Bài thu hoạch diễn án hình sự của khoá đào tạo luật sư khoá 23 học viện tư pháp. Diễn án hồ sơ 01 Tạ Văn Trường tội chứa mại dâm theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS. nội dung bài bào chữa cho bị cáo không phạm tội chứa mại dâm theo truy tố của Viện kiểm sát.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật Sư khi tham gia giải quyết các vụ án hình sự
Số hồ sơ: 01
Ngày diễn án: 13/09/2021
Giáo viên hướng dẫn: TRẦN VÂN LINH
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 09 năm 2021
Trang 2I TÓM TẮT HỒ SƠ VỤ ÁN
- Tạ Văn Trường – sinh năm 1988, HKTT: thôn Phú Đa, xã Công Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đến xin việc làm tại quán tẩm quất thư giãn Ha Na có địa chỉ tại khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh của Ngô Văn Thành – sinh năm 1984 là chủ quán Hai bên thoả thuận rằng Thành giao toàn bộ công việc quản lý, điều hành quán cho Trường Mỗi buổi tối Trường có trách nhiệm quản lý quán và điều hành nhân viên khi có khách, thu tiền tẩm quất
và tiền phòng karaoke, không được mua bán, sử dụng ma tuý và hoạt động mại dâm Thành hứa trả lương cho Trường 4.000.000đ/tháng
- Khoảng 20h45’ ngày 5/7/2018, 3 đối tượng gồm: Nguyễn Văn Thọ - sinh năm
1986, Nguyễn Trần Trung – sinh năm 1987 và Nguyễn Văn Tuấn – sinh năm 1990 đều ở thị trấn Chờ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đi xe taxi của tài xế tên Nguyễn Văn Huy – sinh năm 1983, HKTT: thôn Việt Vân, xã Việt Thống, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đến quán tẩm quất Ha Na, lúc này Thành không có mặt tại quán Thọ, Trung và Tuấn thoả thuận với Trường để mua
“3 vé tàu nhanh” (tức mua dâm), tiền phòng là 150.000đ/tiếng/người đưa trực tiếp cho Trường còn tiền mua dâm thì đưa cho nhân viên Trường không quản lý số tiền
đó, chỉ nói giá thấp nhất là 300.000đ Sau đó Trường báo Thọ, Trung và Tuấn lên phòng 203, 202, 201 đợi Trường gọi nhân viên bán dâm Trường gọi cho Phùng Thị Kim Liên – sinh năm 1990 là nhân viên tại quán và nói Liên đến phòng 203 Sau đó Trường gọi cho một người tên Bắc với số điện thoại 0974061663 được dán
ở quầy lễ tân, Trường không biết Bắc là ai cũng chưa gặp bao giờ, chỉ biết khi có khách thì gọi cho Bắc để kêu 2 nhân viên đến quán tẩm quất Ha Na để bán dâm Một lúc sau có Lê Thị Thanh Tâm – sinh năm 1995 đến, Trường bảo Tâm lên phòng 202 để bán dâm Tại phòng Trung và Thọ đưa tiền cho gái bán dâm là 500.000đ/người, Tuấn vẫn ở phòng 201 đợi gái bán dâm đến Khi Trung với Liên, Thọ và Tâm đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Bắc Ninh bẳt quả tang thu giữ các vật chứng gồm: 02 bao cao su đã qua sử dụng, tiền VNĐ 1.500.000đ do Trường, Tâm và Liên giao nộp; 02 điện thoại do Trường và Liên giao nộp
- Ngày 18/10/2018, Việt Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã ra Cáo trạng truy tố
Tạ Văn Trường về tội Chứa mại dâm quy định tại điểm d, khoản 2 Điều 327 Bộ Luật Hình sự
- Ngày 28/12/2018 TAND thị xã Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 11/01/2019
II NHỮNG NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG
- Bị cáo Tạ Văn Trường – sinh năm 1988, HKTT: thôn Phú Đa, xã Công Lý, huyện
Lý Nhân, tỉnh Hà Nam
Trang 3- Người bảo chữa cho bị cáo Trường: Luật sư Lê Ngọc Hà – Văn phòng luật sư Đa Phúc thuộc Đoàn Luật sư TP.Hà Nội, địa chỉ: 1112 Thăng Long Tower – 99 Mạc Thái Tổ, Quận Cầu Giấy, TP.Hà Nội
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ngô Văn Thành - sinh năm 1984;
+ Ngô Thị Yến – sinh năm 1985
Cùng nơi cư trú: Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh;
+ Phùng Thị Kim Liên – sinh năm 1880
Nơi cư trú: khu 1, xã Hương Xạ, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ;
+ Lê Thị Thanh Tâm – sinh nă 1995
Nơi cư trú: Đội 6, xã Ninh Thắng, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
III KẾ HOẠCH HỎI
1 HỎI BỊ CÁO: TẠ VĂN TRƯỜNG
- Bị cáo làm gì ở quán tẩm quất Ha Na?
- Bị cáo được chủ quán Thành giao cho những công việc gì?
- Ai là người thu tiền trực tiếp từ khách? Anh Thành dặn dò với bị cáo như thế nào bảng giá dịch vụ thu trực tiếp từ khách?
- Số tiền thu được từ hoạt động kinh doanh của khách sẽ được quản lý như thế nào?
- Bị cáo bàn giao tiền từ hoạt động kinh doanh như thế nào cho chủ quán?
- Thu nhập hàng tháng của bị cáo như thế nào? Bao nhiêu?
- Anh Thành có đến quán thường xuyên hay không? Nếu có thì vào thời gian nào?
- Việc quản lý quán còn có ai được anh Thành giao cho nữa không?
- Vì sao bị cáo biết Bắc và có số điện thoại của Bắc?
- Bị cáo đã gặp Bắc khi nào?
- Bị cáo cho biết người tên Nguyễn Thị Nguyên là ai? Bị cáo đã gặp bao giờ chưa?
- Bị cáo có quen biết như thế nào với Nguyễn Thị Tâm?
- Sau khi giới thiệu khách mua dâm với gái mại dâm bị cáo có thu được lợi gì từ việc giới thiệu đó không? Nếu có thì lợi ích đó là gì? Ai là người trả lợi ích đó cho
bị cáo?
- Khi 3 khách đến quán hỏi “tàu nhanh” vì sao bị cáo biết đó là hành vi hỏi về mua dâm?
- Bị cáo cho biết mối quan hệ giữa bị cáo và Liên?
- Vì sao khi có khách có nhu cầu mua dâm bị cáo lại gọi cho Liên?
- Bị cáo và Liên có thoả thuận gì về việc mua bán dâm?
Trang 42 HỎI NGƯỜI CÓ QUYỀN LỢI VÀ NGHĨA VỤ LIÊN QUAN:
1 NGÔ VĂN THÀNH
- Anh Thành cho biết anh gặp Trường khi nào?
- Ai là chủ sở hữu quán Ha Na và đứng tên trên giấy đăng ký kinh doanh của quán?
- Anh và bị cáo Trường đã thoả thuận gì về bàn giao công việc tại quán Ha Na?
- Doanh thu mỗi ngày được bàn giao cho anh như thế nào?
- Anh và Trường có thoả thuận gì về hành vi bán dâm tại quán của anh không?
- Ngoài Trường anh có giao công việc quản lý cho ai khác không?
- Anh hứa với Trường rằng sẽ trả lương cho Trường bao nhiêu? Ngoài lương ra còn có tiền thưởng gì khác không?
- Tần suất đến quán của Anh như thế nào?
- Ngày 5/7/2018 anh đến quán khi nào, mấy giờ?
- Anh khai đã dặn dò Trường không được có hành vi mua bán dâm tại quán vậy khi anh có suy nghĩ gì khi bị công an bắt quả tang tại quán của mình về hành vi mua bán dâm?
- Anh và Liên có mối quan hệ như thế nào? Cả hai đã thoả thuận những gì?
2 NGÔ THỊ YẾN
- Chị Yến cho biết chị có thường xuyên đến quán Ha Na cùng chồng không?
- Ai là người nắm giữ trực tiếp doanh thu của quán Ha Na?
- Doanh thu của quán Ha Na là từ những hoạt động nào?
- Chị biết gì về bị cáo Trường, người có quyền nghĩa vụ liên quan chị Tâm?
- Chị có biết/nghe chồng mình anh Thành nói gì về việc quán có sử dụng gái mại dâm/có hành vi mua bán dâm tại quán không?
- Ngày 5/7/2018 chị ở đâu, cùng với ai? Chị có nghe chồng chị nói chuyện điện thoại với ai vào ngày 5/7/2018 không? Nếu có thì nội dung là gì?
3 PHÙNG THỊ KIM LIÊN
- Chị làm công việc gì ở quán Ha Na? Bắt đầu làm từ khi nào?
- Khi xin việc tại quán Ha Na, chị gặp trực tiếp ai để phỏng vấn? Cả hai đã thoả thuận như thế nào về công việc?
- Chị khai rằng chị là gái bán dâm tự do, vậy anh Thành có biết về việc này không?
- Chị đã thực hiện hành vi bán dâm tại quán Ha Na bao nhiêu lần? Cụ thể là khi nào? Anh Thành có biết không?
- Tiền bán dâm thu được chị có phải chia cho ai hay không?
- Chị và bị cáo Trường có thoả thuận gì với nhau không?
4 LÊ THỊ THANH TÂM
- Chị cho biết mối quan hệ giữa chị và bị cáo Trường?
Trang 5- Chị làm công việc gì, cho ai?
- Vì sao chị biết và đến quán Ha Na vào tối 5/7/2018 để thực hiện hành vi bán dâm?
- Ai là người chở chị đến quán Ha Na vào tối 5/7/2018?
- Chị có quen biết gì với người tên Bắc?
- Chị đã thực hiện hành vi bán dâm tại quán Ha Na bao nhiêu lần? Cụ thể là những lần nào?
IV BẢN LUẬN CỨ BÀO CHỮA CHO BỊ CÁO TẠ VĂN TRƯỜNG
Kính thưa Hội đồng xét xử, vị đại diện Viện Kiểm sát, các Luật sư đồng nghiệp!
Tôi là Luật sư Hoàng Phương Trinh thuộc văn phòng Luật Sư ABC, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh Hôm nay, tôi có mặt tại phiên toà với tư cách là người bào chữa cho bị cáo Tạ Văn Trường
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lắng nghe quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát và phần xét hỏi tại toà, tôi xin trình bày quan điểm của minh như sau: Bản cáo trạng số 118/CT-VKS-P1 của Viện Kiểm Sát nhân dân tỉnh Bắc Ninhl, bị cáo Trường bị truy tố về tội “chứa mại dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 327 BLHS
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, lời khai cùng quá trình xét hỏi tại toà tôi hoàn toàn không đồng ý với quan điểm của VKS về việc cấu thành tội “chứa mại dâm” cho bị cáo Trường
Thứ nhất, hành vi của bị cáo Trường đối với Trần Thị Kim Liên không
đủ yếu tố cấu thành tội “chứa mại dâm” như cáo trạng của VKS Trong cả lời
khai của bị cáo Trường và chị Liên, cả hai đều thừa nhận việc thoả thuận của Trường với chị Liên rằng “khi nào có khách thì gọi” Bản chất của câu nói này, thoả thuận này là việc Trường đồng ý làm trung gian, cầu nối cho chị Liên với khách mua dâm tại quán Ha Na Khi có các đối tượng đến mua dâm vào tối ngày 5/7/2018, Trường đã gọi cho Liên đến để tiếp khách giống như thoả thuận Như vậy, hành vi của bị cáo Trường chỉ đủ yếu tố cấu thành tội “môi giới mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 328 BLHS
Thứ hai, hành vi của bị cáo Trường đối với Lê Thị Thanh Tâm không
đủ căn cứ để khẳng định rằng đây là hành vi “chứa mại dâm” lẫn “môi giới mại dâm” Qua các lời khai của cả bị cáo và chị Tâm đều thừa nhận rằng cả hai
không quen biết lẫn nhau, chị Tâm cũng không hề nhận được cuộc gọi nào trực tiếp từ bị cáo Trường gọi chị Tâm đến quán Ha Na bán dâm cho khách Về lời khai của bị cáo Trường, bị cáo khai rằng có gọi điện thoại cho một người tên Bắc để Bắc cử người đến, tuy nhiên, Tâm cũng không hề quen biết người nào tên Bắc cả, chính vì vậy không đủ cơ sở để kết luận có sự kết nối giữa bị cáo Trường và chị Tâm Thêm vào đó, hồ sơ vụ án cũng không có bất kì chứng cứ chứng minh nào
Trang 6liên quan đến việc thoả thuận mua bán dâm (thời gian, địa điểm, tiền bạc,…) giữa
bị cáo Trường và chị Tâm
Thứ ba, VKS truy tố bị cáo với tội danh “chứa mại dâm” là không có căn cứ Đầu tiên ta đi xác định định nghĩa của hành vi “chứa mại dâm” là gì Theo
quy định tại pháp lệnh phòng chống mại dâm 2003 được ban hành bới UBTVQH
ghi rằng: “Chứa mại dâm là hành vi sử dụng, thuê, cho thuê hoặc mượn, cho mượn địa điểm, phương tiện để thực hiện việc mua dâm, bán dâm” Sau đó ta tiếp
tục đặt ra câu hỏi, vậy hành vi “cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện” là gì
Tại Nghị định 178/2004/NĐ-CP ở Điều 3 đã giải thích rằng: “Cho thuê, cho mượn địa điểm, phương tiện để hoạt động mại dâm là hành vi của tổ chức, cá nhân có quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản mà cho thuê, cho mượn
để hoạt động mại dâm” Trong toàn bộ hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, của người
có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có bất kỳ chứng cứ nào chứng minh được bị cáo Trường có quyền quản lý, chiếm hữu, sử dụng hoặc định đoạt tài sản
mà cho thuê, cho mượn để hoạt động mại dâm cả Cụ thể, tại BL số 49 Biên bản đối chất ngày 10/08/2018 ta thấy rằng bị cáo đến làm việc tại quán Ha Na vào ngày 20/06/2018 đến ngày bị bắt quả tang 5/7/2018 là khoảng 15 ngày, thời gian làm việc tại đây công việc chủ yếu là lau dọn, trông nom phòng hát, hướng dẫn khách
ra vào,… Mọi công việc đều được bị cáo báo cáo lại cho chủ sở hữu quán Ha Na là anh Thành, tiền lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của khách cũng được bàn giao cho anh Thành mỗi ngày Quán tẩm quất Ha Na là hộ kinh doanh có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ cá thể (BL20) vào ngày 16/03/2017 địa chỉ cơ sở tại Khu phố Nguyễn Giáo, phường Đồng Nguyên, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh do anh Ngô Văn Thành là chủ hộ kinh doanh Chính điều này thể hiện một điều rằng, người trực tiếp sở hữu, sử dụng, quản lý và có quyền định đoạt tài sản này là anh Thành chứ không phải bị cáo Trường Chính vì vậy, VKS truy tố bị cáo Trường với tội danh “chứa mại dâm” theo điểm d khoản 2 Điều 357 là không chính xác
Thứ tư, việc VKS cho rằng bị cáo Trường có hành vi chứa mại dâm trên
04 người trong bản cáo trạng (truy tố theo điểm d khoản 2 Điều 327) là không chính xác Bởi lẽ tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” được hiểu như thế nào.
Vấn đề này được giải đáp tại tiểu mục 2, mục I “Về hình sự” tại công văn số 64/TANCTC-PC ngày 03/04/2019 của Toà án nhân dân tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính như sau:
“Tình tiết “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều
327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sự được hiếu như thế nào (người bán dâm hay bao gồm cả người mua dâm)?
Trang 7Theo Từ điển Tiếng Việt thì “mại” là “bán”, “mãi” là “mua” và “chứa mại dâm”
là “chứa bán dâm” Như vậy, tình tiết định khung tăng nặng “chứa mại dâm 04 người trở lên” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 327 và “đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 328 của Bộ luật Hình sựđược hiểu là đối với người bán dâm Cách hiểu này là phù hợp với các tình tiết định khung tăng nặng khác quy định tại tại Điều 327 và Điều 328 của Bộ luật Hình sự, đồng thời cũng phù hợp với thực tiễn xử lý đối với hành vi chứa mại dâm mà có 01 người bán dâm với 03 người mua dâm trong cùng một khoảng thời gian thì bị xử lý theo quy định tại khoản 1 của điều luật này nếu không có tình tiết định khung tăng nặng”
Như vậy, chứa mại dâm được hiểu là áp dụng đối với người bán dâm không tính người mua dâm, trường hợp của bị cáo Trường giả sử có tồn tại hành
vi chứa mại dâm của bị cáo với chị Tâm, chị Liên thì hành vi này chỉ là chứa mại dâm đối với 02 người là chị Tâm và chị Liên chứ không tính cả hai đối tượng mua dâm như quan điểm của VKS trong bản cáo trạng
Về tính tiết giảm nhẹ, tôi đồng ý với quan điểm của VKS, bị cáo Trường trong suốt quá trình điều tra vụ án đã luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; hơn nữa, bị cáo chưa từng có tiền án tiền sự, trình độ văn hoá 12/12 còn thiếu hiểu biết, nhận thức được mức độ nghiêm trọng hành vi của mình, chỉ làm theo chỉ đạo của chủ
Vì các lẽ trên, tôi đề nghị HĐXX tuyên bị cáo Tạ Văn Trường phạm tội
“môi giới mại dâm” tại khoản 1 Điều này “người nào làm trung gian dụ dỗ, dẫn dắt
để người khác thực hiện việc mua dâm, bán dâm, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” được hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều
328 BLHS về tội “môi giới mại dâm”
Trên đây là toàn bộ quan điểm bào chữa cho thân chủ tôi là anh Tạ Văn Trường, kính đề nghị HĐXX xem xét, quyết định Tôi tin tưởng rằng, bằng sự công minh, chính trực của mình HĐXX sẽ có một phán quyết công bằng, chính xác, cho thân chủ tôi một cơ hội làm lại cuộc đời Tôi xin chân thành cảm ơn HĐXX, đại diện VKS và các Luật sư đồng nghiệp đã lắng nghe