Những khó khăn, thách thức trong QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đặt ra nhu cầu cấp thiết cần phải nghiên cứu để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
TRƯƠNG VĂN THỦY
QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGÀNH: KINH TẾ CHINH TRỊ
Mã số: 931 01 02
HÀ NỘI – 2021
Trang 2Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS Đoàn Xuân Thủy
2 TS Lê Bá Tâm
Phản biện 1: ………
………
Phản biện 2: ………
………
Phản biện 3: ………
………
Luận án sẽ được bảo vệ trước hội đồng chấm luận án cấp Học Viện
họp tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Vào …….giờ …….ngày …….tháng …….năm 2021
Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia Việt Nam;
Thư viện Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 3LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Trương Văn Thủy (4/2020), “Sự cần thiết đảm bảo hài hòa quan hệ lợi
ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk”, Tạp chí Kinh tế châu Á
– Thái Bình Dương, Số 562, tr.25-27
2 Truong Van Thuy (9/2020), “Implications for coffee production and
trading organizers to ensure interests in Dak Lak province”, Review of Finance,
Vol.3, Issue 3, p.50-53
3 Trương Văn Thủy (12/2020), “Những biểu hiện quan hệ lợi ích giữa người nông dân với các chủ thể thu mua cà phê trong chuỗi giá trị cà phê ở Đắk
Lắk”, Tạp chí Công thương, Số 29+30, tr.116-122
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực tranh thủ những thời cơ và vận hội
để phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) mà nông nghiệp là một trong những lĩnh vực được chú trọng đầu tư phát triển để phát huy những lợi thế so sánh của đất nước Trong đó việc nâng cao giá trị gia tăng và lợi ích kinh tế (LIKT) của người nông dân trong chuỗi giá trị (CGT) nông sản là ưu tiên hàng đầu được Đảng và Nhà nước quan tâm Thực tiễn phát triển chuỗi giá trị cà phê (CGTCP) của Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra những bước ngoặt quan trọng cùng với đó là những thành quả to lớn khi giá trị xuất khẩu mang lại ngày càng tăng qua các năm Tuy nhiên, thực tế cho thấy mặc dù khối lượng cà phê xuất khẩu lớn nhưng giá trị gia tăng lại thấp Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn đề này là do chưa đảm bảo hài hòa LIKT giữa các chủ thể tham gia vào các khâu trong CGTCP
Đắk Lắk là tỉnh có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp, trong đó cà phê là sản phẩm nông nghiệp chủ lực của tỉnh với diện tích trồng hơn 208.000 ha, chiếm khoảng hơn 40% diện tích cà phê của khu vực Tây Nguyên và hơn 30% diện tích cà phê của cả nước với sản lượng cà phê hằng năm của tỉnh Đắk Lắk đạt từ 450.000 đến gần 500.000 tấn cà phê nhân góp phần quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân trồng cà phê theo hướng tích cực và bền vững hơn khi mà CGTCP tỉnh Đắk Lắk ngày càng khẳng định được vị thế của mình
Tuy nhiên, với sản lượng xuất khẩu lớn nhưng giá trị thu về lại thấp của ngành cà phê Đắk Lắk đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhất là trong việc phát triển CGTCP từ khâu sản xuất đến tiêu Biểu hiện ra bên ngoài đó chính là lợi ích giữa các chủ thể tham gia CGTCP chưa được hài hòa, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh cà phê của tỉnh Những khó khăn, thách thức trong QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đặt ra nhu cầu cấp thiết cần phải nghiên cứu để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào CGTCP nhằm thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh cà phê ngày càng phát triển và đóng góp cho sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp, đồng thời khẳng định được vị thế ngành cà phê của Đắk Lắk nói riêng và Việt Nam nói chung trên thị trường quốc tế
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk” để làm luận án
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của luận án là làm rõ lý luận QHLI trong phát triển CGTCP, trên
cơ sở đó phân tích thực trạng các mối QHLI trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong phát triển CGTCP của tỉnh hơn nữa trong thời gian tới
Trang 5Để hoàn thành mục đích trên, luận án đặt ra và thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Làm rõ cơ sở khoa học để nhận diện và phân tích các mối QHLI giữa các chủ thể tham gia vào phát triển CGTCP: đặc điểm, ý nghĩa, các nhân tố ảnh hưởng, các hình thức thực hiện QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP
- Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và địa phương trong nước về đảm bảo hài hòa QHLI trong phát triển CGTCP và rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đắk Lắk
- Khảo sát thực trạng QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2015 – 2020, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế
và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế
- Đưa ra những dự báo, quan điểm đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk tầm nhìn đến 2030
- Đề xuất những nhóm giải pháp để đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các mối QHLI giữa các chủ thể chính trong CGTCP gồm QHLI giữa người nông dân trồng cà phê với các chủ thể thu mua và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài
* Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về QHLI trong
phát triển CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk, tuy nhiên luận án không đề cập đến QHLI nói chung mà chỉ nghiên cứu QHLI ở góc độ kinh tế giữa các chủ thể trong CGTCP trên thị trường trong nước Trong CGTCP có sự tham gia của nhiều chủ thể ở các khâu khác nhau Vì vậy trong phạm vi về nội dung, luận án không nghiên cứu toàn bộ QHLI của các chủ thể mà tập trung nghiên cứu quan hệ lợi ích kinh tế (QHLIKT) giữa những chủ thể chính trong CGTCP với các mối QHLI chủ yếu gồm: QHLI giữa người nông dân trồng cà phê với các chủ thể thu mua cà phê, QHLI giữa người nông dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê và QHLI giữa các chủ thể thu mua với các doanh nghiệp chế biến
* Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
* Phạm vi về thời gian: luận án khảo sát thực trạng giai đoạn từ 2015 đến
2020, tương ứng với kế hoạch 5 năm phát triển KT-XH của tỉnh Đắk Lắk; dự
báo, quan điểm và giải pháp tầm nhìn đến năm 2030
4 Phương pháp nghiên cứu đề tài
4.1 Phương pháp luận: Luận án sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy
vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và phương pháp đặc trưng nghiên cứu của kinh tế chính trị là phương pháp trừu tượng hóa khoa học để luận giải và
làm rõ đối tượng nghiên cứu
4.2 Phương pháp tiếp cận: Một là, luận án tiếp cận từ cơ sở lý luận và thực
Trang 6tiễn về QHLI, CGTCP và QHLI trong phát triển CGTCP ở góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị về quan hệ xã hội giữa các chủ thể với nhau trong quá trình
tái sản xuất thông qua sản xuất, trao đổi và phân phối trong CGTCP Hai là,
nghiên cứu tiếp cận từ các nguồn tài liệu, báo cáo, tổng kết, các ấn phẩm thống kê của các cơ quan chức năng, các Sở, Ban, Ngành và các chủ thể tham gia khảo sát
trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm phân tích, minh họa cho kết quả nghiên cứu Ba
là, luận án tiếp cận từ những chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển ngành
cà phê của Việt Nam nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng có liên quan đến
QHLI trong phát triển CGTCP
4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Thứ nhất, phương pháp thu thập số liệu
- Đối với số liệu thứ cấp: luận án thu thập và sử dụng các dữ liệu do các cơ quan chính quyền địa phương đã báo cáo và công bố liên quan đến LIKT, hiệu quả sản xuất nông nghiệp,… như Báo cáo hàng năm của Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk,
Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công thương, các báo cáo thống kê của các doanh nghiệp đã công bố và các cơ quan ở các địa phương của tỉnh Đắk Lắk
- Đối với số liệu sơ cấp: Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua khảo sát bằng phiếu điều tra để thu thập số liệu sơ cấp nhằm làm rõ thêm đối tượng nghiên cứu Luận án đã tiến hành điều tra xã hội học đối với các chủ thể sản xuất, thu mua, chế biến cà phê ở Đắk Lắk năm 2020 với quy mô mẫu
là 360 phiếu điều tra (trong đó gồm 300 phiếu điều tra hộ nông dân trồng, 45 phiếu điều tra các chủ thể thu mua và 15 phiếu điều tra các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê ở tỉnh Đắk Lắk) Về cách thức chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp lại phân theo các địa bàn sản xuất cà phê với 8 địa phương được chọn điều tra gồm: huyện Ea H’Leo, huyện Cư M’Gar, thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Búk, huyện Cư Kuin, huyện Krông Pắc, huyện Krông Bông và huyện Buôn Đôn Ngoài ra, luận án còn sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia đối với các chủ thể trong CGTCP tỉnh Đắk Lắk
Thứ hai, phương pháp xử lý số liệu
Đối với số liệu sau khi thu thập được, sẽ tiến hành nhập số liệu phân theo 3 đối tượng khảo sát tương ứng gồm hộ nông dân trồng cà phê, các chủ thể thu mua cà phê và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê sau đó xử lý số liệu bằng công cụ Excel với những hàm tính toán như SUMIF, COUNTIF, AVERAGEIF,… và sử dụng một số công thức trong kinh tế học như: Tổng doanh thu (TR) = Sản lượng (q) x Đơn giá (p), Lợi nhuận (Pr) = Tổng doanh thu (TR) – Tổng chi phí (TC),…để tính toán số liệu điều tra nhằm minh họa và phục vụ cho nghiên cứu
Thứ ba, phương pháp phân tích số liệu
Luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả các kết quả từ số liệu thu thập được, từ đó tiến hành phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích rút nhận
Trang 7xét để làm rõ các mối QHLI giữa các chủ thể chính trong CGTCP ở địa bàn nghiên cứu Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng công cụ vẽ sơ đồ và mô tả CGT sản phẩm cà phê để nhận diện các mối QHLI giữa các chủ thể và quy trình vận hành trong CGTCP
5 Những đóng góp khoa học mới của luận án
Một là, luận án góp phần xây dựng khung lý thuyết cơ bản về QHLI
trong phát triển CGTCP trên địa bàn cấp tỉnh dưới góc độ tiếp cận của khoa học Kinh tế chính trị
Hai là, luận án chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng, rút ra những bài học kinh
nghiệm về đảm bảo hài hòa QHLI trong phát triển CGTCP trên cơ sở phân tích kinh nghiệm về hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP ở một số quốc gia trên thế giới cũng như một số địa phương trong nước
Ba là, luận án khảo sát và phân tích thực trạng về QHLI giữa các chủ thể
trong phát triển CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế
về QHLI trong phát triển CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk
Bốn là, nghiên cứu đưa ra và phân tích những dự báo, quan điểm và đề xuất
những giải pháp để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong phát triển CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk nhằm thúc đẩy phát triển ngành sản xuất kinh doanh cà phê hơn nữa trong thời gian tới
6 Ý nghĩa khoa học của luận án
- Hệ thống khái niệm, phạm trù và khung lý thuyết của luận án về QHLI trong phát triển CGTCP góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo về QHLI trong phát triển CGTCP trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và quá trình HNKTQT nói chung và đối với địa bàn
cụ thể cấp tỉnh nói riêng
- Kết quả nghiên cứu khảo sát thực trạng về QHLI giữa các nhóm chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, rút ra kết quả về những thuận lợi, hạn chế và những nguyên nhân; dự báo và đề xuất những nhóm giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP ở Đắk Lắk là tư liệu tham khảo mà chính quyền địa phương các cấp có thể sử dụng để hoạch định chính sách phát triển ngành cà phê
- Kết quả nghiên cứu trong luận án có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy cho các hệ đại học, sau đại học chuyên ngành kinh tế
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương, 10 tiết
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ
1.1.1 Các công trình nghiên cứu bàn về quan hệ lợi ích
Một số công trình ở nước ngoài bàn về những khía cạnh liên quan đến
QHLI như: Cuốn sách “Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội” của tác giả V.P.Ca-man-kin Ju.K.Pletnicov với công trình, “Lý luận phản ánh của Lênin
dưới ánh sáng của sự phát triển khoa học và thực tiễn” V.N.Lavrinenko,
“Những vấn đề lợi ích xã hội trong chủ nghĩa Lênin” Nhóm tác giả Mark
Lubell, Vicken Hillis và Matthew Hoffman, “Innovation, Cooperation, and the
Perceived Benefits and Costs of Sustainable Agriculture Practices”
Một số công trình ở trong nước có đề cập đến vấn đề QHLI ở các góc độ như:
Một là, những công trình nghiên cứu về lợi ích, LIKT: Cuốn sách “Bàn về các lợi ích kinh tế” của nhóm tác giả gồm Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu
Ngoạn, Lê Xuân Tùng, Nguyễn Duy Bảy Chu Văn Cấp với công trình, “Lợi ích
kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” Phạm
Thị Thương, “Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp tư
nhân ở tỉnh Thừa Thiên Huế” Phạm Quốc Quân, “Lợi ích của nông dân khi tham gia chuỗi giá trị hàng hóa nông sản” Nguyễn Thị Minh Loan, “Lợi ích kinh tế của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội”
Hai là, những công trình nghiên cứu về QHLI: Cuốn sách “Góp phần tìm hiểu quan hệ lợi ích” của tác giả Nguyễn Linh Khiếu Đặng Quang Định,
“Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện
nay” Ngô Tuấn Nghĩa với công trình, “Bảo đảm quan hệ lợi ích hài hòa về sở hữu trí tuệ trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam” Đỗ Huy Hà, “Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay”
Nghiên cứu Giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong
điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay của Hoàng Văn Khải Trần
Hoàng Hiểu, “Quan hệ lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp trong
phát triển cánh đồng lớn ở đồng bằng song Cửu Long” Nguyễn Thị Thu
Hường, “Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay”
Trần Thị Minh Châu với nghiên cứu “Quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế
trong Luật Đất đai ở Việt Nam” Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn
Thị Kim Anh, Phan Lê Diễm Hằng, “Phân phối lợi ích trong chuỗi giá trị sản
phẩm: Trường hợp mặt hàng thủy sản khai thác biển ở Khánh Hòa” Nguyễn
Văn Thuận, “Quan hệ lợi ích giữa người nuôi và doanh nghiệp chế biến, xuất
khẩu trong chuỗi giá trị cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long”
Trang 91.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
1.1.2.1 Các công trình bàn những khía cạnh chung về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị cà phê
* Các công trình nghiên cứu chuỗi giá trị, chuỗi giá trị cà phê ở nước ngoài
Michael E Porter với công trình, “Competitive Advantage” Nhóm tác giả R.Kaplinsky và M.Morris với nghiên cứu “A handbook for value chain
research” C.Martin Webber, Patrick Labaste, “Building competitiveness in Africa’s agriculture: A guide to value chain concepts and applications”
Tổ chức phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO), “Pro-poor
Value Chain Development: 25 guiding questions for designing and implementing agroindustry projects” Van Dijk, M., & Trienekens, J với
nghiên cứu, “Global Value Chains: Linking Local Producers from Developing
Countries to International Markets” Humphrey, J., “Upgrading in Global Value Chain”
* Các công trình nghiên cứu chuỗi giá trị, chuỗi giá trị cà phê ở trong nước
Thứ nhất, những công trình bàn về CGT nông sản: Cuốn sách “Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Thành Ngô Thị Phương
Liên với nghiên cứu, “Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên
Quang” Bùi Nhật Quang, Trần Thị Lan Hương, “Phát triển chuỗi giá trị các nông sản chủ lực vùng Tây Nguyên trong quá trình hội nhập quốc tế” Võ Thị
Thanh Lộc, “Phân phối lợi ích và chi phí trong chuỗi giá trị cá tra ở đồng bằng
sông Cửu Long như thế nào?” Huỳnh Thị Thu Sương, “Tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị nhằm tìm giải pháp cho xuất khẩu bền vững hàng hóa Việt Nam”
Thứ hai, những công trình nghiên cứu liên quan đến ngành cà phê, CGTCP: Cuốn sách “Cà phê Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển”
của Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam Chu Tiến Quang, “Tác động của hội
nhập kinh tế đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản của Việt Nam (Qua nghiên cứu chè, cà phê, điều)” Nguyễn Xuân Trình, “Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ một số nông sản ở Việt Nam: qua nghiên cứu chè, cà phê, điều” Đỗ Thị Nga với nghiên cứu,
“Nghiên cứu lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh
tế tại tỉnh Đắk Lắk” Vũ Trí Tuệ, “Năng lực cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế” Từ Thái Giang, “Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” Nguyễn Văn
Hóa, “Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” Nguyễn Thanh Trúc, “Phát triển công nghiệp chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” Nguyễn Ngọc Thắng, “Giải pháp giảm thiểu rủi ro trong sản xuất cà phê cho
hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk” Nguyễn Thị Thu Nguyên, “Phân tích SWOT chuỗi giá trị cà phê của tỉnh Đắk Lắk” Nguyễn Thị Phương
Linh, “Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành hàng cà
Trang 10phê Việt Nam” Hoàng Thị Vân Anh với công trình “Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê và khả năng tham gia của Việt Nam”
1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích trong ngành cà phê
* Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài bàn đến những khía cạnh liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê
Tác giả Jaime Forero Álvarez với nghiên cứu “Colombian Family
Farmers’ Adaptations to New Conditions in the World Coffee Market” Nhóm
tác giả Guo, H., W Jolly, and J Zhu, “Contract farming in China: Supply
chain or ball and chain?” Tác giả Joni Valkila, Pertti Haaparanta and Niina
Niemi, “Empowering Coffee Traders? The Coffee Value Chain from Nicaraguan
Fair Trade Farmers to Finnish Consumers” Kate Macdonald, “Globalising Justice within Coffee Supply Chains? Fair Trade, Starbucks and the Transformation of Supply Chain Governance” Nghiên cứu “Context and Contingency: The Coffee Crisis for Conventional Small-Scale Coffee Farmers in Brazil” của nhóm tác giả Kelly Watson and Moira Laura Achinelli
* Những công trình nghiên cứu ở trong nước đề cập những khía cạnh liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê
Cuốn sách “Tăng cường năng lực tham gia thị trường của hộ nông dân
thông qua chuỗi giá trị hàng nông sản” của tác giả Lưu Đức Khải Đỗ Thị Nga,
Lê Đức Niêm, “Liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ
cà phê ở Tây Nguyên” Lê Huy Khôi với nghiên cứu, “Giải pháp nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu”
Phan Thị Thanh Trúc và Nguyễn Thị Thúy Hạnh, “Mối liên kết giữa các tác
nhân trong chuỗi giá trị sản phẩm cà phê khu vực Tây Nguyên” Nguyễn Thị
Ngọc Lan, “Đảm bảo lợi ích của người nông dân trong chuỗi giá trị nông sản –
Nghiên cứu trường hợp chuỗi giá trị cà phê Việt Nam” Hoàng Việt Huy, “Quan
hệ lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị nông sản” Nguyễn Duy Thụy
trong nghiên cứu, “Cà phê Tây Nguyên trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu”
1.2 NHỮNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC KẾ THỪA VÀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN
1.2.1 Những luận điểm khoa học kế thừa trong luận án
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã luận giải và làm rõ một số vấn đề
lý luận nói chung liên quan đến LIKT, QHLI bản chất và vai trò của LIKT, QHLI đối với phát triển KT-XH
Thứ hai, các công trình đã đề cập đến vấn đề CGT nói chung và phân
tích CGT nông sản: các nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm về CGT nông sản, trong đó có một số nghiên cứu đã phân tích CGTCP và xác định được các chủ thể cũng như vai trò và khả năng liên kết của các chủ thể trong CGTCP
Thứ ba, một số công trình có đề cập đến vấn đề LIKT của chủ thể người
nông dân trong CGT và cơ bản đều thống nhất cho rằng LIKT của người nông
Trang 11dân thường thấp hơn nhiều so với các tác nhân khác trong chuỗi và chưa thật
sự đảm bảo hài hòa lợi ích với các chủ thể khác
Thứ tư, các nghiên cứu có đưa ra các quan niệm liên quan đến QHLIKT,
trong đó một số công trình nghiên cứu đã phân tích mối QHLIKT giữa hai chủ thể đóng vai trò quan trọng là nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ nông sản cũng như trong CGT nông sản trong đó có ngành sản xuất kinh doanh cà phê
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đó chưa bàn sâu và chưa trình bày có hệ thống về các chủ thể tham gia QHLI trong CGTCP Ít công trình nghiên cứu hoặc bàn trực tiếp đến QHLI trong phát triển CGTCP nhưng cũng đã luận giải được những khía cạnh liên quan đến LIKT của một số chủ thể quan trọng trong chuỗi như người nông dân trồng cà phê, doanh nghiệp
và vai trò của việc đảm bảo hài hòa QHLI giữa các chủ thể để cùng nhau tạo động lực phát triển và mang lại hiệu quả cao trong phát triển CGTCP
1.2.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án
Theo sự hiểu biết của nghiên cứu sinh đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào luận bàn về vấn đề QHLI trong phát triển CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk dưới cách tiếp cận của khoa học Kinh tế chính trị Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết nhằm góp phần luận giải, làm rõ hơn cũng như lấp những khoảng trống mà những công trình nghiên cứu trước đó chưa
đề cập đến, cụ thể:
Một là, làm rõ khái niệm QHLI trong phát triển CGTCP; những đặc điểm, vai
trò và các mối QHLI trong phát triển CGTCP dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị
Hai là, trình bày một cách có hệ thống về các chủ thể tham gia CGTCP,
vai trò của các chủ thể và các mối QHLI giữa các chủ thể; phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo hài hòa QHLI giữa các chủ thể trong phát triển CGTCP; nghiên cứu một số bài học kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới và địa phương trong nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đắk Lắk
Ba là, khảo sát thực trạng QHLIKT giữa các chủ thể chính từ khâu sản
xuất đến chế biến, tiêu thụ trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm
2015 đến 2020, thể hiện rõ nhất là QHLI giữa nông dân với các chủ thể thu mua cà phê; giữa người nông dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê; QHLI giữa các chủ thể thu mua với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ
cà phê; những tác động QHLI đến phát triển CGTCP; vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo hài hòa QHLI trong phát triển CGTCP
Bốn là, cần đưa ra dự báo, quan điểm và xây dựng hệ thống những giải
pháp trên cơ sở khảo sát thực trạng biểu hiện QHLI trong phát triển CGTCP để đảm bảo hài hòa QHLIKT giữa các chủ thể nhằm thúc đẩy phát triển CGTCP
và ngành sản xuất cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk theo hướng hiệu quả và bền vững hơn nữa trong thời gian tới
Trang 12Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH
TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ
2.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ
2.1.1 Những khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về quan hệ lợi ích
Luận án cho rằng: QHLI dưới góc độ kinh tế chính trị là tổng thể các LIKT của các chủ thể cùng tham gia hoạt động kinh tế trong mối liên hệ hữu cơ với nhau dưới sự chi phối của các quy luật kinh tế trong những điều kiện lịch sử cụ thể của quan hệ sản xuất và trình độ của lực lượng sản xuất
2.1.1.2 Khái niệm về chuỗi giá trị cà phê
Luận án quan niệm: CGTCP là một tập hợp các hoạt động được hình thành dựa trên sự gắn kết giữa các chủ thể chính có chức năng sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê bao gồm người nông dân trồng cà phê, các chủ thể thu mua cà phê (thương lái, đại lý thu mua) và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê
2.1.1.3 Khái niệm quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
Luận án quan niệm: QHLI trong phát triển CGTCP là các tương quan về lợi ích giữa các chủ thể tham gia phát triển CGTCP thông qua sự gắn kết, hợp tác từ khâu sản xuất đến tiêu thụ với mục tiêu là phát triển theo hướng chuyên môn hóa, không ngừng hoàn thiện từng khâu cũng như toàn bộ quy trình để thu được giá trị mới tổng thể nhiều hơn và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong CGTCP
2.1.2 Đặc điểm quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
Thứ nhất, đặc điểm của các chủ thể tham gia phát triển CGTCP: gồm các
chủ thể là nhà cung cấp các yếu tố đầu vào, người sản xuất cà phê, chủ thể thu
mua cà phê và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê Thứ hai, QHLI trong
CGTCP chứa đựng nhiều mâu thuẫn, tiềm ẩn nguy cơ dẫn tới những xung đột
về LIKT giữa các tác nhân trong chuỗi Thứ ba, QHLI trong CGTCP gắn với mức
độ liên kết giữa các chủ thể Thứ tư, QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP gắn với những thách thức lớn từ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
2.1.3 Ý nghĩa đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
Một là, giải quyết hài hòa lợi ích trong CGTCP tạo động lực mạnh mẽ thúc
đẩy CGTCP ngày càng phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế cao Hai là, góp
phần quan trọng trong việc nâng cao giá trị gia tăng cho các chủ thể ở mỗi khâu
trong CGTCP Ba là, đảm bảo sự liên kết giữa các chủ thể, “liên kết 5 nhà” ngày càng bền vững và hiệu quả Bốn là, góp phần thúc đẩy ngành cà phê nói
riêng và KT-XH nói chung phát triển theo hướng bền vững trong nền kinh tế thị
trường và hội nhập quốc tế
Trang 132.2 CÁC MỐI QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
2.2.1 Các mối quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê và tiêu chí đánh giá
2.2.1.1 Các mối quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
QHLI của các chủ thể tham gia vào CGTCP được biểu hiện qua các mối quan hệ chủ yếu sau: (1) QHLI giữa nông dân sản xuất cà phê với các chủ thể thu mua cà phê; (2) QHLI giữa nông dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê
và (3) QHLI giữa các chủ thể thu mua với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê Thứ nhất, quan hệ lợi ích giữa nông dân với các chủ thể thu mua cà phê trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
Quan hệ kinh tế giữa nông dân trồng cà phê và các chủ thể thu mua là giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa, do đó hình thức thực hiện QHLI là bán và mua
cà phê diễn ra giữa bên bán (người nông dân) và bên mua (thương lái, đại lý) hoặc thực hiện việc ký gửi cà phê giữa người dân với các thương lái, đại lý
* Về hình thức thực hiện QHLI giữa nông dân với các chủ thể thu mua cà phê trong phát triển chuỗi giá trị cà phê: Hình thức thực hiện QHLI giữa
người nông dân trồng cà phê với các chủ thể thu mua thông qua việc mua bán hay ký gửi cà phê chủ yếu bằng những thỏa thuận không có văn bản như trao đổi trực tiếp bằng miệng hoặc trao đổi thông qua giấy tờ viết tay giữa người
nông dân với các thương lái, đại lý
Thứ hai, quan hệ lợi ích giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
Sự hình thành mối QHLI giữa nông dân sản xuất cà phê với tư cách là người cung ứng cà phê với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ chủ yếu được thực hiện dưới dạng các hợp đồng kinh tế Quan hệ kinh tế giữa nông dân và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê là quan hệ giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa
* Về hình thức thực hiện QHLI giữa nông dân với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê: Một là, hình thức thực hiện QHLI giữa nông dân và doanh
nghiệp thông qua hợp đồng hỗ trợ; Hai là, hình thức thực hiện QHLI giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua hợp đồng ký gửi; Ba là, hình thức thực hiện
QHLI giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua hợp đồng giao nhận khoán;
Bốn là, hình thức thực hiện QHLI giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua
hợp đồng mua bán; Năm là, hình thức thực hiện QHLI giữa nông dân và doanh nghiệp thông qua thành lập các liên minh sản xuất cà phê
Thứ ba, quan hệ lợi ích giữa các chủ thể thu mua cà phê với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ trong phát triển chuỗi giá trị cà phê
QHLI giữa các chủ thể thu mua với doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê được biểu hiện thông qua quá trình hình thành QHLI với các khâu trung gian giữa các chủ thể trong CGTCP từ khâu sản xuất cho đến tiêu thụ
* Về hình thức thực hiện QHLI giữa các chủ thể thu mua với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê: Quan hệ kinh tế giữa các chủ thể thu mua cà phê
và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê diễn ra trong khâu lưu thông hàng hóa Hình thức thực hiện QHLI giữa các chủ thể trung gian và các doanh nghiệp