Do đặc điểm gần gũi với kiến thức trong nhà trường, cùng với mong muốn thể hiện sự ủng hộ đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, góp phần làm rõ, củng cố lòng tin cũng như gi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
- -TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG VÀ
VẬN DỤNG VÀO VIỆC XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện : Trần Thị Thu Hiền
Mã số sinh viên STT
: 1911110150 : 34
Lớp: Anh 6, Khối 2 Kinh tế đối ngoại, Khóa 58 Lớp tín chỉ : TRI114(20192).2 Giảng viên hướng dẫn : TS Đào Thị Trang
Hà Nội – 04/2020
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁI CHUNG, CÁI RIÊNG TRONG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN 2
1.1 Các khái niệm 2
1.1.1 Cái chung 2
1.1.2 Cái riêng 2
1.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung 2
1.3 Sự tồn tại của cái chung và cái riêng 4
1.4 Ý nghĩa phương pháp luận 4
CHƯƠNG II Vận dụng mối quan hệ cái chung - cái riêng vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 6
2.1 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 6
2.2 Sức thuyết phục của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 6
2.3 Những vấn đề lớn đặt ra trong việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 7
2.4 Một số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam 9
KẾT LUẬN 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT
3
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sản phẩm của thời
kỳ đổi mới, thay thế nền kinh tế kế hoạch bằng nền kinh tế hỗn hợp hoạt động theo cơ chế thị trường Đây là đường lối phát triển kinh tế đúng đắn của Đảng, dựa trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tham khảo kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trên thế giới và cả thực tiễn phát triển của đất nước
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XII, thể chế kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn trên thực tế khi đã giúp đất nước ta thoát khỏi thời
kỳ khó khăn về kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng có lúc thuộc nhóm cao nhất thế giới Từ nước nghèo, thu nhập thấp, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với kinh tế thế giới
Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế Việt Nam để đạt tốc
độ tăng trưởng nhanh, bền vững, Đảng và Nhà nước đang nghiên cứu, xem xét những vấn đề đặt ra để hoàn thiện hơn thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu đó, có thể nói triết học Mác- Lênin, đặc biệt là cặp phạm trù triết học “cái chung - cái riêng” đóng vai trò vô cùng quan trọng trong mọi hoạt động nhận thức về kinh tế thị trường
Do đặc điểm gần gũi với kiến thức trong nhà trường, cùng với mong muốn thể hiện sự ủng hộ đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, góp phần làm rõ, củng cố lòng tin cũng như giúp mọi người quen thuộc hơn với một nền kinh tế đã và đang được áp dụng ở Việt Nam, em lựa chọn vấn
đề “Biện chứng giữa cái chung và cái riêng và vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay” làm
đề tài nghiên cứu
Tiểu luận bao gồm 2 nội dung chính như sau:
Trang 5Chương I Những vấn đề cơ bản về cái chung, cái riêng trong quan điểm Triết học Mác – Lênin
Chương II Vận dụng mối quan hệ cái chung - cái riêng vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÁI CHUNG, CÁI RIÊNG TRONG QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN
I.1 Các khái niệm
I.1.1 Cái chung
Cái chung là phạm trù chỉ những mặt, những thuộc tính không những có ở một kết cấu vật chất nhất định, mà còn được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng hay quá trình riêng lẻ khác trong thế giới khách quan
Cái chung thường chứa đựng ở trong nó tính quy luật, sự lặp lại Ví dụ như quy luật cung - cầu, quy luật giá trị thặng dư là những đặc điểm chung mà mọi nền kinh tế thị trường bắt buộc phải tuân theo
I.1.2 Cái riêng
Cái riêng là phạm trù chỉ về một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan
Cái riêng còn có thể hiểu là một nhóm sự vật gia nhập vào một nhóm các
sự vật rộng hơn, phổ biến hơn Sự tồn tại cá biệt của cái riêng cho thấy nó chứa đựng trong bản thân những thuộc tính không lặp lại ở những cấu trúc sự vật khác Tính chất này được diễn đạt bằng khái niệm cái đơn nhất Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ những thuộc tính, những mặt chỉ có ở một sự vật nhất định mà không lặp lại ở những sự vật khác
Cần phân biệt “cái riêng” với cái “đơn nhất” Mặt khác, giữa những cái riêng có thể chuyển hóa qua lại với nhau, chứng tỏ giữa chúng có một số đặc điểm chung nào đó Những đặc điểm chung đó được triết học khái quát thành khái niệm cái chung
2
Trang 6I.2 Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung
Phép biện chứng duy vật của Triết học Mác - Lênin cho rằng cái riêng, cái chung và cái đơn nhất đều tồn tại khách quan, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, mật thiết với nhau:
Thứ nhất, cái chung chỉ tồn tại và biểu hiện thông qua cái riêng:
Cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình, không có cái chung thuần túy tồn tại bên ngoài cái riêng; cái chung tồn tại thực sự, nhưng không tồn tại ngoài cái riêng mà phải thông qua cái riêng
Thứ hai, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung:
Không có cái riêng nào tồn tại tuyệt đối độc lập, không có liên hệ với cái chung; sự vật, hiện tượng riêng nào cũng bao hàm cái chung
Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái chung là cái bộ phận, nhưng sâu sắc hơn cái riêng
Cái riêng phong phú hơn cái chung vì ngoài những đặc điểm chung, cái riêng còn có cái đơn nhất Cái chung sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên, lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy cái chung là cái gắn liền với cái bản chất, quy định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng
Có thể khái quát một công thức như sau:
Cái riêng = cái chung + cái đơn nhất
Công thức trên có thể là không hoàn toàn đúng một cách tuyệt đối, nhưng trong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói được một cách chính xác quan
hệ bao trùm giữa cái chung và cái riêng
Thứ ba, cái đơn nhất và cái chung có thể chuyển hóa lẫn nhau trong quá trình phát triển của sự vật:
Cái đơn nhất là phạm trù để chỉ những nét, những mặt, những thuộc tính, chỉ có ở một sự vật, một kết cấu vật chất, mà không lặp lại ở sự vật, hiện
Trang 7tượng, kết cấu vật chất khác Trong hiện thực cái mới không bao giờ xuất hiện đầy đủ ngay, mà lúc đầu xuất hiện dưới dạng cái đơn nhất Về sau theo quy luật, cái mới hoàn thiện dần và thay thế cái cũ, trở thành cái chung, cái phổ biến
Ngược lại cái cũ lúc đầu là cái chung, cái phổ biến, nhưng về sau do không phù hợp với điều kiện mới nên mất dần đi và trở thành cái đơn nhất Như vậy
sự chuyển hóa từ cái đơn nhất thành cái chung là biểu hiện của quá trình cái mới ra đời thay thế cái cũ Ngược lại sự chuyển hóa từ cái chung thành cái đơn nhất là biểu hiện của quá trình cái cũ, cái lỗi thời bị phủ định
I.3 Sự tồn tại của cái chung và cái riêng
Triết học Mác-Lenin đặt ra và giải quyết câu hỏi: Cái riêng chỉ tồn tại
trong một khoảng thời gian có hạn, vậy thì cái chung có tồn tại vĩnh viễn, vô hạn trong thời gian không?
Cái riêng xuất hiện chỉ tồn tại được trong một khoảng thời gian nhất định
và khi nó mất đi sẽ không bao giờ xuất hiện lại, cái riêng là cái không lặp lại Cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái riêng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại ở cái riêng ấy sẽ không mất đi, mà nó vẫn còn tồn tại ở nhiều cái riêng khác
I.4 Ý nghĩa phương pháp luận
Từ việc phát hiện mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, Triết học Mác-Lenin nêu ra một số ý nghĩa phương pháp luận cho mối quan hệ này để ứng dụng vào thực tiễn và tư duy, cụ thể là:
Chỉ có thể tìm cái chung trong cái riêng, xuất phát từ cái riêng, từ những sự vật, hiện tượng riêng lẻ, không được xuất phát từ ý muốn chủ quan của con người bên ngoài cái riêng vì cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng để biểu thị sự tồn tại của mình
Cái chung là cái sâu sắc, cái bản chất chi phối cái riêng, nên nhận thức phải nhằm tìm ra cái chung và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái chung để cải tạo cái riêng Trong hoạt động thực tiễn nếu không hiểu biết những nguyên
4
Trang 8lý chung (không hiểu biết lý luận), sẽ không tránh khỏi rơi vào tình trạng hoạt động một cách mò mẫm, mù quáng
Trong quá trình phát triển của sự vật, trong những điều kiện nhất định "cái đơn nhất" có thể biến thành "cái chung" và ngược lại "cái chung" có thể biến thành "cái đơn nhất", nên trong hoạt động thực tiễn có thể và cần phải tạo điều kiện thuận lợi để "cái đơn nhất" có lợi cho con người trở thành "cái chung" và
"cái chung" bất lợi trở thành "cái đơn nhất"
Vậy mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng có thể vận dụng vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay như thế nào?
Trang 9CHƯƠNG II Vận dụng mối quan hệ cái chung - cái riêng vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
II.1 Khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thị trường là nơi diễn ra hoạt động mua bán hàng hóa, nơi cung gặp cầu Kinh tế thị trường là một hệ thống tự điều chỉnh nền kinh tế, bảo đảm có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; dư thừa và phong phú hàng hoá; dịch vụ được mở rộng và coi như hàng hoá thị trường; năng động, luôn luôn đổi mới mặt hàng, công nghệ và thị trường Đó là một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường, với những đặc trưng cơ bản như: phát triển kinh tế hàng hoá, mở rộng thị trường, tự do kinh doanh, tự do thương mại, tự định giá cả, đa dạng hoá sở hữu, phân phối do quan hệ cung- cầu,…
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là tên gọi mà Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra cho mô hình kinh tế hiện tại của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Nó là một nền kinh tế thị trường nhiều thành phần, trong đó khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, với mục tiêu dài hạn là xây dựng chủ nghĩa xã hội
II.2 Sức thuyết phục của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thực tế cho thấy hơn 30 năm vận hành của KTTT định hướng XHCN đã tạo ra sự phát triển ngoạn mục của đất nước Công cuộc Đổi mới nhanh chóng đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng, duy trì tốc độ tăng trưởng vào hàng cao trên thế giới
Năm 1988, quy mô GDP chưa tới 5,5 tỉ USD, GDP đầu người chỉ đạt 86 USD; đến năm 2016, GDP đã đạt 205,32 tỉ USD, tăng hơn 37 lần, GDP đầu người đạt 2.215 USD, tăng gần 27 lần so với năm 1988, rút ngắn đáng kể
khoảng cách thu nhập so với các nước trong khu vực
Theo dữ liệu so sánh của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 1990, GDP bình quân đầu người của Thái Lan là 1.508 USD (tính tròn), con số tương ứng của Việt Nam là 98 USD, khoảng cách chênh lệch tới 15,3 lần Đến năm 2015, GDP
6
Trang 10bình quân đầu người của Thái Lan lên 5.815 USD, con số tương ứng của Việt Nam là 2.111 USD, khoảng cách rút ngắn còn 2,7 lần Với Ấn Độ, năm 1990, GDP bình quân đầu người cao gấp 3,8 lần so với Việt Nam (375 USD/98 USD), đến năm 2015, Việt Nam đã vượt Ấn Độ (2.111 USD/1.593 USD)
Thành tựu ngoạn mục nhất là công cuộc xóa đói giảm nghèo: Năm 1993, tỷ
lệ hộ nghèo trong cả nước chiếm tới 58%, đến cuối năm 2016 đã giảm chỉ còn 8,38% (theo chuẩn nghèo mới) Theo dữ liệu so sánh của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), tỷ lệ người nghèo so với dân số của Việt Nam năm 2015 ở mức 9,8%, thấp xa so với con số tương ứng của Philippines (25,2%), Ấn Độ (21,9%),
và thấp hơn cả Thái Lan (12,6%), Indonesia (11,3%)
II.3 Những vấn đề lớn đặt ra trong việc phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một sự nghiệp, một quá trình chưa có tiền lệ nên có những vấn đề đặt ra trong điều kiện hiện nay cần phải được tiếp tục xem xét, hoàn thiện:
Thứ nhất, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta
đang xây dựng là một nền kinh tế mang tính đặc thù, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa của đất nước và những giá trị XHCN mà chúng ta đang phấn đấu Thế nhưng, vấn đề cần xem xét là liệu chúng ta có thể nghiên cứu để áp dụng nhiều hơn, đầy đủ hơn những quy luật, những giá trị chung của thể chế kinh tế thị trường-một thành tựu của nhân loại vào nền kinh tế của chúng
ta, nhằm tạo thuận lợi sự phát triển vừa nhanh hơn, vừa bền vững hơn hay không? Nếu thế thì cần phải có những điều kiện nào kèm theo?
Thứ hai, định hướng của Đảng và Nhà nước và thực tiễn vừa qua đã chứng
minh rằng, để phát triển nền kinh tế Việt Nam không thể chỉ dựa vào một thành phần kinh tế nào, mà cần phải khơi dậy được mọi tiềm năng, mọi nguồn lực của đất nước, với một khát vọng chung là xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường
Để hiện thực hóa điều đó, cả nước đang phát động một tinh thần khởi nghiệp với mục tiêu là tới năm 2020, Việt Nam sẽ có khoảng 1 triệu doanh nghiệp Như
Trang 11vậy, nòng cốt để phát triển kinh tế Việt Nam, là chỗ dựa bền vững cho kinh tế đất nước, phải chăng là mọi thành phần kinh tế trong nước, bao gồm cả: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân? Như vậy, về định hướng vĩ mô, liệu chúng ta cần có sự thay đổi nào không để khơi dậy được mọi tiềm lực kinh tế của đất nước, tạo ra một sân chơi thực sự công bằng, bình đẳng, trong thụ hưởng chính sách, được tiếp cận các nguồn lực và việc tuân thủ luật pháp?
Thứ ba, với những biểu hiện lợi ích nhóm, biểu hiện của chủ nghĩa tư bản
thân hữu đang diễn ra trong nền kinh tế, cần phải có giải pháp gì để ngăn chặn,
để bảo đảm rằng những lợi ích từ phát triển kinh tế đất nước sẽ không bị một bộ phận thiểu số trong xã hội chiếm dụng, mà sẽ được chia sẻ công bằng; bảo đảm rằng sự phát triển của đất nước là sự phát triển có tính bao trùm chứ không quá thiên lệch, tạo ra sự phân biệt về giàu nghèo quá lớn giữa các vùng miền, giữa các thành phần, đối tượng trong xã hội
Thứ tư, cần có chiến lược, cùng những giải pháp hữu hiệu như thế nào để
việc phát triển kinh tế của đất nước bảo đảm hài hòa hai yếu tố đó là: Phát triển
“nhanh” và “bền vững” Đây là hai yêu cầu song hành Bởi với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam nếu không có giải pháp để đạt một tốc độ phát triển ở mức cao thì rất dễ bị tụt hậu, rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” Thế nhưng, việc phát triển nhanh về kinh tế phải bảo đảm yếu tố bền vững, đó không phải là sự phát triển bằng mọi giá, đặc biệt không phải là việc hy sinh môi trường sống để phát triển kinh tế Phát triển kinh tế đất nước không ngoài mục đích nào khác là để bảo đảm cho mọi người dân có một cuộc sống sung túc, hạnh phúc
Động lực và triển vọng hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục phụ thuộc vào những nhận thức và hành động thực tiễn mới, đầy đủ, sâu sắc hơn về phát triển KTTT định hướng XHCN tại Việt Nam
8
Trang 12II.4 Một số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Trên cơ sở nguyên lý về mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung và những vấn đề đặt ra, em xin đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nền kinh tế thị trường của Việt Nam như sau:
Thứ nhất, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần:
Thừa nhận trên thực tế sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là một trong những điều kiện cơ bản để thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, nhờ đó mà sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của mọi thành phần kinh tế
Cùng với việc đổi mới, củng cố kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, việc thừa nhận và khuyến khích các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân phát triển là nhận thức quan trọng về xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ Tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, tuy
vị trí, quy mô, tỷ trọng, trình độ có khác nhau nhưng tất cả đều là nội lực của nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Thứ hai, mở rộng phân công lao động xã hội, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị
trường:
Phân công lao động xã hội là cơ sở của việc trao đổi sản phẩm Để đẩy mạnh phát triển kinh tế hàng hóa, cần phải mở rộng phân công lao động xã hội, phân bố lại lao động và dân cư trong phạm vi cả nước cũng như từng địa phương, từng vùng theo hướng chuyên môn hóa, hợp tác hoá nhằm khai thác mọi nguồn lực, phát triển nhiều ngành nghề, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất – kỹ thuật hiện có và tạo việc làm cho người lao động Cùng với mở rộng phân công lao động xã hội trong nước, phải tiếp tục mở rộng quan
hệ kinh tế với nước ngoài nhằm gắn phân công lao động trong nước với phân công lao động quốc tế, gắn thị trường trong nước với thị trường thế giới Nhờ đó mà thị trường trong nước từng bước được mở rộng, tiềm năng về lao động, tài nguyên, cơ sở vật chất hiện có được khai thác có hiệu quả