1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh đắk lắk

216 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk
Tác giả Trương Văn Thủy
Người hướng dẫn PGS, TS. Đoàn Xuân Thủy, TS. Lê Bá Tâm
Trường học Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế chính trị
Thể loại luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 4,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những khó khăn, thách thức trong mối QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang đặt ra nhu cầu cấp thiết cần phải nghiên cứu về các mối QHLI nhằm đảm bảo hài hò

Trang 1

TRƯƠNG VĂN THỦY

QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

TRƯƠNG VĂN THỦY

QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

Mã số: 931 01 02

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS, TS ĐOÀN XUÂN THỦY

2 TS LÊ BÁ TÂM

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ đúng theo quy định hiện hành

Tác giả luận án

Trương Văn Thủy

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ

LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ 7

1.1 Tình hình nghiên cứu liên quan đến quan hệ lợi ích trong phát triển

chuỗi giá trị cà phê 7

1.2 Những luận điểm khoa học kế thừa và những khoảng trống cần tiếp

tục nghiên cứu trong luận án 28

Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG

PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ 31

2.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của quan hệ lợi ích trong phát triển

chuỗi giá trị cà phê 31

2.2 Các mối quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê, tiêu chí

đánh giá và nhân tố ảnh hưởng 45

2.3 Kinh nghiệm đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà

phê ở một số quốc gia trên thế giới, địa phương trong nước và bài học

cho tỉnh Đắk Lắk 65

Chương 3 T HỰC TRẠNG QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI

GIÁ TRỊ CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK 71

3.1 Khái quát về phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk 71

3.2 Thực trạng quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê tỉnh

Đắk Lắk giai đoạn 2015 - 2020 81

3.3 Đánh giá chung về quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà

phê ở tỉnh Đắk Lắk 119

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO HÀI HÒA LỢI ÍCH TRONG

PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ Ở TỈNH ĐẮK LẮK 128

4.1 Dự báo tình hình và quan điểm về đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát

triển chuỗi giá trị cà phê tỉnh Đắk Lắk 128

4.2 Giải pháp đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CGTCP : Chuỗi giá trị cà phê

HNKTQT : Hội nhập kinh tế quốc tế

KT - XH : Kinh tế - xã hội

QHLIKT : Quan hệ lợi ích kinh tế

UNIDO : Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc

Trang 6

Bảng 3.5: Hiệu quả kinh tế bình quân của các chủ thể thu mua cà phê trên địa

bàn tỉnh Đắk Lắk 85Bảng 3.6: Kết quả khảo sát hình thức mua bán cà phê giữa nông dân với các chủ

thể thu mua cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 86Bảng 3.7: Kết quả khảo sát vấn đề ép giá trong mua bán cà phê giữa các chủ thể

thu mua với người dân trồng cà phê ở tỉnh Đắk Lắk 89

Bảng 3.8: Mức độ liên kết giữa nông dân với các chủ thể khác trong phát triển

CGTCP tỉnh Đắk Lắk 91

Bảng 3.9: Thực trạng tham gia các khóa tập huấn của người nông dân trồng cà

phê ở tỉnh Đắk Lắk 92Bảng 3.10: Đánh giá lợi ích khi tham gia các khóa tập huấn của người nông dân

trồng cà phê ở tỉnh Đắk Lắk 93Bảng 3.11: Thực trạng nắm bắt các kênh thông tin giá cả cà phê của người nông

dân ở tỉnh Đắk Lắk 94Bảng 3.12: Hiệu quả kinh tế bình quân của doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà

phê nhân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 95

Bảng 3.13: Thực trạng thực hiện hợp đồng kinh tế giữa nông dân với doanh

nghiệp trong CGTCP tỉnh Đắk Lắk 98Bảng 3.14: Thực trạng thực hiện hợp đồng ký gửi cà phê giữa nông dân với

doanh nghiệp trong CGTCP tỉnh Đắk Lắk 100Bảng 3.15: Thực trạng phương thức mua bán cà phê giữa nông dân với doanh

nghiệp trong CGTCP tỉnh Đắk Lắk 107

Trang 7

Bảng 3.16: Đánh giá về những lợi ích và khó khăn, mâu thuẫn lợi ích trong

QHLI giữa người nông dân và các doanh nghiệp trong CGTCP tỉnh Đắk Lắk 108Bảng 3.17 Một số Liên minh sản xuất cà phê ở tỉnh Đắk Lắk 110Bảng 3.18: Kết quả đánh giá của các doanh nghiệp về khả năng liên kết với

người nông dân trong CGTCP tỉnh Đắk Lắk 112Bảng 3.19: Thực trạng thực hiện QHLI giữa các chủ thể thu mua với các doanh

nghiệp ngành cà phê ở tỉnh Đắk Lắk 113Bảng 3.20: Lợi ích của các chủ thể thu mua cà phê khi tham gia liên kết với các

doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ ở tỉnh Đắk Lắk 115Bảng 3.21: Đánh giá về thu nhập của các chủ thể thu mua cà phê ở tỉnh

Đắk Lắk 116Bảng 3.22: So sánh mức thu nhập bình quân giữa các chủ thể trong chuỗi giá trị

cà phê và thu nhập bình quân đầu người của tỉnh Đắk Lắk năm 2019 117Bảng 3.23: Kết quả đánh giá của người dân về mức độ cải thiện đời sống gia

đình từ hoạt động sản xuất cà phê ở tỉnh Đắk Lắk 121Bảng 3.24: So sánh mức thu nhập của người dân khi bán cà phê nhân qua các

chủ thể thu mua và khi bán trực tiếp cho các doanh nghiệp chế biến cà

phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 123

Bảng 3.25: Mức độ nắm bắt thông tin giá cả cà phê của người nông dân ở tỉnh

Đắk Lắk 124

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang

Biểu đồ 3.1: Giá mua cà phê nhân xô bình quân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk 88

Biểu đồ 3.2: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu cà phê của tỉnh Đắk Lắk 97

Biểu đồ 3.3: Giá xuất khẩu cà phê nhân bình quân ở Đắk Lắk qua các niên vụ 97

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: QHLI trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong điều kiện HNKTQT 12

Sơ đồ 2.1: CGT tổng quát của Michael Porter 35

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ CGT của GTZ 36

Sơ đồ 2.3: Sơ đồ tổng quát về chuỗi giá trị cà phê 37

Sơ đồ 2.4: QHLI trong phát triển CGTCP 45

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế (HNKTQT) ngày càng mạnh mẽ như hiện nay, Việt Nam đã và đang tích cực tranh thủ những thời cơ và vận hội để phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) mà nông nghiệp là một trong những lĩnh vực được chú trọng đầu tư phát triển để phát huy những lợi thế so sánh của đất nước Trong

đó việc nâng cao giá trị gia tăng và lợi ích kinh tế (LIKT) của người nông dân trong chuỗi giá trị (CGT) nông sản là ưu tiên hàng đầu được Đảng và Nhà nước quan tâm Trong lĩnh vực nông nghiệp ở Việt Nam hiện nay, ngành cà phê ngày càng mang lại giá trị xuất khẩu lớn cho nền kinh tế bởi lẽ cà phê là một trong những sản phẩm có

ưu thế của Việt Nam trên trường quốc tế khi mà sản lượng cà phê xuất khẩu lớn thứ hai thế giới Thực tiễn phát triển chuỗi giá trị cà phê (CGTCP) của Việt Nam trong những năm qua đã tạo ra những bước ngoặt quan trọng cùng với đó là những thành quả to lớn khi giá trị xuất khẩu mang lại ngày càng tăng qua các năm Tuy nhiên, thực tế cho thấy mặc dù khối lượng cà phê xuất khẩu lớn nhưng giá trị gia tăng lại thấp và cà phê Việt Nam vẫn đang ở vị trí đáy của CGT cà phê toàn cầu Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vấn đề này là do chưa đảm bảo hài hòa LIKT giữa các chủ thể tham gia vào các khâu trong CGTCP Việt Nam từ khâu sản xuất cho đến khâu tiêu thụ, trong đó đáng chú ý là thu nhập của người nông dân bấp bênh khi đây là chủ thể thực hiện khâu sản xuất cà phê trong CGTCP

Đắk Lắk là tỉnh nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên với diện tích tự nhiên khoảng 13.030,49 km2, dân số hơn 1,87 triệu người gồm 49 dân tộc anh em cùng sinh sống và làm việc Đắk Lắk có thế mạnh về sản xuất nông nghiệp với những mặt hàng nông sản có giá trị xuất khẩu cao như: cà phê, bơ, hồ tiêu, trong đó cà phê là sản phẩm chủ lực trong phát triển nông nghiệp của tỉnh Đến nay diện tích cây cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã chạm con số hơn 208.000 ha, chiếm khoảng hơn 40% diện tích cà phê của khu vực Tây Nguyên và hơn 30% diện tích cà phê của

cả nước với sản lượng cà phê hằng năm của tỉnh Đắk Lắk đạt từ 450.000 đến gần 500.000 tấn cà phê nhân Đây cũng là mặt hàng xuất khẩu chủ lực, chiếm đến 86% kim ngạch xuất khẩu từ các sản phẩm nông sản nói chung, đóng góp hơn 60% tổng thu ngân sách hằng năm của tỉnh Ngoài ra, hoạt động sản xuất kinh doanh cà phê ở

Trang 10

tỉnh Đắk Lắk còn giải quyết việc làm ổn định cho hơn 300.000 lao động trực tiếp và gần 200.000 lao động gián tiếp có liên quan đến ngành cà phê [106, tr.1] góp phần quan trọng trong việc cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân trồng cà phê theo hướng tích cực và bền vững hơn khi mà CGTCP tỉnh Đắk Lắk ngày càng khẳng định được vị thế của mình

Tuy nhiên, với sản lượng xuất khẩu lớn nhưng giá trị thu về lại thấp của ngành

cà phê Đắk Lắk đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải giải quyết, nhất là trong việc phát triển CGTCP từ khâu sản xuất đến tiêu thụ khi mà LIKT của các chủ thể tham gia ở mỗi khâu chưa đảm bảo và tương xứng với lao động đã hao phí mà người nông dân trồng cà phê là một minh chứng điển hình với công sức bỏ ra nhiều nhưng giá trị thu

về thì lại thấp trong CGTCP, còn các doanh nghiệp chủ yếu chế biến thô và xuất khẩu

cà phê nhân nên giá trị gia tăng thấp Biểu hiện ra bên ngoài đó chính là lợi ích giữa các chủ thể tham gia CGTCP chưa được hài hòa, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn lợi ích giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh cà phê của tỉnh Cùng với đó, quá trình HNKTQT vừa mang lại những thuận lợi nhưng cũng dễ làm nảy sinh những xung đột lợi ích trong quá trình phát triển CGTCP ở Đắk Lắk Với những khó khăn, thách thức trong mối QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đang đặt

ra nhu cầu cấp thiết cần phải nghiên cứu về các mối QHLI nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào CGTCP để thúc đẩy ngành sản xuất kinh doanh cà phê phát triển và đóng góp cho sự tăng trưởng của ngành nông nghiệp, đồng thời khẳng định được vị thế ngành cà phê của Đắk Lắk nói riêng và Việt Nam nói chung trên bản đồ cà phê thế giới

Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, nghiên cứu sinh chọn đề tài: “Quan hệ lợi ích

trong phát triển chuỗi giá trị cà phê ở tỉnh Đắk Lắk” để làm luận án

2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của luận án là làm rõ lý luận QHLI trong phát triển CGTCP, trên cơ

sở đó phân tích thực trạng các mối QHLI trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

và đề xuất những giải pháp nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong phát triển CGTCP của tỉnh hơn nữa trong thời gian tới

Để hoàn thành mục đích trên, luận án đặt ra và thực hiện một số nhiệm vụ sau:

- Làm rõ cơ sở khoa học để nhận diện và phân tích các mối QHLI giữa các chủ thể tham gia vào phát triển CGTCP: đặc điểm, ý nghĩa, các nhân tố ảnh hưởng, các hình thức thực hiện QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP

Trang 11

- Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trên thế giới và địa phương trong nước về đảm bảo hài hòa QHLI trong phát triển CGTCP và rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đắk Lắk

- Khảo sát thực trạng QHLI giữa các chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2015 – 2020, đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế

- Đưa ra những dự báo, quan điểm đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk tầm nhìn đến 2030

- Đề xuất những nhóm giải pháp để đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài

3.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các mối QHLI giữa các chủ thể chính trong CGTCP gồm QHLI giữa người nông dân trồng cà phê với các chủ thể thu mua

và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

3.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

* Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Luận án nghiên cứu về QHLI trong phát

triển CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk, tuy nhiên luận án không đề cập đến QHLI nói chung

mà chỉ nghiên cứu QHLI ở góc độ kinh tế giữa các chủ thể tham gia CGTCP trên thị trường trong nước Trong CGTCP có sự tham gia của nhiều chủ thể ở các khâu khác nhau, vì vậy trong phạm vi về nội dung luận án không nghiên cứu toàn bộ QHLI của các chủ thể mà chỉ tập trung nghiên cứu quan hệ lợi ích kinh tế (QHLIKT) giữa những chủ thể chính trong CGTCP từ khâu sản xuất đến chế biến, tiêu thụ cà phê nhân ở tỉnh Đắk Lắk Cụ thể, luận án tập trung nghiên cứu các mối QHLIKT giữa ba chủ thể đóng vai trò quan trọng trong phát triển CGTCP gồm người nông dân trồng cà phê, các chủ thể thu mua và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê Từ đó hình thành nên các mối QHLI gồm: QHLI giữa người nông dân sản xuất cà phê với các chủ thể thu mua cà phê, QHLI giữa người nông dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê và QHLI giữa các chủ thể thu mua với các doanh nghiệp chế biến Ngoài ra, những chủ thể khác tham gia vào CGTCP như Nhà nước, nhà khoa học luận án có đề cập đến nhưng không đi sâu phân tích, các chủ thể khác nhưng ở các khâu trung gian quy mô nhỏ lẻ khác trên địa bàn và các

Trang 12

chủ thể đồng thời thực hiện nhiều chức năng khác trong CGTCP thì luận án không nghiên cứu để tập trung làm rõ 3 mối QHLI nói trên trong CGTCP ở Đắk Lắk

* Phạm vi về không gian: luận án nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk

* Phạm vi về thời gian: luận án khảo sát thực trạng QHLI trong phát triển

CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk giai đoạn từ 2015 đến 2020, tương ứng với kế hoạch 5 năm phát triển KT-XH của tỉnh Đắk Lắk; dự báo, quan điểm và giải pháp tầm nhìn đến

4.2 Phương pháp tiếp cận

Một là, luận án tiếp cận từ cơ sở lý luận và thực tiễn về QHLI, CGTCP và

QHLI trong phát triển CGTCP ở góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị về quan hệ xã hội giữa các chủ thể với nhau trong quá trình tái sản xuất thông qua sản xuất, trao đổi và phân phối trong CGTCP

Hai là, nghiên cứu tiếp cận từ các nguồn tài liệu, báo cáo, tổng kết, các ấn phẩm

thống kê của các cơ quan chức năng, các Sở, Ban, Ngành và các chủ thể tham gia khảo sát trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk nhằm phân tích, minh họa cho kết quả nghiên cứu

Ba là, luận án tiếp cận từ những chính sách, kế hoạch, chiến lược phát triển

ngành cà phê của Việt Nam nói chung và tỉnh Đắk Lắk nói riêng có liên quan đến QHLI trong phát triển CGTCP

4.3 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Thứ nhất, phương pháp thu thập số liệu

- Đối với số liệu thứ cấp: luận án thu thập và sử dụng các dữ liệu do các cơ quan chính quyền địa phương đã báo cáo và công bố liên quan đến LIKT, hiệu quả sản xuất nông nghiệp,… như Báo cáo hàng năm của Cục Thống kê tỉnh Đắk Lắk, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Công thương, các báo cáo thống kê của các doanh nghiệp đã công bố và các cơ quan ở các địa phương của tỉnh Đắk Lắk

- Đối với số liệu sơ cấp: Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học thông qua khảo sát bằng phiếu điều tra để thu thập số liệu sơ cấp nhằm làm rõ thêm đối tượng nghiên cứu, cụ thể:

Trang 13

Luận án đã tiến hành điều tra xã hội học đối với các chủ thể sản xuất, thu mua, chế biến cà phê ở Đắk Lắk năm 2020 nhằm thu thập số liệu sơ cấp minh họa thêm cho kết quả nghiên cứu Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra với quy mô mẫu là 360 phiếu điều tra (trong đó gồm 300 phiếu điều tra hộ nông dân trồng cà phê, 45 phiếu điều tra các chủ thể thu mua và 15 phiếu điều tra các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê ở tỉnh Đắk Lắk) Về cách thức chọn mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên không lặp lại phân theo các địa bàn sản xuất cà phê với 8 địa phương được chọn điều tra gồm: huyện Ea H’Leo, huyện Cư M’Gar, thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Búk, huyện Cư Kuin, huyện Krông Pắc, huyện Krông Bông và huyện Buôn Đôn; trong đó có 3 địa phương có diện tích trồng cà phê lớn nhất, 3 địa phương có diện tích trồng trung bình và 2 địa phương

có diện tích trồng cà phê ít trên địa bàn tỉnh nhằm đảm bảo tính đại diện mẫu trong quá trình điều tra khảo sát Ngoài ra, để thu thập thêm các thông tin cần thiết phục

vụ cho mục đích nghiên cứu, luận án còn sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia đối với các chủ thể trong CGTCP tỉnh Đắk Lắk

Thứ hai, phương pháp xử lý số liệu

Đối với số liệu sau khi thu thập được, sẽ tiến hành nhập số liệu phân theo 3 đối tượng khảo sát tương ứng gồm hộ nông dân trồng cà phê, các chủ thể thu mua cà phê và các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê sau đó xử lý số liệu bằng công cụ Excel với những hàm tính toán như SUMIF, COUNTIF, AVERAGEIF,… và sử dụng một số công thức trong kinh tế học như: Tổng doanh thu (TR) = Sản lượng (q)

x Đơn giá (p), Lợi nhuận (Pr) = Tổng doanh thu (TR) – Tổng chi phí (TC),…để tính toán số liệu điều tra nhằm minh họa và phục vụ cho nghiên cứu

Thứ ba, phương pháp phân tích số liệu

Luận án sử dụng phương pháp thống kê mô tả các kết quả từ số liệu thu thập được, từ đó tiến hành phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích rút nhận xét để làm

rõ các mối QHLI giữa các chủ thể chính trong CGTCP ở địa bàn nghiên cứu Ngoài

ra, nghiên cứu còn sử dụng công cụ vẽ sơ đồ và mô tả CGT sản phẩm cà phê để nhận diện các mối QHLI giữa các chủ thể và quy trình vận hành trong CGTCP

5 Những đóng góp khoa học mới của luận án

Một là, luận án góp phần xây dựng khung lý thuyết cơ bản về QHLI trong

phát triển CGTCP trên địa bàn cấp tỉnh dưới góc độ tiếp cận của khoa học Kinh

tế chính trị

Trang 14

Hai là, luận án chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng, rút ra những bài học kinh

nghiệm về đảm bảo hài hòa QHLI trong phát triển CGTCP trên cơ sở phân tích kinh nghiệm về hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP ở một số quốc gia trên thế giới cũng như một số địa phương trong nước

Ba là, luận án khảo sát và phân tích thực trạng về QHLI giữa các chủ thể trong

phát triển CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế về QHLI trong phát triển CGTCP ở tỉnh Đắk Lắk

Bốn là, nghiên cứu đưa ra và phân tích những dự báo, quan điểm và đề xuất

những giải pháp để đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể trong phát triển CGTCP

ở tỉnh Đắk Lắk nhằm thúc đẩy phát triển ngành sản xuất kinh doanh cà phê hơn nữa trong thời gian tới

6 Ý nghĩa khoa học của luận án

- Hệ thống khái niệm, phạm trù và khung lý thuyết của luận án về QHLI trong phát triển CGTCP góp phần bổ sung cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo về QHLI trong phát triển CGTCP trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và quá trình HNKTQT nói chung và đối với địa bàn cụ thể cấp tỉnh nói riêng

- Kết quả nghiên cứu khảo sát thực trạng về QHLI giữa các nhóm chủ thể trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, rút ra kết quả về những thuận lợi, hạn chế và những nguyên nhân; dự báo và đề xuất những nhóm giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích trong phát triển CGTCP ở Đắk Lắk là tư liệu tham khảo mà chính quyền địa phương các cấp có thể sử dụng để hoạch định chính sách phát triển ngành cà phê

- Kết quả nghiên cứu trong luận án có thể sử dụng để làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy cho các hệ đại học, sau đại học chuyên ngành kinh tế

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án được trình bày trong 4 chương, 10 tiết

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ

1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ CÀ PHÊ

1.1.1 Các công trình nghiên cứu bàn về quan hệ lợi ích

1.1.1.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích

Trong cuốn sách “Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội” của tác giả

V.P.Ca-man-kin [3] đã bàn đến những khía cạnh xoay quanh vấn đề liên quan đến LIKT như phân tích tính khách quan của LIKT, mối quan hệ trong các LIKT

Trong đó, đáng chú ý tác giả đã trình bày quan niệm về LIKT và cho rằng: “Lợi

ích kinh tế của một chủ thể nhất định là sự tác động lẫn nhau giữa các nhu cầu kinh tế của chủ thể đó” [3, tr.7] Như vậy, LIKT có nguồn gốc từ các nhu cầu kinh

tế trong những hoạt động của các chủ thể Trên cơ sở đó, tác giả nhấn mạnh đến vấn đề nhu cầu của con người dưới góc độ kinh tế chứ không phải là nhu cầu chung chung khi nói đến vấn đề lợi ích và LIKT

Cùng với đó, tác giả Ju.K.Pletnicov với nghiên cứu “Lý luận phản ánh của

Lênin dưới ánh sáng của sự phát triển khoa học và thực tiễn” [73] đã nhấn mạnh

đến tính khách quan của LIKT và mối quan hệ biện chứng giữa LIKT với các vấn

đề khác trong xã hội Khi đề cập đến vấn đề này trong nghiên cứu của mình, tác

giả đã khẳng định rằng: “Lợi ích quan hệ với mặt khách quan của đời sống xã hội,

là hiện tượng khách quan của hiện thực, rằng lợi ích xã hội không thể tồn tại thiếu chủ thể và chính các quan hệ xã hội, những lợi ích xã hội này không phải bởi ý thức chủ thể mà do địa vị xã hội khách quan của họ” [73, tr.402] Như vậy,

khi nói đến LIKT phải luôn gắn liền với những chủ thể nhất định tương ứng với LIKT đó, trên cơ sở đó QHLIKT giữa các chủ thể được hình thành và biểu hiện dưới các LIKT của mỗi chủ thể đó trong xã hội

Trong cuốn sách của V.N.Lavrinenko với tựa đề Những vấn đề lợi ích xã hội

Trang 16

trong chủ nghĩa Lênin [45] đã nghiên cứu khá sâu sắc về vấn đề lợi ích và các mối

quan hệ liên quan đến lợi ích Tác giả đã chỉ ra cơ sở của việc hình thành QHLI trong xã hội đó chính là do mối quan hệ giữa vấn đề nhu cầu và lợi ích, giữa nhu cầu và lợi ích luôn có mối quan hệ hữu cơ với nhau và QHLI chỉ xuất hiện khi có quan hệ nhu cầu giữa các chủ thể trong xã hội Mặt khác, nghiên cứu cho rằng

LIKT có tính khách quan và chỉ rõ: “Lợi ích là mối quan hệ khách quan của sự tự

khẳng định xã hội của chủ thể” [45, tr.16], quan điểm này của V.N.Lavrinenko

cũng tương đồng với những quan điểm trước đó của các nghiên cứu về LIKT

Trong nghiên cứu Innovation, Cooperation, and the Perceived Benefits and

Costs of Sustainable Agriculture Practices (Đổi mới, hợp tác và sự nhận thức về

lợi ích và chi phí của việc thực hiện nông nghiệp bền vững) của nhóm tác giả Mark Lubell, Vicken Hillis và Matthew Hoffman [129] đã nhấn mạnh đến vai trò của sự hợp tác, liên kết trong nông nghiệp để cùng nhau mang lại LIKT, môi trường và xã hội, nhất là đối với LIKT của người nông dân Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng đối với một số ngành sản xuất trong nông nghiệp phổ biến như khảo sát người nông dân trồng nho cho hoạt động sản xuất rượu vang, tác giả đã tiến hành định lượng về chi phí và lợi ích của các hoạt động trồng nho được sản xuất theo các chương trình chứng nhận và phát triển bền vững Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc không đảm bảo hài hòa giữa LIKT, lợi ích môi trường

và chi phí kinh tế sẽ làm tăng chi phí và giảm LIKT trong dài hạn Do đó, nghiên cứu cho rằng để giải quyết thực trạng này và góp phần thực hiện LIKT cho người nông dân cần phải không ngừng đổi mới, tăng cường hợp tác và cập nhật những kiến thức để nâng cao LIKT cho người nông dân

1.1.1.2 Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích

* Một là, những công trình nghiên cứu về lợi ích, lợi ích kinh tế

Lợi ích, LIKT là một trong những vấn đề được các tác giả trong nước quan tâm

nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau Trong cuốn sách “Bàn về các lợi ích kinh tế”

của nhóm tác giả gồm Đào Duy Tùng, Phạm Thành, Vũ Hữu Ngoạn, Lê Xuân Tùng, Nguyễn Duy Bảy [100] đã đưa ra các quan niệm và phân tích vấn đề LIKT ở các góc

độ khác nhau Trước hết, khi bàn về vai trò của LIKT, các tác giả đều thống nhất cho

Trang 17

rằng “Lợi ích kinh tế là một trong những động lực cơ bản, phổ biến của sự phát triển

không ngừng của sản xuất và đời sống xã hội” [100, tr.15] Bên cạnh đó, khi luận

giải yếu tố khách quan của vấn đề LIKT nhóm tác giả cũng đồng tình với các nghiên

cứu trước rằng “Lợi ích kinh tế là phạm trù khách quan, Lợi ích kinh tế là hình thức

biểu hiện trước hết của quan hệ sản xuất, nó không tùy thuộc vào ý chí, lòng ham muốn của con người” [100, tr.62], nghiên cứu còn khẳng định rằng LIKT có cơ sở từ

nhu cầu kinh tế và được thể hiện trong cả bốn khâu của quá trình tái sản xuất gồm sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng Ngoài ra, khi bàn về vấn đề LIKT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nhóm tác giả đưa ra ba lợi ích của các chủ thể trong xã hội là lợi ích của người lao động, lợi ích của tập thể và lợi ích của xã hội, giữa chúng

có mối quan hệ biện chứng với nhau

Trong nghiên cứu của tác giả Chu Văn Cấp về “Lợi ích kinh tế trong thời kỳ

quá độ lên chủ nghĩa xã hội: Những hình thức kết hợp và phát triển chúng trong lĩnh vực kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [5] cho rằng LIKT là mắt khâu

không thể tách rời trong cơ chế nội tại của sự phát triển kinh tế, trong cơ chế tác động của các quy luật kinh tế và khẳng định LIKT là một hình thức biểu hiện của các quan hệ sản xuất Khi đi sâu phân tích những LIKT trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tác giả đưa ra nhận định một cách đầy đủ rằng, trong thời

kỳ quá độ ngoài LIKT của giai cấp nông dân, của giai cấp công nhân, của tập thể và tầng lớp trí thức, những lợi ích này được biểu hiện thông ở lợi ích người lao động, lợi ích của tập thể và của toàn dân Ngoài ra, trong thời kỳ quá độ còn có những lợi ích khác như lợi ích của các nhà tư bản tư nhân, của những người sản xuất nhỏ cá thể, tồn tại cùng với hệ thống xã hội chủ nghĩa của thời kỳ quá độ và phục thuộc vào nó [5, tr.5] Những lợi ích này là phức tạp và không đồng nhất, mỗi thành phần kinh tế có những LIKT tương ứng, do đó để phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ

ở Việt Nam nghiên cứu cho rằng các lợi ích trong xã hội cần phải được thống nhất,

hài hòa trong quá trình thực hiện theo quan điểm “Cái gì có lợi đối với xã hội, cần

phải có lợi đối với tập thể lao động và mỗi người lao động” [5, tr.3] và cần có sự

kết hợp giữa các lợi ích, phát triển chúng trên cơ sở giữ vững lợi ích toàn dân

Theo Phạm Thị Thương [93], LIKT chính là yếu tố gắn kết giữa người lao động với doanh nghiệp, LIKT là một phạm trù kinh tế khách quan, là hình thức

Trang 18

biểu hiện mối quan hệ giữa người lao động với các chủ thể khác tham gia hoạt động trong doanh nghiệp [93, tr.35] Tác giả đã phân tích nội dung LIKT của người lao động với các hình thức biểu hiện gồm: thu nhập bằng tiền của người lao động với hình thức biểu hiện là tiền lương, khoản tiền thưởng và phụ cấp cho người lao động; được làm việc của người lao động được biểu hiện thông qua tình trạng làm việc; được bảo vệ an toàn và vệ sinh lao động; nâng cao trình độ khi làm việc và được thể hiện thông qua quá trình đào tạo, đào tạo lại và nâng cao tay nghề; tham gia chế độ bảo hiểm và các chế độ bảo hiểm; hỗ trợ nhà ở và phương tiện đi lại Trong nghiên cứu của Phạm Quốc Quân [78], đã chỉ ra những bất cập trong việc phân phối đảm bảo lợi ích của người nông dân khi tham gia CGT hàng hóa nông sản như: giá trị gia tăng thấp mặc dù sản lượng trong ngành nông nghiệp tăng; tình trạng nông dân được mùa rớt giá, bị thương lái ép giá, nông dân chính là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa nhưng lại là người hưởng lợi ít nhất,…dẫn đến LIKT của người nông dân chưa được đảm bảo Tác giả đã luận giải và chỉ ra 4 nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do việc ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế; chi phí đầu vào và các khoản phí nông nghiệp khác ngày càng tăng trong khi giá cả nông sản bấp bênh; sự thiếu chặt chẽ trong liên kết giữa các tác nhân trong CGT hàng hóa nông sản và một số chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp của Nhà nước chưa thật sự đi vào cuộc sống

Tác giả Nguyễn Thị Minh Loan với nghiên cứu Lợi ích kinh tế của người lao

động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn thành phố Hà Nội [51] cho rằng LIKT của người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư

nước ngoài là một phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa người lao động với chủ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và phản ánh những nhu cầu, động cơ khách quan của người lao động khi tham gia vào các hoạt động kinh tế Nghiên cứu đã đưa ra 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến LIKT của người lao động gồm nhóm các nhân tố ảnh hưởng gián tiếp: hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; vai trò của nhà nước đối với doanh nghiệp; môi trường tự nhiên KT-XH và nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp: người lao động; hoạt động của tổ chức công đoàn cơ sở; thị trường lao động

và nhân tố thuộc về doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở các khía cạnh như

Trang 19

quy mô của doanh nghiệp, trình độ trang bị kỹ thuật, hiệu quả sản xuất kinh doanh, năng lực sản xuất của doanh nghiệp, chế độ trả lương cho người lao động

* Hai là, những công trình nghiên cứu về quan hệ lợi ích

Trong cuốn sách Góp phần tìm hiểu quan hệ lợi ích của Nguyễn Linh Khiếu

[41] khi bàn về QHLI, tác giả cho rằng lợi ích thể hiện mối quan hệ giữa con người với điều kiện tồn tại xã hội Lợi ích của mỗi cá nhân khác nhau thì khác nhau tùy theotính chất và nội dung của nhu cầu Trong điều kiện hiện tồn của xã hội, lợi ích gắn liền với bảo đảm khả năng thỏa mãn nhu cầu của các giai cấp Dưới góc độ triết học, tác giả đã phân tích vấn đề lợi ích trong mối quan hệ với nhu cầu của con người Từ đó nghiên cứu cho rằng, quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định bao giờ cũng được thể hiện tập trung nhất ở các QHLI, trong đó QHLIKT biểu hiện thông qua LIKT giữa các chủ thể là cơ bản và quan trọng để thúc đẩy xã hội phát triển

Tác giả Đặng Quang Định với cuốn sách Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công

nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay [17] đã làm rõ những những LIKT

và trình bày những biểu hiện xung đột trong LIKT giữa công nhân, nông dân, trí thức và lý giải những nguyên nhân chính của các mâu thuẫn lợi ích của các giai cấp

và tầng lớp này như: do sự chênh lệch về thu nhập và thụ hưởng phúc lợi xã hội; trình độ chuyên môn, môi trường làm việc; những vấn đề liên quan đến quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất và do việc phân phối phúc lợi xã hội ở một số lĩnh vực chưa thật sự công bằng Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cơ bản nhằm tăng cường sự thống nhất LIKT giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay đó là: hoàn thiện chế độ công hữu; thực hiện tốt các hình thức phân phối bảo đảm công bằng LIKT cho người lao động; hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội góp phần điều chỉnh các QHLI; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, tạo môi trường thuận lợi cho sự thống nhất LIKT giữa các chủ thể; xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách về nông nghiệp, nông thôn

Trong cuốn sách Bảo đảm quan hệ lợi ích hài hòa về sở hữu trí tuệ trong hội

nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam của tác giả Ngô Tuấn Nghĩa [68], nghiên cứu

đã trình bày những vấn đề liên quan đến QHLI, lĩnh vực sở hữu trí tuệ, trong đó

tác giả đã đưa ra khái niệm về QHLI trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: “Quan hệ lợi

Trang 20

ích trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là sự gắn kết giũa các chủ thể liên quan tới việc sáng tạo, sở hữu và sử dụng tài sản trí tuệ với mục đích khai thác lợi ích từ các tài sản đó” [68, tr.13-14] Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích cấu trúc các bộ phận hợp

thành QHLI trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ gồm các chủ thể: chủ thể sáng tạo tài sản trí tuệ, chủ thể sở hữu tài sản trí tuệ và chủ thể sử dụng tài sản trí tuệ; Nghiên cứu cho rằng, QHLI trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ được tạo thành bởi các mối quan hệ gồm: (1) Mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể sở hữu tài sản trí tuệ; (2) Mối quan hệ giữa chủ thể sử dụng và chủ thể sở hữu tài sản trí tuệ; (3) Mối quan hệ giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể sử dụng tài sản trí tuệ, được thể hiện ở sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1: QHLI trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ trong điều kiện HNKTQT,

Trong cuốn sách Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa

ở nước ta hiện nay của Đỗ Huy Hà [20], tác giả đã làm rõ quan niệm về lợi ích,

Tài sản trí tuệ

và lợi ích của tài sản trí tuệ

Chủ thể sở hữu Chủ thể sáng tạo

Chủ thể sử dụng

Trang 21

LIKT, nhấn mạnh vai trò của việc giải quyết QHLIKT với tư cách là động lực của

các hoạt động KT-XH Nghiên cứu cho rằng: “Để giải quyết đúng đắn các quan hệ

(mâu thuẫn) về lợi ích kinh tế trong đời sống xã hội, trước hết phải tạo điều kiện thỏa mãn tốt nhất lợi ích của tất cả các chủ thể tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động kinh tế nãy sinh các quan hệ lợi ích đó…” [20, tr.13] Tác giả đã trình bày

những nội dung giải quyết QHLIKT trong quá trình đô thị hóa ở nước ta ở các khía cạnh: QHLI giữa người dân bị thu hồi đất với Nhà nước, QHLI giữa người dân bị thu hồi đất với nhà đầu tư sử dụng đất, QHLI giữa nhà đầu tư sử dụng đất với Nhà nước và QHLI giữa Nhà nước, nhà đầu tư và nhân dân bị thu hồi đất Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra những nhân tố tác động đến việc giải quyết QHLIKT trong quá trình đô thị hóa gồm: điều kiện địa lý tự nhiên và vị thế của mỗi địa phương; sự phát triển KT-XH trong điều kiện kinh tế thị trường và HNKTQT; quy hoạch, thể chế, chính sách của Trung ương và địa phương; thời gian, tiến độ và chất lượng thực hiện các dự án và các yếu tố thuộc về tập quán, tâm lý xã hội

Trong nghiên cứu Giải quyết quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội

trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay của Hoàng Văn Khải [39],

tác giả cho rằng LIKT là những lợi ích phản ánh trực tiếp các quan hệ kinh tế và

các điều kiện sinh hoạt kinh tế của xã hội Nghiên cứu cũng khẳng định: “Thực

chất quan hệ xẫ hội dù được xem xét ở bất cứ lĩnh vực nào đi nữa, cũng là quan

hệ lợi ích, là quan hệ giữa người với người trong hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình” [39, tr.50] Trên cơ sở đó, tác giả phân tích quan hệ giữa lợi ích cá

nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường với những nội dung chủ yếu gồm: giải quyết tốt lợi ích cá nhân chính đáng tạo cơ sở, điều kiện để giải quyết lợi ích xã hội; giải quyết tốt lợi ích xã hội sẽ tạo tiền đề để lợi ích cá nhân chính đáng để thực hiện; nếu giải quyết không đúng đắn quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội sẽ gây tổn hại cả lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội;

Tác giả Trần Hoàng Hiểu [25] trong nghiên cứu “Quan hệ lợi ích kinh tế

giữa nông dân và doanh nghiệp trong phát triển cánh đồng lớn ở đồng bằng song Cửu Long” đã phân tích LIKT và QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp

trong cánh đồng lớn Trong đó, nghiên cứu chỉ ra những LIKT của người nông dân trong cánh đồng lớn gồm: (i) được hưởng lợi từ quyền sử dụng đất nông

Trang 22

nghiệp, (ii) thu nhập của người nông dân được nâng cao, (iii) gia tăng chất lượng, giá trị sản phẩm, đảm bảo việc làm và đầu ra của sản phẩm và (iv) các LIKT thu được từ chính sách ưu đãi, hỗ trợ của Nhà nước đối với nông dân; đối với các doanh nghiệp, LIKT trước hết là có được lợi nhuận cao, có nhiều cơ hội

để mở rộng đầu tư và phát triển sản xuất, làm đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh và các lợi ích khác từ sự hỗ trợ và các chính sách ưu đãi của Nhà nước [25, tr.48] Bên cạnh đó, tác giả cho rằng mối QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trong mô hình cánh đồng lớn biểu hiện tập trung ở hiệu quả kinh tế, xã hội

và môi trường của hoạt động sản xuất kinh doanh của hai chủ thể nêu trên

Trong đề tài nghiên cứu khoa học của Nguyễn Thị Thu Hường với nội dung

Mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay [37] tác giả đã phân tích

những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về vấn đề lợi ích và mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội và cho rằng mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội vừa có tính thống nhất, song cũng có sự khác biệt và mâu thuẫn Trên cơ sở khảo sát thực và rút ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân, nghiên cứu đã đưa ra 5 giải pháp cụ thể nhằm giải quyết những mâu thuẫn trong quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội ở Việt Nam, gồm: một là, giải quyết hợp lý vấn đề sở hữu - cơ sở để giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội; hai là, thực hiện tốt các hình thức phân phối, đảm bảo lợi ích cho cá nhân và xã hội; ba là, thực hiện tốt các chính sách xã hội, đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; bốn là, tích cực đấu tranh chống tham nhũng để hạn chế sự phân cực và bất bình đẳng trong xã hội và năm là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân

Tác giả Trần Thị Minh Châu với nghiên cứu Quan hệ lợi ích giữa các chủ

thể kinh tế trong Luật Đất đai ở Việt Nam [6] đã phân tích QHLI giữa các chủ thể

kinh tế trong Luật Đất đai ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những những bất cập trong phân chia quyền và lợi ích từ đất giữa chủ thể Nhà nước – đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai và Người sử dụng đất, biểu hiện ra chính là những xung đột lợi ích giữa các chủ thể như tình trạng quy hoạch “treo”, quyền thu hồi đất của Nhà nước khiến người sử dụng đất chỉ có quyền trong những giới

Trang 23

hạn chật hẹp, tình trạng quản lý lỏng lẻo và kém hiệu quả [6, tr.42-43], đó là những minh chứng cho thấy QHLI giữa các chủ thể chưa thật sự bảo đảm một cách hài hòa dẫn đến kìm hãm sự phát triển, nhất là đối với người sử dụng đất Nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Thị Kim Anh, Phan Lê Diễm Hằng [13] đã khảo sát quá trình phân phối lợi ích giữa các chủ thể thông qua phương pháp phân tích kinh tế CGT trường hợp đối với mặt hàng thủy sản khai thác cá ngừ sọc dưa ở Khánh Hòa Để làm rõ được lợi ích và phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong CGT sản phẩm thủy sản gồm ngư dân, trung gian mua bán, công ty chế biến xuất khẩu, người bán buôn và bán lẻ và người tiêu dùng cuối cùng, nghiên cứu đã phân tích các nội dung và sử dụng phương pháp tính toán như: Xác định cấu trúc kênh thị trường của CGT, xác định các tác nhân tham gia, các mối liên kết; phân tích chi phí và lợi nhuận biên; phân tích phân phối lợi ích Ngoài ra, nghiên cứu còn điều tra khảo sát trực tiếp các tác nhân then chốt tham gia trong chuỗi bằng bảng hỏi để thấy rõ lợi ích và những xung đột lợi ích trong phân phối của các chủ thể trong CGT sản phẩm cá ngừ sọc dưa tại Khánh Hòa

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thuận với nội dung Quan hệ lợi ích giữa người

nuôi và doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu trong chuỗi giá trị cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long [88] đã làm rõ mối QHLI giữa người nuôi và doanh nghiệp chế

biến, xuất khẩu trong CGT cá Tra ở đồng bằng song Cửu Long Tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng lợi ích của người nuôi cá Tra ở các khía cạnh như năng suất bình quân, chi phí đầu vào, doanh thu, tiền lời; đối với lợi ích của doanh nghiệp chế biến

và xuất khẩu trong CGT cá Tra đã khảo sát thực trạng về chi phí, doanh thu xuất khẩu, lợi nhuận Kết quả nghiên cứu chỉ ra những thách thức, rủi ro đối với lợi ích của người nuôi cá và doanh nghiệp chế biến xuất khẩu khi QHLI giữa các chủ thể chưa thật sự hài hòa

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến quan hệ lợi ích trong phát triển chuỗi giá trị cà phê

1.1.2.1 Các công trình bàn những khía cạnh chung về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị cà phê

* Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị cà phê ở nước ngoài

Trong nghiên cứu Competitive Advantage của Michael E Porter (Lợi thế

cạnh tranh) [74], tác giả đã phân tích về CGT thông qua các mắc xích trong quá

Trang 24

trình cung ứng của doanh nghiệp (logistics hướng nội, hoạt động, logistics hướng ngoại, tiếp thị và bán hàng, và dịch vụ hậu mãi), việc chuyển hóa các đầu vào này thành đầu ra (các quá trình sản xuất, kho vận, chất lượng và cải tiến liên tục), và các dịch vụ hỗ trợ mà doanh nghiệp bố trí để hoàn tất và các chức năng khác nhau của mỗi mắc xích đó Từ đó, Porter gọi các hoạt động nội bộ mắt xích này là CGT Nghiên cứu còn trình bày khái niệm về CGT nhiều mắt xích, mà tác giả gọi là hệ thống giá trị, về cơ bản, hệ thống giá trị mở là CGT cho các mối liên kết giữa các khâu trong chuỗi

Nhóm tác giả R.Kaplinsky and M.Morris với nghiên cứu A handbook for

value chain research (Cẩm nang về nghiên cứu chuỗi giá trị) [128] đã chỉ ra ba

yếu tố chính trong phân tích CGT gồm: những rào cản trong việc gia nhập CGT, vấn đề quản trị chuỗi và phân loại CGT Ngoài ra tác giả chỉ ra những rào cản đối với phát triển CGT trong đó có sự phân phối lợi nhuận và thu nhập bất bình đẳng giữa các chủ thể tham gia trong chuỗi Nghiên cứu cũng nhấn mạnh đến vai trò của chính phủ trong việc nâng cấp CGT nông sản thông quá các chương trình, chính sách hỗ trợ tích cực cho các tác nhân trong chuỗi và đề cập đến vai trò quan trọng của vấn đền quản trị chuỗi có hiệu quả

C.Martin Webber, Patrick Labaste với nghiên cứu Building competitiveness

in Africa’s agriculture: A guide to value chain concepts and applications của

Ngân hàng thế giới (Xây dựng năng lực cạnh tranh trong nông nghiệp Châu Phi: Sách chỉ dẫn về các khái niệm và ứng dụng của chuỗi giá trị) [137] cho rằng CGT nông sản được hiểu là sự kết hợp giữa đầu vào, đầu ra, các dịch vụ cần thiết cho một sản phẩm đến khách hàng cuối cùng và phương thức để làm tăng giá trị lên trong quá trình đó Nhóm tác giả cũng chỉ ra cách thức để làm tăng giá trị nông sản là chú trọng và tăng cường sự liên kết, kết nối giữa các tác nhân trong chuỗi với nhau

Trong công trình nghiên cứu Pro-poor Value Chain Development: 25

guiding questions for designing and implementing agroindustry projects của Tổ

chức phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc (Phát triển chuỗi giá trị vì người

nghèo: 25 giải pháp để thiết kế và thực hiện các dự án công nông nghiệp) [134],

Trang 25

các tác giả cho rằng phát triển CGT là thúc đẩy sự phối hợp tổng thể trong chuỗi;

sự tham gia của các đối tượng được lựa chọn trong CGT địa phương, quốc gia hoặc toàn cầu; giảm các rào cản gia nhập và chia sẻ giá trị gia tăng cao hơn cho các chủ thể nhất định Ngoài ra, nghiên cứu cho rằng để phát triển CGT cần có sự phối hợp và phụ thuộc vào các dịch vụ như phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ quản

lý và dịch vụ tài chính, nhà khoa học và dịch vụ thông tin

Trong nghiên cứu của Van Dijk, M., & Trienekens, J với nội dung Global

Value Chains: Linking Local Producers from Developing Countries to International Markets (Chuỗi giá trị toàn cầu: Liên kết các nhà sản xuất địa

phương từ các nước đang phát triển với thị trường quốc tế) [122], nhóm tác giả đã

trình bày những vấn đề chính liên quan đến các chính sách nhằm phát triển CGT hàng hóa của các nước đang phát triển trong bối cảnh toàn cầu hóa và mở rộng thị trường quốc tế, quá trình này đang phát triển nhanh ở các quốc gia đang phát triển tạo cơ hội cho các nhà sản xuất hoạt động ở các thị trường mới nổi trong khu vực

và quốc tế Nghiên cứu đã chỉ ra những biện pháp để phát triển CGT hàng hóa như cần phải xóa bỏ những rào cản quan trọng đối với các nhà sản xuất mà hiện nay đang diễn ra như thiếu môi trường cho phép hỗ trợ về thể chế, kết cấu hạ tầng kém phát triển, lãng phí các nguồn lực sẵn có và sự liên kết thiếu hiệu quả

Trong nội dung báo cáo của Humphrey, J với chủ đề Upgrading in Global

Value Chain (Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu) [127] đã xem xét cách thức mà các

hình thức mới của sự phối hợp toàn cầu ảnh hưởng đến khả năng nâng cao sản xuất, kinh doanh nông nghiệp và sản xuất ở các nước đang phát triển Cách tiếp cận CGT toàn cầu nhấn mạnh mối liên kết mới trong nền kinh tế toàn cầu với mức

độ ngày càng tăng của thương mại trong các bộ phận và thành phần trong chuỗi Chính sách khuyến khích và hỗ trợ các thành phần nâng cao khả năng liên kết của công ty có thể được chia thành 3 loại: thứ nhất, chính sách hỗ trợ nâng cấp không phân biệt tính chất cụ thể của các CGT toàn cầu; thứ hai, chính sách tạo thuận lợi cho sự tham gia của các công ty trong hệ thống sản xuất, phân phối toàn cầu và thứ ba là các chính sách hỗ trợ nâng cấp cấp độ doanh nghiệp trong bối cảnh mới với nhiều thách thức tác động

Trang 26

* Các công trình nghiên cứu về chuỗi giá trị, chuỗi giá trị cà phê ở trong nước

Thứ nhất, những công trình bàn về CGT nông sản

Trong cuốn sách Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào

chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam của tác giả Đinh Văn

Thành [84] đã chỉ ra những lỗ hổng lớn trong dây chuyền sản xuất, công nghệ sau thu hoạch, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm,…mặc dù là một trong những nước xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới nhưng Việt Nam đã và đang bộc lộ những khiếm khuyết lớn từ giống, kỹ thuật, chăm sóc cho đến thu hoạch, chế biến sau thu hoạch và tiêu thụ, đó đều là những trở lực đối với ngành nông nghiệp Việt Nam trong quá trình phát triển và hội nhập Chính những hạn chế trên dẫn đến kết quả trong CGT toàn cầu hàng nông sản trong đó có mặt hàng cà phê Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc cung cấp đầu vào là nông sản thô, giá trị gia tăng đối với hàng nông sản lại chủ yếu do khâu chế biến, bao gói và hoạt động thương mại Kết quả nghiên cứu đánh giá Việt Nam chỉ mới tham gia được ở khâu tạo ra giá trị ít nhất trong CGT toàn cầu đối với hàng hóa nông sản

Trong nghiên cứu Phát triển hàng nông sản theo chuỗi giá trị ở tỉnh Tuyên

Quang của tác giả Ngô Thị Phương Liên [49] đã phân tích 6 nội dung phát triển

hàng nông sản theo CGT gồm: xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển hàng nông sản theo CGT; gia tăng quy mô, sản lượng và hoàn thiện cơ cấu hàng nông sản theo CGT; tổ chức sản xuất hàng nông sản theo CGT; ứng dụng khoa học – công nghệ; ứng dụng logistics trong sản xuất và chế biến hàng nông sản theo CGT và giải quyết mối QHLIKT giữa các chủ thể tham gia CGT hàng nông sản Khi luận giải về giải quyết mối QHLIKT giữa các chủ thể trong CGT hàng nông sản, tác giả cho rằng việc đảm bảo lợi ích cho các chủ thể trong liên kết sản xuất theo CGT sẽ góp phần quan trọng đảm bảo liên kết bền vững

Tác giả Bùi Nhật Quang, Trần Thị Lan Hương trong nghiên cứu Phát triển chuỗi

giá trị các nông sản chủ lực vùng Tây Nguyên trong quá trình hội nhập quốc tế [77] đã

phân tích những đặc điểm của CGT hàng nông sản trong hội nhập quốc tế như tính không ổn định, tính phức tạp, tính đa dạng về các tác nhân tham gia vào CGT nông sản Nghiên cứu đã khảo sát sự tham gia CGT của một số mặt hàng nông sản chủ lực

Trang 27

của vùng Tây Nguyên như cao su, hồ tiêu, cà phê, điều, chè và chỉ ra một số thách thức hiện nay trong phát triển CGT nông sản như cạnh tranh về giá gay gắt, giá trị gia tăng thấp, phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ ở bên ngoài dẫn đến kết quả tham gia CGT các mặt hàng nông sản của Tây Nguyên còn yếu, vẫn chủ yếu vào khâu trồng trọt, thu gom

và quá trình liên kết giữa các tác nhân trong CGT thiếu chặt chẽ

Trong bài viết Phân phối lợi ích và chi phí trong chuỗi giá trị cá tra ở đồng

bằng sông Cửu Long như thế nào? của tác giả Võ Thị Thanh Lộc [52] đã khái

quát kết quả nghiên cứu về hoạt động CGT cá tra ở đồng bằng sông Cửu Long từ 2000-2007 như: sản xuất, xu hướng thị trường Phân tích sơ đồ CGT cá tra đã được xác định và bao gồm các chức năng của chuỗi, các chủ thể tham gia trong chuỗi, kênh thị trường, nhà hỗ trợ và thúc đẩy chuỗi; Phân tích kinh tế chuỗi bao gồm chi phí sản xuất, chi phí tăng thêm, giá trị gia tăng, tăng thu nhập và lợi nhuận cũng như tham gia lao động của các tác nhân trong chuỗi

Trong nghiên cứu Tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị nhằm tìm giải pháp cho

xuất khẩu bền vững hàng hóa Việt Nam của tác giả Huỳnh Thị Thu Sương [83] đã

làm rõ cơ sở lý luận về lý thuyết CGT, khái quát những nghiên cứu chính về CGT Tác giả đã nghiên cứu CGT trên cơ sở phương pháp tiếp cận toàn cầu của Kaplinsky (2001) để phân tích CGT về các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như hàng nông sản, trong đó tác giả đã chia CGT thành ba công đoạn: sản xuất; thu mua, sơ chế và bảo quản; tiêu thụ Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy CGT hàng hóa của Việt Nam còn thấp, chỉ dừng lại ở khâu sản xuất gia công

* Thứ hai, những công trình nghiên cứu liên quan đến ngành cà phê, CGTCP

Trong cuốn sách Cà phê Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển của

Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam [22] đã phân tích về tình hình sản xuất và thương mại cà phê trên thế giới và Việt Nam; một số chính sách của nhà nước về phát triển cà phê; đánh giá về phát triển văn hóa cà phê Trong đó các tác giả nêu bật về những thuận lợi của cà phê Việt Nam trong điều kiện hội nhập như về điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm sản xuất, diện tích sản lượng, thị trường được

mở rộng, các chính sách tạo điều kiện phát triển ngành cà phê Việt Nam của nhà nước Bên cạnh đó là những khó khăn, hạn chế về chất lượng, năng suất, sự ảnh

Trang 28

hưởng của giá cả cà phê thế giới, về thương hiệu…Đây chính là những cơ sở để nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm phát triển ngành cà phê Việt Nam trong bối cảnh HNKTQT

Trong các nghiên cứu của Chu Tiến Quang [76], Nguyễn Xuân Trình [96], các tác giả đã phân tích những ảnh hưởng, tác động của quá trình HNKTQT đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản Việt Nam qua nghiên cứu ba mặt hàng nông sản phổ biến đó là cà phê, chè và điều Trong đó, nghiên cứu đã khái quát những đặc điểm cơ bản về sản xuất, tiêu thụ chè, cà phê, điều ở Việt Nam, phân tích mối quan hệ giữa biến động giá cả cà phê thế giới với giá cả sản xuất và tiêu thụ cà phê Việt Nam; đưa ra những dự báo tác động của việc gia nhập WTO đến các khâu như: sản xuất, chế biến, tiêu thụ của mỗi loại sản phẩm trên và đề xuất các giải pháp cụ thể đối với mỗi khâu, mỗi loại nhằm tận dụng cơ hội và giảm thiểu tác động tiêu cực của việc gia nhập WTO và phân tích những ảnh hưởng của HNKTQT đến các chủ thể tham gia sản xuất, chế biến, tiêu thụ cà phê

Trong nghiên cứu của Đỗ Thị Nga [66] với nội dung Nghiên cứu lợi thế cạnh

tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế tại tỉnh Đắk Lắk, tác giả đã

xây dựng khung phân tích lý thuyết về lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng năng lực và lợi thế cạnh tranh cà phê nhân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk dựa trên bốn tiêu chí bao gồm: hiệu quả sản xuất và chế biến, chất lượng sản phẩm, khả năng đáp ứng nhu cầu của sản phẩm và thị phần cà phê nhân Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, về mặt ưu điểm,

cà phê nhân có lợi thế cạnh tranh về năng suất, giá thành, thị phần Tuy nhiên, lợi thế cạnh tranh sản phẩm cà phê nhân của các tổ chức kinh tế ở Đắk Lắk lại yếu ở tiêu chí chất lượng sản phẩm còn kém và năng lực đáp ứng cầu của sản phẩm chưa cao

Tác giả Vũ Trí Tuệ trong nghiên cứu Năng lực cạnh tranh của ngành cà phê

Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế [99] đã phân tích năng lực cạnh tranh

ngành cà phê, đặc điểm của cung cà phê (sản xuất), đặc điểm của chế biến cà phê, cầu cà phê, thị trường cà phê; phân tích 5 nhân tố chính ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành cà phê như điều kiện tự nhiên, chính sách của Nhà nước, quy trình kỹ thuật công nghệ, trình độ liên doanh – liên kết trong ngành cà phê và ảnh

Trang 29

hưởng của hội nhập quốc tế Trên cơ sở khảo sát thực trạng về tình hình sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà phê Việt Nam, tác giả cho rằng để nâng cao năng lực cạnh tranh ngành cà phê cần cơ cấu lại ngành cà phê theo hướng hình thành chuỗi cung ứng cà phê bền vững, xây dựng thương hiệu, đăng ký bảo hộ, đăng ký nguồn gốc và chỉ dẫn địa lý, chú trọng liên kết chặt chẽ giữa các khâu, các chủ thể trong chuỗi trên cơ sở chia sẻ và đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể tham gia vào CGTCP

Tác giả Từ Thái Giang [19] đã nhấn mạnh đến vai trò liên kết giữa các tác nhân sản xuất cà phê ở Đắk Lắk và cho rằng tổ chức sản xuất cà phê theo hướng liên kết là yếu tố cần thiết cho phát triển sản xuất cà phê bền vững Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực trạng về sản xuất cà phê bền vững tại 3 địa phương ở tỉnh Đắk Lắk gồm huyện Krông Búk, huyện Cư M’gar và thành phố Buôn Ma Thuột, từ

đó tác giả sử dụng bảng phân tích SWOT nhằm đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của các tác nhân sản xuất cà phê là hộ nông dân và doanh nghiệp sản xuất cà phê Ngoài ra, tác giả còn phân tích kênh tiêu thụ sản phẩm cà phê của tỉnh Đắk Lắk, giá mua cà phê, giá xuất khẩu và thị trường xuát khẩu cà phê

để đánh giá thực trạng sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh

Trong nghiên cứu Phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk [28],

tác giả Nguyễn Văn Hóa đã chỉ ra 4 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến phát triển cà phê bền vững gồm: điều kiện tự nhiên, chủ thể sản xuất, thị trường và nhóm nhân tố thuộc về chính phủ và các cơ quan nhà nước Tác giả đã khảo sát thực trạng về phát triển cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trong đó tác giả đã phân tích chuỗi cung sản xuất cà phê nhằm xác định vai trò của các tác nhân tham gia trong chuỗi, thúc đẩy sự liên kết, hợp tác giữa các tác nhân với nhau Nghiên cứu cũng

đã chỉ ra những tác nhân chính tham gia trong chuỗi cung cà phê gồm: nhà cung cấp vật tư đầu vào, người nông dân trực tiếp sản xuất cà phê, nhà thu mua cà phê

và nhà xuất khẩu cà phê [28, tr.102] Qua phân tích thực trạng, tác giả cho rằng có quá nhiều khâu trung gian tham gia vào CGT làm cho chi phí tăng, người nông dân trực tiếp sản xuất cà phê thường bị ép giá dẫn đến thu nhập thấp

Tác giả Nguyễn Thanh Trúc với nội dung nghiên cứu về Phát triển công

nghiệp chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk [97] đã chỉ ra những tác nhân và

Trang 30

vai trò của các tác nhân tham gia vào chuỗi ngành hàng cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk gồm: nhà cung cấp đầu vào, hộ nông dân sản xuất cà phê, cơ sở thu gom, đại lý kinh doanh, doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu cà phê Nghiên cứu nêu rõ

để phát triển công nghiệp chế biến cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cần đảm bảo lợi ích cho nông hộ trồng cà phê, gắn kết lợi ích của người trồng cà phê với lợi ích của xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người trồng cà phê, phải tổ chức tốt quan hệ giữa các cơ sở chế biến với người sản xuất cà phê nguyên liệu

Tác giả Nguyễn Ngọc Thắng với nghiên cứu Giải pháp giảm thiểu rủi ro

trong sản xuất cà phê cho hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk [85] đã phân

tích và khảo sát thực trạng về yếu tố rủi ro và giảm thiểu rủi ro trong sản xuất cà phê của hộ nông dân trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk Nghiên cứu đã điều tra khảo sát tại 2 điểm nghiên cứu ở huyện Krông Năng và huyện Buôn Đôn đại diện cho những địa phương ít rủi ro và rủi ro nhiều nhất, trong đó tác giả phân tích 3 loại rủi ro chính trong sản xuất cà phê đối với các nông hộ là sản xuất sản xuất, rủi ro thị trường và rủi ro tài chính, nghiên cứu chỉ ra rằng người nông dân trồng cà phê hiện nay ở Đắk Lắk đang phải đối mặt với nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất cà phê, nhất là những rủi ro về giá cả bấp bênh, có nhiều biến động đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả sản xuất kinh doanh cà phê trên địa bàn

Trong bài viết Phân tích SWOT chuỗi giá trị cà phê của tỉnh Đắk Lắk của

Nguyễn Thị Thu Nguyên [70] đã mô tả sự liên kết giữa các chủ thể tham gia trong CGTCP từ khâu đầu vào của quá trình sản xuất đến tiêu thụ cà phê Tác giả sử dụng phương pháp phân tích SWOT để đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức của CGTCP Đắk Lắk và chỉ ra mối liên kết hợp tác giữa các tác nhân trong chuỗi còn lỏng lẻo, nhất là mối quan hệ kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp còn nhiều mâu thuẫn và những nguy cơ mà các chủ thể phải đối mặt, trong đó có người nông dân như rủi ro về giá cả, hiệu quả sản xuất thấp dẫn đến LIKT của các chủ thể tham gia trong chuỗi cũng giảm sút Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Linh [50] với nội dung

Phân tích sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành hàng cà phê Việt Nam

đã phân tích đặc điểm của từng khâu từ sản xuất nguồn nguyên phụ liệu đến phân

Trang 31

phối sản phẩm cho người tiêu dùng Trong đó, tác giả khẳng định trồng cà phê là khâu chủ chốt trong CGTCP Việt Nam nhưng vẫn chưa mang lại hiệu quả kinh tế khi giá trị gia tăng thấp và chủ yếu tập trung vào gia tăng sản lượng thay vì nâng cao giá trị sản phẩm; khâu chế biến và phân phối đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao giá trị sản phẩm nhưng vẫn chưa phát triển Nghiên cứu đã chỉ ra hạn chế lớn nhất của ngành cà phê Việt Nam đó là sự phát triển không đồng đều giữa các khâu sản xuất, trồng trọt, chế biến [50, tr.49]

Tác giả Hoàng Thị Vân Anh với đề tài nghiên cứu khoa học Chuỗi giá trị toàn

cầu mặt hàng cà phê và khả năng tham gia của Việt Nam [1] đã hệ thống hóa và

phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến CGT mặt hàng cà phê trên thế giới Trên cơ sở lý thuyết đó, tác giả đã khảo sát và đánh giá được thực trạng tham gia trong CGT toàn cầu đối với sản phẩm cà phê của Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trong quá trình tham gia CGT toàn cầu của cà phê Việt Nam, từ đó tác giả đã đề xuất được những giải pháp nhằm tăng cường khả năng tham gia vào CGTCP toàn cầu của sản phẩm cà phê Việt Nam trong bối cảnh mới đáp ứng được yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay

1.1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích trong ngành cà phê

* Những công trình nghiên cứu ở nước ngoài bàn đến những khía cạnh liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê

Theo tác giả Jaime Forero Álvarez với nghiên cứu Colombian Family

Farmers’ Adaptations to New Conditions in the World Coffee Market (Sự thích

nghi của các gia đình nông dân Colombia với các điều kiện mới trên thị trường cà phê thế giới) [121], những người nông dân trồng cà phê theo các trang trại gia đình ở Colombia đã chủ động có những thay đổi trong sản xuất và tiêu thụ cà phê trước bối cảnh mới của thế giới để tối ưu hóa lợi ích của mình trong CGT cà phê toàn cầu Những người trồng cà phê ở quốc gia này đã điều chỉnh hệ thống sản xuất của họ, bao gồm cả công nghệ và theo đuổi sự phát triển bền vững,…chính những điều chỉnh này đã làm cho quá trình sản xuất cà phê ở Colombia đạt hiệu quả kinh tế và nâng cao được thu nhập cho người nông dân

Trang 32

Nghiên cứu của nhóm tác giả Guo, H., W Jolly, and J Zhu [126] đã tiến hành khảo sát thực trạng đối với những người nông dân và các doanh nghiệp ở Trung Quốc trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế như hợp đồng trong việc sản xuất và canh tác Kết quả cho thấy việc thực hiện các hợp đồng đã mang lại những ích lợi đối với người dân như giá cả được ổn định và có điều kiện để tiếp cận thị trường đầu ra cho sản phẩm Đối với các doanh nghiệp cũng có những mặt tích cực như chất lượng sản phẩm được cải thiện và nâng cao Do đó, về phía các doanh nghiệp ủng hộ và tích cực trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế với người nông dân, các trang trại Như vậy, việc thực hiện các hợp đồng hình thành nên các QHLI giữa người nông dân và các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất

và tiêu thụ sản phẩm góp phần nâng cao LIKT cho các chủ thể tham gia

Trong bài viết của nhóm tác giả Joni Valkila, Pertti Haaparanta and Niina Niemi [135] đã phân tích và so sánh CGTCP giữa các quốc gia sản xuất cà phê trên cơ sở phân phối lợi ích với trường hợp điển hình CGT từ người nông dân trồng cà phê ở Nicaragua đến người tiêu dùng ở Phần Lan Nghiên cứu so sánh giữa thương mại cà phê thông thường với thương mại công bằng giữa chủ thể sản xuất và tiêu thụ, chú trọng đến thương mại công bằng được xem như là một biện pháp khắc phục tình trạng giá cả biến động ảnh hưởng đến thu nhập của người nông dân cà phê Đây cũng là một trong những vấn đề nhức nhối đối với người nông dân trồng cà phê ở Việt Nam nói chung và Đắk Lắk nói riêng đang phải đối mặt làm cho LIKT của người dân giảm sút và thấp trong CGTCP

Tác giả Kate Macdonald với nghiên cứu Globalising Justice within Coffee

Supply Chains? Fair Trade, Starbucks and the Transformation of Supply Chain Governance (Công bằng toàn cầu hóa trong Chuỗi cung ứng cà phê? Thương mại

công bằng, Starbucks và sự chuyển đổi quản trị chuỗi cung ứng) [130] đã nhấn mạnh việc đưa ra các thỏa thuận, hợp tác giữa các chủ thể tham gia ở khâu sản xuất và thương mại trong CGTCP ở cùng một quốc gia hoặc mở rộng ra toàn cầu trong chuỗi cung ứng cà phê Sáng kiến này đã góp phần đảm bảo lợi ích cho những người nông dân và cả nhà sản xuất bị thiệt thòi trong ngành cà phê trên cơ sở thỏa mãn ba điều kiện: thứ nhất, thúc đẩy việc chấp nhận trách nhiệm để giải quyết những vấn đề bất

Trang 33

mãn giữa các chủ thể; thứ hai, tăng cường năng lực thể chế cần thiết; thứ ba, cho phép các nhóm chuyên gia thực hiện một số kiểm soát trong hệ thống quản trị chuỗi từ đó đảm bảo tính nhất quán và công bằng giữa các chủ thể trong ngành cà phê

Trong nghiên cứu Context and Contingency: The Coffee Crisis for Conventional

Small-Scale Coffee Farmers in Brazil của nhóm tác giả Kelly Watson and Moira

Laura Achinelli (Bối cảnh và dự phòng: Khủng hoảng cà phê đối với nông dân trồng cà phê quy mô nhỏ truyền thống ở Brazil) [136] cho rằng vấn đề tự do hóa và toàn cầu hóa đã tác động đến lợi ích cũng như QHLI giữa các chủ thể ở các khâu sản xuất, phân phối tiêu thụ của các địa phương và khu vực nơi các nhà sản xuất cung cấp

cà phê cho thị trường thế giới Kết quả nghiên cứu cho thấy toàn cầu hóa đã ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh kế của những hộ nông dân trồng cà phê quy mô nhỏ ở Brazil dẫn đến thu nhập không ổn định khi mà các tiêu chuẩn đối với mặt hàng cà phê ngày càng khó khăn Các tác giả cho rằng các hộ nông dân sản xuất cà phê quy mô nhỏ cần phải hợp tác và kết nối với các nhà sản xuất để nâng cao LIKT của mình

* Những công trình nghiên cứu ở trong nước đề cập những khía cạnh liên quan đến lợi ích, quan hệ lợi ích trong chuỗi giá trị cà phê

Trong cuốn sách Tăng cường năng lực tham gia thị trường của hộ nông dân

thông qua chuỗi giá trị hàng nông sản của tác giả Lưu Đức Khải [38] đã phân tích

những ưu, nhược điểm khi tham gia vào CGT nông sản của người nông dân và trình bày khung phân tích CGT hàng nông sản để thấy rõ mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi Trên cơ sở đó, tác giả phân tích thực trạng về sự tham gia của hộ nông dân vào CGT hàng nông sản ở Việt Nam ở các khía cạnh như chi phí, doanh thu, lợi nhuận đối với một số mặt hàng nông sản chủ yếu mà tác giả phân tích như CGT cà phê, rau xanh, sắn, cao su, hồ tiêu Trong đó, tác giả đưa ra những định hướng cụ thể như thực hiện cải tiến quy trình, cải tiến sản phẩm, cải tiến chức năng và cải tiến chuỗi nhằm cải tiến, nâng cấp CGT trong ngành nông nghiệp; thực hiện đa dạng hóa sản phẩm và thị trường; chú trọng nâng cao hiệu quả của các mối quan hệ trong CGT

và cải thiện môi trường cho các chủ thể tham gia vào CGT

Trong cuốn sách Liên kết hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và

tiêu thụ cà phê ở Tây Nguyên của nhóm tác giả Đỗ Thị Nga, Lê Đức Niêm [67]

Trang 34

cho rằng có 4 tác nhân tham gia ngành hàng cà phê gồm: (1) Người cung cấp đầu vào; (2) Người sản xuất cà phê (hộ nông dân/trang trại, công ty, nông trường); (3) Người thu mua cà phê; (4) Doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu cà phê [67, tr.33] Trên cơ sở đó, nghiên cứu phân tích mối quan hệ và các mô hình liên kết giữa hộ nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ cà phê ở Tây Nguyên như mô hình tập trung trực tiếp, hạt nhân trung tâm, trung gian để thấy được vai trò của việc liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi ngành hàng cà phê mà kết quả nghiên cứu

đã chỉ ra quá trình thực hiện liên kết sản xuất giữa hộ nông dân và doanh nghiệp đều mang lại LIKT cao hơn so với không liên kết Đây chính là cơ sở quan trọng để phát triển CGTCP trên địa bàn Tây Nguyên trong đó có tỉnh Đắk Lắk

Tác giả Lê Huy Khôi trong nghiên cứu Giải pháp nâng cao giá trị gia tăng

cho mặt hàng cà phê Việt Nam trong chuỗi giá trị cà phê toàn cầu [42] đã chỉ ra

các chủ thể tham gia vào CGTCP ở Việt Nam bao gồm người nông dân trồng cà phê, các nhà mua gom, doanh nghiệp xuất khẩu, các công ty rang xay, các nhà bán

lẻ trực tiếp [42, tr.5] Từ đó tác giả đã khảo sát thực trạng về doanh thu, chi phí, giá trị gia tăng đối với các tác nhân tham gia trong CGT mặt hàng cà phê Việt Nam và đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể tương ứng nhằm nâng cao giá trị gia tăng cho mặt hàng cà phê Việt Nam trong từng khâu của CGTCP toàn cầu, chú trọng đến các khâu trong chuỗi như nghiên cứu và triển khai (R&D), marketing sản phẩm để xây dựng thương hiệu cà phê Việt Nam trên thị trường khu vực và thế giới, khâu chế biến và tiêu thụ

Trong nghiên cứu về Mối liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị sản

phẩm cà phê khu vực Tây Nguyên của Phan Thị Thanh Trúc và Nguyễn Thị Thúy

Hạnh [98], nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng liên kết giữa các tác nhân trong CGTCP Tây Nguyên với 3 địa bàn gồm tỉnh Kon Tum, Gia lai và Đắk Lắk ở các khâu gồm: cung cấp các yếu tố đầu vào, sản xuất nông nghiệp, thu gom, sơ chế, sản xuất công nghiệp và khâu xuất khẩu Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên kết giữa các tác nhân trong CGT sản phẩm cà phê khu vực Tây Nguyên còn nhiều bất cập như các mối liên kết còn khá lỏng lẻo, chưa hình thành rõ nét, sự hợp tác giữa các khâu còn thiếu và chưa vững chắc [98, tr.116] Vì vậy, tác giả cho rằng trong thời gian tới cần phải thúc đẩy và tăng cường hơn nữa mối liên kết giữa các tác

Trang 35

nhân trong CGT trên cơ sở chú trọng đến việc đảm bảo lợi ích của các chủ thể tham gia nhằm phát triển mối liến kết bền vững trong CGTCP Tây Nguyên [98, tr.117]

Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Lan trong nghiên cứu Đảm bảo lợi ích của người

nông dân trong chuỗi giá trị nông sản – Nghiên cứu trường hợp chuỗi giá trị cà phê Việt Nam [44] đã trình bày những lợi ích của người nông dân trong CGTCP bao

gồm lợi ích do sở hữu hoặc được quyền sử dụng các tư liệu sản xuất, lợi ích do tham gia quá trình sản xuất canh tác và lợi ích từ việc phân phối và sử dụng sản phẩm, song thực tế lợi ích của người nông dân thu được lại khá thấp [44, tr.66] Vì thế, tác giả cho rằng để đảm bảo lợi ích của người nông dân cần tăng cường liên kết giữa các hộ nông dân, lựa chọn doanh nghiệp sản xuất tiên phong dẫn dắt người nông dân trong CGT, xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các khâu trong CGT và Nhà nước phải bảo đảm lợi ích của người nông dân thông qua việc hoàn thiện thể chế nhằm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực cho nông dân khi tham gia CGT

Tác giả Nguyễn Duy Thụy với nghiên cứu Cà phê Tây Nguyên trong chuỗi giá

trị khu vực và toàn cầu [91], đã tập trung phân tích CGTCP Tây Nguyên ở các khía

cạnh về năng suất và giá trị cà phê Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã chỉ ra những thuận lợi và khó khăn trong phát triển CGTCP Tây Nguyên, phân tích những điểm yếu trong CGT như khả năng liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi nhất là giữa nông dân

và doanh nghiệp còn hạn chế, thiếu tính bền vững [91, tr.31] Từ đó, tác giả đưa ra 6 giải pháp để phát triển CGTCP Tây Nguyên gồm: phát triển ngành công nghiệp chế biến và kết nối với các doanh nghiệp chế biến tiêu thụ sản phẩm để liên kết theo CGT sản phẩm cà phê, thay đổi mô hình quản lý sản xuất cà phê theo hướng hợp lý, nâng cao hiệu quả sinh kế của các hộ sản xuất cà phê, tăng cường hỗ trợ vốn tài chính, khoa học – công nghệ, nhanh chóng tháo gỡ các vướng mắc trong quá trình thực hiện chương trình tái canh cà phê, xây dựng thương hiệu cà phê quốc gia và phát triển chỉ dẫn địa lý ngành cà phê Việt Nam

Bài viết của Hoàng Việt Huy [33] đã phân tích lợi ích và QHLI giữa các tác nhân trong CGT nông sản, tác giả khẳng định lợi ích giữa các tác nhân chính là yếu

tố quyết định đến tính hiệu quả và sự bền vững của CGT nông sản [33, tr.162] Đối với sản phẩm cà phê ở Tây Nguyên, tác giả đã phân tích mối QHLI ở khâu phân phối giá trị gia tăng ngành cà phê trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của Đỗ Đức Yên

Trang 36

[108] đối với các chủ thể gồm nông dân trồng cà phê, doanh nghiệp và các chủ thể khác Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế, bất cập như tình trạng các tác nhân ở đầu chuỗi có giá trị gia tăng thấp hơn nhiều so với các tác nhân ở cuối chuỗi [33, tr.165 – 166] Từ đó nghiên cứu đưa ra 5 nhóm giải pháp chính như phát huy vai trò của hiệp hội ngành nông sản, sử dụng công cụ kinh tế để điều tiết lợi ích giữa các tác nhân một cách hợp lý, tăng cường công tác quản lý giá cả, phát triển công nghiệp chế biến nông sản và khuyến khích sản xuất nông nghiệp có chứng nhận nhằm đảm bảo QHLI hợp lý, hài hòa giữa các tác nhân trong CGT

1.2 NHỮNG LUẬN ĐIỂM KHOA HỌC KẾ THỪA VÀ NHỮNG KHOẢNG TRỐNG CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU TRONG LUẬN ÁN

1.2.1 Những luận điểm khoa học kế thừa trong luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến QHLI trong phát triển CGTCP cho thấy hầu hết các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đề cập và luận giải đến nhiều nội dung, vấn đề liên quan đến QHLI ở một số ngành, lĩnh vực nói chung và QHLI trong phát triển CGT nông sản trong đó có bàn về ngành cà phê nói riêng như: thành phần các chủ thể tham gia CGT nông sản, CGTCP; vai trò của các chủ thể trong CGTCP; lợi ích của các chủ thể tham gia vào CGTCP; những trở lực, xung đột lợi ích của các chủ thể tham gia vào CGTCP, cụ thể:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã luận giải và làm rõ một số vấn đề lý

luận nói chung liên quan đến LIKT, QHLI bản chất và vai trò của LIKT, QHLI đối với phát triển KT-XH Bên cạnh đó, một số nghiên cứu đã khảo sát và phân tích thực trạng về LIKT đối với các chủ thể như LIKT của người nông dân, LIKT của người lao động ở các địa phương Một số công trình đã phân tích QHLI ở góc độ vĩ mô như QHLI giữa nông dân, công nhân và trí thức ở Việt Nam hay giải quyết QHLIKT trong quá trình đô thị hóa,…

Thứ hai, các công trình đã đề cập đến vấn đề CGT nói chung và phân tích

CGT nông sản: các nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm về CGT nông sản, trong

đó có một số nghiên cứu đã phân tích CGTCP và xác định được các chủ thể cũng như vai trò và khả năng liên kết của các chủ thể trong CGTCP

Thứ ba, một số công trình có đề cập đến vấn đề LIKT của chủ thể người

Trang 37

nông dân trong CGT và cơ bản đều thống nhất cho rằng LIKT của người nông dân thường thấp hơn nhiều so với các tác nhân khác trong chuỗi và chưa thật sự đảm bảo hài hòa lợi ích với các chủ thể khác

Thứ tư, các nghiên cứu có đưa ra các quan niệm liên quan đến QHLIKT,

trong đó một số công trình nghiên cứu đã phân tích mối QHLIKT giữa hai chủ thể đóng vai trò quan trọng là nông dân và doanh nghiệp trong sản xuất và tiêu thụ nông sản cũng như trong CGT nông sản trong đó có ngành sản xuất kinh doanh cà phê Những nghiên cứu chỉ rõ mối QHLIKT giữa nông dân và doanh nghiệp trên

cơ sở sự liên kết, hợp tác và thu nhập cũng như lợi nhuận của các chủ thể; phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến QHLI giữa nông dân và doanh nghiệp và đưa ra các giải pháp để đảm bảo hài hòa QHLIKT giữa các chủ thể đó

Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trước đó chưa bàn sâu và chưa trình bày có hệ thống về các chủ thể tham gia QHLI trong CGTCP Ít công trình nghiên cứu hoặc bàn trực tiếp đến QHLI trong phát triển CGTCP nhưng cũng đã luận giải được những khía cạnh liên quan đến LIKT của một số chủ thể quan trọng trong chuỗi như người nông dân trồng cà phê, doanh nghiệp và vai trò của việc đảm bảo hài hòa QHLI giữa các chủ thể để cùng nhau tạo động lực phát triển và mang lại hiệu quả cao trong phát triển CGTCP

1.2.2 Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án từ đó

kế thừa về mặt lý luận cũng như thực tiễn liên quan đến vấn đề nghiên cứu như những công trình đã bàn về vấn đề CGT nông sản, CGTCP, vai trò và liên kết giữa các chủ thể tham gia vào CGTCP, LIKT và QHLIKT giữa nông dân và các doanh nghiệp chế biến trong sản xuất và tiêu thụ nông sản

Tuy nhiên, theo sự hiểu biết của nghiên cứu sinh đến nay chưa có công trình khoa học nào luận bàn về vấn đề QHLI trong phát triển CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk dưới cách tiếp cận của khoa học Kinh tế chính trị Do vậy, việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết nhằm góp phần luận giải, làm rõ hơn cũng như lấp những khoảng trống mà những công trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập đến, cụ thể:

Trang 38

Một là, làm rõ khái niệm QHLI trong phát triển CGTCP; những đặc điểm, vai trò

và các mối QHLI trong phát triển CGTCP dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị

Hai là, trình bày một cách có hệ thống về các chủ thể tham gia CGTCP, vai

trò của các chủ thể và các mối QHLI giữa các chủ thể; phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo hài hòa QHLI giữa các chủ thể trong phát triển CGTCP; nghiên cứu một số bài học kinh nghiệm ở một số quốc gia trên thế giới

và địa phương trong nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho tỉnh Đắk Lắk

Ba là, khảo sát thực trạng QHLIKT giữa các chủ thể chính từ khâu sản xuất

đến chế biến, tiêu thụ trong CGTCP trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk từ năm 2015 đến

2020, thể hiện rõ nhất là QHLI giữa nông dân với các chủ thể thu mua cà phê; giữa người nông dân với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê; QHLI giữa các chủ thể thu mua với các doanh nghiệp chế biến, tiêu thụ cà phê; những tác động QHLI đến phát triển CGTCP; vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo hài hòa QHLI trong phát triển CGTCP

Bốn là, cần đưa ra dự báo, quan điểm và xây dựng hệ thống những giải pháp

trên cơ sở khảo sát thực trạng biểu hiện QHLI trong phát triển CGTCP để đảm bảo hài hòa QHLIKT giữa các chủ thể nhằm thúc đẩy phát triển CGTCP và ngành sản xuất cà phê trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk theo hướng hiệu quả và bền vững hơn nữa trong thời gian tới

Trang 39

2.1.1 Những khái niệm cơ bản

2.1.1.1 Khái niệm về quan hệ lợi ích

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, suy cho cùng tất cả các chủ thể tham gia vào nền kinh tế trước hết vì lợi ích chính đáng của mình Hay nói cách khác, các chủ thể phải được thỏa mãn trước hết về mặt nhu cầu vật chất như đối với các doanh nghiệp phải nâng cao được lợi nhuận hay người nông dân thì phải nâng cao được thu nhập Đây chính là động lực cơ bản của mọi quốc gia trong quá trình phát triển KT-

XH, bởi lẽ lợi ích mà trong đó LIKT là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác

và QHLI giữa các chủ thể đó được biểu hiện thông qua LIKT giữa các chủ thể đó Từ

đó, để hiểu về QHLI trước hết cần nắm rõ về quan niệm lợi ích, LIKT

* Khái niệm về lợi ích

Vấn đề lợi ích đã được nhiều tác giả luận giải, quan niệm ở nhiều góc độ và cách tiếp cận khác nhau, trong đó lợi ích được hiểu ở những khía cạnh sau:

Tác giả Đỗ Huy Hà cho rằng: “Lợi ích là hiện tượng xã hội khách quan gắn

liền với những chủ thể xác định, được nảy sinh từ nhu cầu và nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người trong những điều kiện KT-XH nhất định” [20, tr.9] Như vậy,

trước hết lợi ích được xác định là hiện tượng xã hội và tồn tại khách quan gắn liền với những chủ thể nhất định, nhu cầu là cơ sở để hình thành lợi ích và lợi ích phải xuất phát từ nhu cầu của con người

Theo tác giả Trần Thị Bích Huệ: “Lợi ích có thể được hiểu là phương tiện đáp

ứng, thỏa mãn nhu cầu của con người trong các quan hệ KT-XH giữa con người với con người” [32, tr.31] Theo đó, lợi ích chính là động lực thúc đẩy các chủ thể trong

mọi hoạt động Tuy nhiên, tác giả cũng nhấn mạnh rằng lợi ích xuất phát từ nhu cầu, nhưng không phải mọi nhu cầu đều là tiền đề nãy sinh ra lợi ích, tác giả cho rằng khi những nhu cầu mà xã hội không có điều kiện để đáp ứng và sự thỏa mãn

Trang 40

nhu cầu gặp khó khăn thì mới là tiền đề nảy sinh lợi ích

Từ những quan niệm trên cho thấy, lợi ích xuất phát từ nhu cầu song không đồng nhất với nhu cầu Lợi ích có mối quan hệ trực tiếp với các nhu cầu có khả năng thực hiện gắn với từng nhóm xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định Để thỏa mãn nhu cầu cần có sản phẩm cụ thể, song do trình độ phát triển của

xã hội, mức độ hiện có của sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu là có hạn và lợi ích của từng chủ thể, nhóm xã hội chỉ liên quan trực tiếp tới những sản phẩm đó Do đó, lợi ích gắn với điều kiện hiện thực để thỏa mãn nhu cầu, là những nhu cầu được ý thức thành động cơ hành động của con người

* Khái niệm lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích

Vấn đề LIKT được các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu ở nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Khi đề cập đến vấn đề LIKT, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định

rằng: “Nguồn gốc vấn đề trước hết là những lợi ích kinh tế mà quyền lực chính trị

phải phục vụ với tư cách phương tiện” [61, tr.410] Như vậy, việc thực hiện LIKT

của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, nhất là người dân chính là cơ sở quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển KT-XH của đất nước

Khi nhấn mạnh đến vai trò quyết định của LIKT trong việc thực hiện các vấn đề khác cho thấy LIKT chính là cơ sở, là nguồn cội của mọi vấn đề đồng thời LIKT là yếu

tố điều chỉnh mọi hành vi và các nguyên tắc khác trong xã hội như Ph.Ăngghen đã

khẳng định: “Lợi ích kinh tế là nguyên tắc điều tiết cơ bản mà tất cả mọi nguyên tắc

khác phải tuân theo” [64, tr.481] Dưới góc độ kinh tế chính trị học, LIKT biểu hiện ra

bên ngoài chính là mối quan hệ xã hội giữa con người với con người trong quá trình sản xuất và trao đổi Như vậy, để hiểu rõ mối quan hệ xã hội đó thì phải xuất phát điểm

từ những LIKT của các chủ thể trong quá trình sản xuất và trao đổi đó Kế thừa những

quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề LIKT, V.I.Lênin cho rằng, “Phải tìm

nguồn gốc của những hiện tượng xã hội ở trong những quan hệ sản xuất, và phải quy những hiện tượng ấy vào lợi ích của những giai cấp nhất định” [47, tr.670] Như vậy,

lợi ích có tính khách quan, là động lực của mọi hoạt động sản xuất, LIKT là quan trọng

và quyết định đến các lợi ích khác của các chủ thể trong xã hội

Tuy nhiên, LIKT của các chủ thể trong nền kinh tế không thể thực hiện một cách độc lập, riêng lẻ mà lợi ích đó phải đảm bảo trong sự liên hệ với các chủ thể khác trong

xã hội, tức là các chủ thể có mối quan hệ tác động qua lại với nhau để từ đó hình thành nên QHLI mà trước hết là QHLIKT giữa các chủ thể trong nền kinh tế C.Mác đã chỉ

Ngày đăng: 27/09/2021, 10:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Thị Vân Anh (2009), Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê và khả năng tham gia của Việt Nam, Đề tài khoa học cấp Bộ, Viện nghiên cứu thương mại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuỗi giá trị toàn cầu mặt hàng cà phê và khả năng tham gia của Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Vân Anh
Năm: 2009
2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2010), Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển ngành cà phê Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2010
3. V.P.Ca-man-kin (1982), Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lợi ích kinh tế dưới chủ nghĩa xã hội
Tác giả: V.P.Ca-man-kin
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1982
4. Cẩm nang ValueLinks (2007), Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị, GTZ Eschborn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận để thúc đẩy chuỗi giá trị
Tác giả: Cẩm nang ValueLinks
Năm: 2007
6. Trần Thị Minh Châu (2012), “Quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế trong Luật Đất đai ở Việt Nam”, Tạp chí Cộng sản, số 840, tr. 39 – 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế trong Luật Đất đai ở Việt Nam”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Trần Thị Minh Châu
Năm: 2012
7. Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Phúc Thọ (2013), “Giải pháp tăng cường liên kết nhà doanh nghiệp và nhà nông trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”, Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 187, tr.53-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng cường liên kết nhà doanh nghiệp và nhà nông trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp”, "Tạp chí Kinh tế và phát triển
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chi, Nguyễn Phúc Thọ
Năm: 2013
8. Chính phủ (2005), Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08/11/2005 của Chính phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
9. Chính phủ (2018), Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về Bảo hiểm nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về Bảo hiểm nông nghiệp
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2018
12. Phạm Thị Lương Diệu (2017), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trong quá trình tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”, Tạp chí Cộng sản, số 900, tr. 74 – 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trong quá trình tham gia chuỗi giá trị toàn cầu”, "Tạp chí Cộng sản
Tác giả: Phạm Thị Lương Diệu
Năm: 2017
13. Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Thị Kim Anh, Phan Lê Diễm Hằng (2014), “Phân phối lợi ích trong chuỗi giá trị sản phẩm: Trường hợp mặt hàng thủy sản khai thác biển ở Khánh Hòa”, Tạp chí Phát triển kinh tế, số 280, tr. 78 – 96 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân phối lợi ích trong chuỗi giá trị sản phẩm: Trường hợp mặt hàng thủy sản khai thác biển ở Khánh Hòa”, "Tạp chí Phát triển kinh tế
Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Thị Kim Anh, Phan Lê Diễm Hằng
Năm: 2014
14. Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk (2015), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Đắk Lắk Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Đắk Lắk
Năm: 2015
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2016
17. Đặng Quang Định (2010), Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Đặng Quang Định
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
18. Vũ Văn Gầu, Nguyễn Anh Quốc (2006), “Hồ Chí Minh nói về lợi ích, về mối quan hệ giữa các loại lợi ích và thực hiện lợi ích”, Tạp chí Khoa học xã hội, Số 7, tr. 12 – 18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh nói về lợi ích, về mối quan hệ giữa các loại lợi ích và thực hiện lợi ích”, "Tạp chí Khoa học xã hội
Tác giả: Vũ Văn Gầu, Nguyễn Anh Quốc
Năm: 2006
19. Từ Thái Giang (2012), Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, Luận án tiến sĩ kinh tế, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển sản xuất cà phê bền vững trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk
Tác giả: Từ Thái Giang
Năm: 2012
20. Đỗ Huy Hà (2013), Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết quan hệ lợi ích kinh tế trong quá trình đô thị hóa ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đỗ Huy Hà
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật
Năm: 2013
21. Hồ Quế Hậu (Chủ biên, 2012), Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân Việt Nam, Nxb Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân Việt Nam
Nhà XB: Nxb Đại học Kinh tế quốc dân
22. Hiệp hội cà phê - ca cao Việt Nam (2007), Cà phê Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cà phê Việt Nam trên đường hội nhập và phát triển
Tác giả: Hiệp hội cà phê - ca cao Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
Năm: 2007
24. Trần Hoàng Hiểu (2018), “Hài hòa lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp – động lực phát triển mô hình cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long”, Tạp chí Thông tin khoa học chính trị, 04/13, tr.58-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hài hòa lợi ích kinh tế giữa nông dân và doanh nghiệp – động lực phát triển mô hình cánh đồng lớn ở đồng bằng sông Cửu Long”, "Tạp chí Thông tin khoa học chính trị
Tác giả: Trần Hoàng Hiểu
Năm: 2018

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w