Giao thông vận tải “Quy trình khảo sát thiết kế nền đường ô tô đắp trên đất yếu” Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam, 22TCN

262-2000, 51 trang, 2000

[3] M Duskov “Materials Research on EPS-20 and EPS-15 Under Representative

Conditions in Pavement Structure”, Geotextiles

and Geomembranes, vol 15, pp 147-181, 1997

[4] M.B Das and K Sobhan Principles of

Geotechnical Engineering, 8 th ed Stemford,

USA: Cengage Learning, 770 pages, 2012 [5] A.F Elragi Selected Engineering Properties and Applications of EPS Geofoam

Softoria, 39 pages, 2006

[6] Hoang-Hung Tran-Nguyen and Vinh P Phan “Investigation of Compressive Behaviors of Geofoams Made in Vietnam”, in

Proceedings of the International Conference

on Sustainable Civil Engineering and Architecture, Ho Chi Minh City, Vietnam, pp

539-546, 2019

Trang 8

[7] J.S Horvath “Emerging Trends in

Failures Involving EPS-Block Geofoam Fills”,

Journal of Performance of Constructed

Facilities, Vol 24, No 4, 8 pages, 2010

[8] J.S Horvath Concepts for Cellular

Geosynthetics Standards with an Example for

EPS-Block Geofoam as Lightweight Fill for

Roads USA: Center for Geotechnology,

Research Report No CGT-2001-4, 92

pages, 2001

[9] J.S Horvath “Lateral Pressure

Reduction on Earth-Retaining Structures Using

Geofoams: Correcting Some

Misunderstandings”, in ER2010: Earth

Retention Conference 3, USA, 8 pages, 2010

[10] D Leshchinsky, J.S Horvath, T.D

Stark, and D Arellano Guideline and

Applications in Highway Embankments

Washington, D.C: TRB, NCHRP Report 529,

70 pages, 2004

[11] A Mohajerani, M Ashdown, L

Abdihashi, and M Nazem “Expanded

polystyrene geofoam in pavement construction”,

Construction and Building Materials, vol 157,

pp 438-448, 2017

[12] Nguyễn Quốc Khánh Báo cáo kết quả

khảo sát địa chất công tr nh Xây dựng cầu Rạch

Rộp I – Khu công nghiệp Hiệp Phước (giai

đoạn 2), xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè, TP

HCM Trung tâm nghiên cứu công nghệ và thiết

bị công nghiệp, 675 trang, 2012

[13] A Ossa and M.P Romo “Micro- and

macro-mechanical study of compressive

behavior of expanded polystyrene geofoam”,

Geosynthetics International, vol 16, pp 327 –

338, 2009

[14] Phan Phước Vĩnh và Trần Nguyễn Hoàng Hùng “Nghiên cứu các đặc trưng cơ học

Geofoam sản xuất ở Việt Nam”, Tạp chí Giao

thông vận tải, số 11/2019, trang 50-54, 2019

[15] Phan Phước Vĩnh và Trần Nguyễn Hoàng Hùng “Nghiên cứu các đặc trưng lý-hóa

Geofoam sản xuất ở Việt Nam”, Tạp chí Giao

thông vận tải, số 01/2020, trang 62-67, 2020

[16] Phan Phước Vĩnh và Trần Nguyễn Hoàng Hùng “Nghiên cứu ứng xử nén EPS

Geofoam sản xuất ở Việt Nam”, Tạp chí Địa kỹ

thuật, số 01/2020, trang 37-45, 2020

[17] S Srirajan, D Negussey, and N

Anasthas Creep behavior of EPS geofoam 12 pages, 2001

[18] T.D Stark, J.S Horvath, and D

Leshchinsky Geofoam Applications in the

Design and Construction of Highway Embankments Washington D.C.: TRB, NCHRP

Web Document No 65, 793 pages, 2004

[19] T.D Stark, S.F Bartlett, and D Arellano Expanded Polystyrene (EPS) Geofoam Applications & Technical Data

Crofton, MD: The EPS Industry Alliance, 36 pages, 2012

[20] Trần Nguyễn Hoàng Hùng Công nghệ

xói trộn vữa cao áp (Jet Grouting) Thành phố

Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản trường Đại học Quốc gia, 368 trang, 2016

[21] Trần Nhật Tân Dữ liệu bảng triều tại

trạm Phú An và trạm Nhà Bè Viện Kỹ thuật

biển, tháng 7/2020

Người phản biện: PGS, TS NGUYỄN VIỆT KỲ

Ngày đăng: 27/09/2021, 15:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm