Sau khi xem xét, đánh giá đơn khởi kiện, ngày 12/12/2017 Thẩm phán K đã ra thụ lý đơn khởi kiện của bà C và chị M, sau đó đã thông báo cho bà K và chị C biết để họ nộp tiền tạm ứng án ph
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIỂM SÁT HÀ NỘI
BÀI TẬP NHÓM MÔN: KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH NHÓM 2 - ĐỀ TÀI SỐ 2
Hà Nội, tháng 07/2021
1. Hà Ngô Vi Hương
2. Bùi Thị Thanh Huyền
3. Phạm Thị Thu Huyền
4. Nguyễn Thị Thùy Linh
5. Trần Mỹ Linh
6. Nguyễn Thanh Loan
7. Nguyễn Thị Lương
8. Phạm Ngọc Mỹ
9 Trần Thị Ngân
10 Lê Thị Nhiên
11 Phạm Thị Cẩm Nhung
12 Bùi Văn Sang
13 Đào Xuân Sáng
14 Nguyễn Thị Thu
15 Lê Văn Toàn
16 Đặng Minh Tuyến
17 Phạm Thanh Tuyền.
Trang 2BÀI TẬP NHÓM 2:
Môn: KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH (Lớp VB2 – K1)
ĐỀ 2:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M
Trú tại xã H, huyện Y, tỉnh Hưng Yên
Bị đơn: Uỷ ban nhân dân huyện Y
Nội dung vụ án
Năm 2000, bà Nguyễn Linh C được UBND xã H cho sử dụng phần đất giáp mặt đường liên xã thuộc thôn K, xã H, huyện Y, tỉnh Hưng Yên để làm chỗ buôn bán Tháng 7/2011, UBND xã H đã tổ chức thực hiện đấu giá 18 lô đất tại khu vực giáp mặt đường liên xã thuộc địa bàn thôn K, xã H và có chủ trương cho các gia đình đang sử dụng đất được mua đất đang sử dụng theo giá khởi điểm do UBND huyện Y
ấn định mà không phải thông qua đấu giá Vào thời điểm đó, gia đình bà C đang sử dụng 2 lô đất số 17 và 18, nhưng bà chỉ có điều kiện mua 1 lô đất nên đã để cho gia đình con gái bà là chị Hoàng Thị M và con rể là anh P tham gia mua 1 lô đất thuộc tiêu chuẩn của mình Gia đình chị M mua 1 lô đất số 17 và có diện tích là 150m2 và gia đình chị M đã nộp 150.000.000 đồng tiền đấu giá đất, bà C mua 1 lô đất số 18 có diện tích là 150m2 và đã nộp 170.000.000 đồng tiền đấu giá (Lô đất số 18 của bà ở ngoài cùng giáp 2 mặt đường nên xã thu thêm 20.000.000 đồng)
Việc đấu giá đất đã được UBND huyện Y ra quyết định Công nhận kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất ngày 29/09/2011 UBND phường MK đã giao đất trúng đấu giá cho bà C và gia đình chị M anh P tại thực địa, người giao trực tiếp đất đấu giá là ông Hà - Cán bộ địa chính xã H, khi giao đất ông không lập biên bản giao
Trang 3mốc giới Ngay sau đó, gia đình chị M và gia đình bà C xây tường xung quanh mốc giới được giao Đến năm 2014, bà C có xây dựng một ngôi nhà 2 tầng và cửa hàng kinh doanh trên lô số 18 Ngày 15/7/2014 UBND thành phố H đã cấp GCNQSD đất
số BA 225159 cho người sử dụng đất là gia đình anh chị M diện tích đất là 150m2 tại thửa đất số 254 tờ bản đồ số 10 thuộc thôn K, xã H, (thửa đất số 17), đồng thời cấp GCNQDSD đất số BA 225158 cho người sử dụng là bà C diện tích đất là 150m2 tại thửa đất số 255 tờ bản đồ số 10 thuộc thôn K, xã H (thửa đất số 18)
Ngày 25/10/2017, UBND huyện Y ban hành Thông báo số 160/TB-UBND với nội dung: Kết luận số 169/KL-TTR của Thanh tra huyện Y kết luận GCNQSD đất số BA 225158 cấp ngày 17/5/2014 cho bà Nguyễn Linh C diện tích đất là 150m2 tại thửa đất số 255 tờ bản đồ số 10 và GCNQSD đất số BA 225159 cho chị Hoàng Thị M diện tích đất là 150m2 tại thửa đất số 254 tờ bản đồ số 10 là không đúng vị trí đất các hộ gia đình đã được UBND xã H giao cho sử dụng từ năm 2012, không đúng với đối tượng sử dụng đất Sau 30 ngày, kể từ ngày gửi thông báo mà bà C, chị M không có khiếu nại thì UBND huyện Y quyết định thu hồi và cấp lại GCNQSD đất theo quy định của luật đất đai
Kể từ khi nhận được thông báo số 160/TB-UBND ngày 25/10/2017, ngày 28/10/2017 bà C và chị M đã có đơn khiếu nại Đến ngày 12/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Y đã ban hành quyết định số 5726/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M với nội dung: Không công nhận nội dung khiếu nại của bà C và chị M khiếu nại thông báo số 160/TB-UBND ngày 25/10/2017 của 160/TB-UBND huyện Y
Ngày 10/12/2017, bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Hủy thông báo kết luận của Thanh tra huyện Y về thẩm tra GCNQSD đất đã cấp số 160/TB-UBND ngày 25/10/2017 của UBND huyện Y, tỉnh Hưng Yên
Trang 4Hủy Quyết định số 5726/QĐ- UBND ngày 12/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện Y về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M (lần đầu)
Ngày 12/12/2017 TAND tỉnh Hưng Yên đã phân công thẩm phán Đinh Trọng
K giải quyết đơn khởi kiện của bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M Sau khi xem xét, đánh giá đơn khởi kiện, ngày 12/12/2017 Thẩm phán K đã ra thụ lý đơn khởi kiện của bà C và chị M, sau đó đã thông báo cho bà K và chị C biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí và người khởi kiện đã nộp tiền tạm ứng án phí đấy đủ (bà C và chị M
đã nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí vào cùng ngày này) Ngày 16/12/2017, TAND tỉnh Hưng Yên đã thông báo bằng văn bản cho UBND huyện Y, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và VKSND tỉnh Hưng Yên
về việc Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án
Sau khi nhận được thông báo, VKSND đã phân công KSV thực hiện nhiệm vụ
và thông báo cho Tòa án biết Cụ thể, KSV đã vào sổ thụ lý, lập phiếu kiểm sát thông báo thụ lý theo quy định của Luật TTHC năm 2015 Tuy nhiên, trong quá trình kiểm sát việc thụ lý vụ án, VKSND phát hiện và cho rằng Thông báo số 160/TB-UBND và Quyết định số 5726/QĐ-UBND không là đối tượng khởi kiện của
vụ án hành chính và Tòa án không có thẩm quyền giải quyết vụ án Vì vậy, căn cứ theo quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 143 Luật TTHC năm 2015 dẫn chiếu đến điểm đ Khoản 1 Điều 123 Luật TTHC năm 2015, vụ án đã bị đình chỉ giải quyết
BÀI LÀM
Trang 5Tiến hành phân tích và đánh giá tình huống:
I/ Xác định đối tượng khởi kiện:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 của Luật TTHC và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/11/2011 của Hội đồng Thầm phán Tòa án nhân dân tối cao thì quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án hành chính là văn bản được thể hiện dưới hình thức quyết định hoặc dưới hình thức khác như thông báo, kết luận, công văn do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tổ chức đó ban hành có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được
áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan,
tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó)
bao gồm:
Quyết định hành chính được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính.Quyết định hành chính được ban hành sau khi có khiếu nại và có nội dung sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính đã được cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức
đó ban hành trong khi giải quyết, xử lý những việc cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính
Căn cứ khoản 1 Điều 3 của Luật TTHC và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 1 Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP ngày 29/11/2011 của Hội đồng Thầm phán Tòa án nhân dân tối cao thì Quyết định số 5726/QĐ-UBND ngày 12/11/2017 huyện Y là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính
Trang 6Quyết định giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính cũng là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính Vì quyết định giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người
có thẩm quyền trong các cơ quan đó ban hành để giải quyết khiếu nại đối với hành vi hành chính nào đó, nhưng thực chất là quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng
cụ thể Như vậy tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án
Thông báo số 160/TB-UBND của huyện Y ngày 25/10/2017 có chứa đựng nội dung của quyết định hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính mà người khởi kiện cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (trừ những văn bản thông báo của cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức trong việc yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức bổ sung, cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc giải quyết, xử lý vụ việc cụ thể theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó) => do vậy Thông báo số 60/TB-UBND huyện Y cũng là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án
Như vậy, VKSND không có căn cứ để cho rằng “Thông báo số
160/TB-UBND và Quyết định số 5726/QĐ-160/TB-UBND không là đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính và Tòa án không có thẩm quyền giải quyết vụ án”.
II/ Xác định thời hiệu:
1/ Thời hiệu khiếu nại:
Trong Thông báo số 160/TB-UBND của huyện Y ngày 25/10/2017 có nội dung: “ Kết luận số 169/KL-TTR của Thanh tra huyện Y kết luận GCNQSD đất số
BA 225158 cấp ngày 17/5/2014 cho bà Nguyễn Linh C diện tích đất là 150m2 tại thửa đất số 255 tờ bản đồ số 10 và GCNQSD đất số BA 225159 cho chị Hoàng Thị
M diện tích đất là 150m2 tại thửa đất số 254 tờ bản đồ số 10 là không đúng vị trí đất các hộ gia đình đã được UBND xã H giao cho sử dụng từ năm 2012, không đúng với đối tượng sử dụng đất Sau 30 ngày, kể từ ngày gửi thông báo mà bà C, chị
Trang 7M không có khiếu nại thì UBND huyện Y quyết định thu hồi và cấp lại GCNQSD đất theo quy định của luật đất đai.”
Thực tế, kể từ khi nhận được thông báo số 160/TB-UBND ngày 25/10/2017, ngày 28/10/2017 bà C và chị M đã có đơn khiếu nại Như vậy chỉ trong 03 ngày thì
bà C và chị M đã có đơn khiếu nại
Căn cứ vào Điều 9 Luật Khiếu nại 2011 thì Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể
từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính Do vậy,Bà C và c M đã gửi đơn khiếu nại theo đúng quy định
“Đến ngày 12/11/2017, Chủ tịch UBND huyện Y đã ban hành quyết định số 5726/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M với nội dung: Không công nhận nội dung khiếu nại của bà C và chị M khiếu nại thông báo số 160/TB-UBND ngày 25/10/2017 của UBND huyện Y.”Căn cứ
Điều 28 Luật Khiếu nại 2011 và Điều 37 Luật Khiếu nại 2011 thì UBND huyện Y đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đúng thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật
2/ Thời hiệu khởi kiện:
“Ngày 10/12/2017, bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M đã nộp đơn khởi
kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy thông báo kết luận của Thanh tra huyện Y về thẩm tra GCNQSD đất đã cấp số 160/TB-UBND ngày 25/10/2017 của UBND huyện
Y, tỉnh Hưng Yên Hủy Quyết định số 5726/QĐ- UBND ngày 12/11/2017 của Chủ tịch UBND huyện Y về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Linh C và chị Hoàng Thị M (lần đầu).”
Căn cứ vào khoản 2, 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015, thì bà C và chị M đã nộp đơn khiếu kiện theo đúng quy định (30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh)
III/Xác định thẩm quyền giải quyết:
Trang 8Khi kiểm sát việc thụ lý vụ án hành chính cần xem xét có hay không việc đương sự vừa khởi kiện vụ án hành chính vừa khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại tiếp theo nhưng Tòa án vẫn thụ lý Theo đó, cần xem xét nội dung đơn khởi kiện của đương sự có cam đoan về việc không đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hay không (theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 118 Luật Tố tụng hành chính năm 2015) Đồng thời, xem xét việc Tòa
án có tiến hành xác minh, thu thập tài liệu về việc đương sự có đồng thời khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết không Từ đó có căn cứ xác định việc khởi kiện của đương sự đảm bảo về điều kiện khởi kiện vụ án theo quy định của pháp luật
Như vậy thì với tình huống cụ thể này thì bà C và chị M không đồng thời gửi đơn khiếu nại đến UBND huyện Y và gửi đơn khởi kiện đến TAND tỉnh Hưng Yên
Căn cứ vào Điều 31, khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính 2015 thì thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính thuộc TAND tỉnh như vậy đã đúng thẩm quyền
IV/Về thu thập tài liệu, chứng cứ, áp dụng pháp luật của Tòa án:
Khi kiểm sát việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án, Kiểm sát viên cần nghiên cứu kỹ hồ sơ để đánh giá xem việc thu thập chứng cứ của Tòa án có khách quan, đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định không Trong đó, cần lưu ý trường hợp: trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án yêu cầu đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ nhưng đương sự chưa cung cấp mà không có lí do chính đáng; sau đó, khi Tòa án đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử thì đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho Tòa án; nhưng Hội đồng xét xử vẫn sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án Đây là những vi phạm thường gặp của Tòa án trong quá trình giải quyết
vụ án gây ảnh hưởng đến quyền lợi của một trong các bên đương sự Kiểm sát viên khi phát hiện vi phạm này phải kịp thời yêu cầu hoặc kiến nghị đối với Tòa án.
Khiếu kiện liên quan đến đất đai thường phức tạp, kéo dài nên khi nghiên cứu
hồ sơ vụ án, áp dụng pháp luật, Kiểm sát viên cần chú ý đến thời điểm ban hành quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính bị khiếu kiện để từ đó xác định văn bản pháp luật đang có hiệu lực tại thời điểm đó để đánh giá tính có căn cứ, hợp
Trang 9pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính, về nguyên tắc chung khi áp dụng văn bản pháp luật theo quy định tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực; Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó
V/ Thụ lý vụ án hành chính:
Cụ thể:
“Sau khi xem xét, đánh giá đơn khởi kiện, ngày 12/12/2017 Thẩm phán K đã
ra thụ lý đơn khởi kiện của bà C và chị M, sau đó đã thông báo cho bà K và chị C biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí và người khởi kiện đã nộp tiền tạm ứng án phí đấy đủ (bà C và chị M đã nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí vào cùng ngày này) Ngày 16/12/2017, TAND tỉnh Hưng Yên đã thông báo bằng văn bản cho UBND huyện Y, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án và VKSND tỉnh Hưng Yên về việc Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án.”
Căn cứ Điều 117,118,119,120,121 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì giải
sử quy trình về nộp đơn và tiếp nhận đơn đúng theo quy định của pháp luật
Căn cứ Điều Điều 125 Luật Tố tụng hành chính 2015 về thụ lý vụ án hành chính:
“- Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo cho người khởi kiện biết để họ nộp tiền tạm ứng án phí; trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thông báo cho người khởi kiện biết về việc thụ lý vụ án.
Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai cho Tòa án.Thẩm phán thụ lý vụ án vào ngày người khởi kiện nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí Trường hợp người khởi kiện được miễn nộp tiền tạm ứng án phí hoặc không phải
Trang 10nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện biết việc thụ lý Việc thụ lý vụ án phải được ghi vào sổ thụ lý.Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người khởi kiện mới nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì giải quyết như sau:
+ Trường hợp chưa trả lại đơn khởi kiện thì Thẩm phán tiến hành thụ lý vụ án;
+ Trường hợp đã trả lại đơn khởi kiện mà người khởi kiện chứng minh được
là họ đã nộp tiền tạm ứng án phí đúng thời hạn quy định, nhưng vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên họ nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án không đúng hạn thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo và tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp đơn khởi kiện lần đầu;
+ Trường hợp sau khi Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện mới nộp tiền tạm ứng án phí và nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Thẩm phán yêu cầu họ nộp lại đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành thụ lý vụ án; trường hợp này ngày khởi kiện là ngày nộp lại đơn khởi kiện.Trường hợp hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này mà người khởi kiện không nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí thì Tòa án thông báo cho họ biết về việc không thụ lý vụ án với
lý do là họ không nộp tiền tạm ứng án phí Trường hợp này, người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn.Sau khi Thẩm phán thụ
lý vụ án mà Tòa án nhận được đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan theo quy định tại Điều 129 của Luật này để giải quyết trong cùng một
vụ án hành chính thì ngày thụ lý vụ án được xác định như sau:
+ Trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì ngày thụ lý vụ án là ngày Tòa án nhận được đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo;