Từ Thê thiếp thành bầy (Tô Đồng) đến Đèn lồng đỏ treo cao qua kiến giải của đạo diễn Trương Nghệ Mưu. Vấn đề chuyển thể Văn học điện ảnh, lý thuyết tiếp nhận, (một chút) về ngôn ngữ điện ảnh và văn học. Bài tập môn Tiếp nhận Văn học.
Trang 1Từ “Thê thiếp thành bầy” (Tô Đồng) đến “Đèn lồng đỏ treo cao” qua kiến giải của đạo diễn Trương Nghệ Mưu
Trần Hoàng Kiều Trang
Tóm tắt: Phim Điện ảnh chuyển thể từ Văn học được các nhà nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc
độ như so sánh các yếu tố tự sự, tính liên văn bản, Trong bài viết này, người viết nghiên cứu Điện ảnh chuyển thể như một sản phẩm tiếp nhận văn học của đạo diễn Đạo diễn là một người đọc Văn đặc biệt, có cách giải nghĩa mới về tác phẩm đồng thời thể hiện những kiến giải đó thông qua Điện ảnh Với trường hợp “Đèn lồng đỏ treo cao”, đạo diễn Trương Nghệ Mưu vừa tôn trọng tác phẩm gốc trong kiến giải nội dung, nghệ thuật, vừa vượt lên trên nguyên tác với
tư duy điện ảnh sáng tạo, kỹ thuật điện ảnh chuyên nghiệp, phong cách điện ảnh độc đáo Từ
đó, có thể đánh giá được vai trò của đạo diễn nói chung trong việc tiếp nhận Văn học để làm phim chuyển thể Thành công của “Đèn lồng đỏ treo cao” cũng được khảo sát cụ thể bằng tình hình tiếp nhận của công chúng với tư cách người đọc Tiểu thuyết và người xem Điện ảnh Ý kiến của người đọc và người xem là nhân tố quan trọng đánh giá việc Trương Nghệ Mưu đã
có những kiến giải sáng tạo, thoả đáng về tác phẩm hay không
Từ khoá: điện ảnh, văn học, chuyển thể, đạo diễn, tiếp nhận, công chúng, Trương Nghệ Mưu
1.Sự xuất hiện của đạo diễn
Trong suốt Lịch sử tồn tại của mình, Điện
ảnh chưa bao giờ thôi bị nghi vấn về khả
năng và vai trò của nó Ban đầu, Điện ảnh
sinh thành không để làm gì khác hơn là ghi
lại những hình thức Nghệ thuật khác – điêu
khắc, hội hoạ, văn chương, âm nhạc, sân
khấu, kiến trúc hoặc ghi lại cuộc sống sinh
hoạt thường ngày Người ta không coi Điện
ảnh như là một môn nghệ thuật, nó chỉ là
phương tiện tiếp cận Nghệ thuật, đời sống
Vì chỉ đơn thuần là ghi lại, Điện ảnh không
có một sự sắp xếp nghệ thuật, chỉ đạo nghệ
thuật, không có một hoán dụ, ẩn dụ nào
Nếu không có một hàm ẩn nào, dụng ý nào,
không có cơ sở thu hút người trí thức, người
thích suy tư, Điện ảnh lấy tư cách gì để đòi
được nhìn như một hình thức Nghệ thuật?
Từ quá trình vô thừa nhận đến được thừa
nhận như một môn Nghệ thuật thứ bảy là
một hành trình dài của Điện ảnh mà sự xuất hiện của Đạo diễn là một điều không thể không nhắc tới Đạo diễn đã giúp trả lời những nghi vấn về Điện ảnh Điện ảnh không có sắp xếp, chỉ đạo, Đạo diễn đứng ra làm người xếp cảnh, chỉ đạo máy quay, chỉnh sửa, cài cắm một dụng ý Nghệ thuật Lúc này, người ta mới bắt đầu quan tâm và
có những cuộc tái định nghĩa về loại hình Nghệ thuật mới này Hugo Münsterberg – nhà triết học, tâm lý học ứng dụng đã có bài chuyên khảo phân biệt Điện ảnh và Sân khấu Theo đó, Điện ảnh không đơn thuần
là sự sao chép mà chính sự sắp xếp phân cảnh, những góc quay xa – cận, cách dựng phim đã là những dụng ý mà nhà làm phim dùng để kể câu chuyện của mình Những thiết bị kỹ thuật đều là sự thể hiện góc nhìn, quan điểm, ví dụ, trong cảnh vô vàn người, máy quay chọn quay cận cảnh một người,
đó là sự thể hiện trạng thái tinh thần tập
Trang 2trung vào đối tượng đó chứ không chỉ ghi
lại nó Điện ảnh là tinh thần được thể hiện
một cách khách quan nhưng bản thân việc
chọn ghi lại gì, quay như thế nào đã có một
sự tính toán, sắp xếp Vai trò của Đạo diễn
vì thế được đề cao, thậm chí còn có một
khuynh hướng những nhà lý luận điện ảnh
xem phim như nó là sản phẩm của cá nhân
đạo diễn Walter Julius Bloem, James Angee
nhiệt liệt ca ngợi: “những bộ phim hay nhất là
những bộ phim cá nhân, được thực hiện bởi
những đạo diễn tài năng.”
Đạo diễn đã góp phần giúp Điện ảnh được
nhìn nhận như một môn nghệ thuật đích
thực
2 Sự chuyển thể Văn học – Điện ảnh
Tạm trả lời xong cho câu hỏi về bản thể của
Điện ảnh bằng đáp án “đạo diễn”, ngành
nghệ thuật này lại một lần nữa long đong
khi chính vấn đề về đạo diễn cũng bị chất
vấn Khi Điện ảnh được nhìn nhận như một
môn Nghệ thuật, người ta lại đặt câu hỏi
mới cho nó: Điện ảnh có phải một môn Nghệ
thuật độc lập không khi nó vay mượn quá
nhiều từ các ngành khác? Điện ảnh vay hội
hoạ màu sắc, vay cả điêu khắc, âm nhạc và
đặc biệt vay mượn rất nhiều từ Văn học Ở
Đức, năm 1908 nhà làm phim Heinrich
Bolten-Baeckers còn thành lập một tổ chức
gọi là “Hội sử dụng những ý tưởng văn
chương vào mục đích điện ảnh” nơi những
nhà làm phim sử dụng ý tưởng, hình ảnh
văn học đưa lên phim Tổ chức này đặt trọng
tâm vào tác phẩm Văn học, thờ ơ những yếu
tố khác của Điện Ảnh khiến nó phụ thuộc
văn chương và không có tiếng nói Những
tác phẩm cải biên Văn học tinh anh xuất hiện
dày đặc, Điện ảnh dựa vào Văn học, chúng
“cứu rỗi nhau nhưng cũng làm méo mó bản ngã của nhau” (Timothy Corrigan) Đạo diễn tưởng như đã có vị thế riêng thì nay cũng bị nghi ngờ về khả năng sáng tạo
2.1 Lí thuyết điện ảnh chuyển thể
Hiện tượng cải biên từ Văn học sang Điện ảnh đã được nghiên cứu từ lâu bởi Pháp, Anh, Nga, Đức, Trung Quốc,… Ở Việt Nam, hiện tượng này cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và có nhiều công trình nghiên cứu cụ thể Nhìn chung, các công
trình nghiên cứu đều định nghĩa chuyển thể
là sự chuyển đổi loại hình nghệ thuật Khái
niệm “chuyển thể” còn được nhìn dưới góc
độ liên văn bản, liên chủ thể Văn bản là một tác phẩm xác định, đọc hiểu được ý nghĩa
Từ góc độ liên văn bản, có thể thấy cải biên
chính là sự chuyển dịch từ cách đọc này sang
sách đọc khác, chuyển thể là một dạng thức
đặc biệt của liên văn bản Từ góc độ liên chủ
thể, cải biên là chuyển đổi từ chủ thể nhà văn
sang chủ thể đạo diễn Từ góc độ kí hiệu học,
cải biên là sự chuyển dịch hệ thống kí hiệu từ
Văn học sang Điện ảnh Vậy, nói đến cải biên là nói đến chuyện chủ thể mới (đạo
diễn) có cách đọc như thế nào, tư duy
chuyển đổi loại hình như thế nào
Cải biên văn học là một hiện tượng phổ biến
và tất yếu của tiến trình nghệ thuật bởi lẽ (1) loại hình nghệ thuật nào cũng có sự giao thoa, (2) Khán giả luôn có nhu cầu tiếp nhận,
mở rộng các hình thức tiếp thu nghệ thuật
và (3) các nghệ sĩ luôn có nhu cầu đổi mới, sáng tạo Văn học, do đó, trở thành một nguồn quan trọng của Điện ảnh, cung cấp cốt truyện, tình huống, nhân vật, Đến nay,
Trang 3gần như mọi quốc gia đều có ít nhất một tác
phẩm Văn học nổi tiếng được cải biên Ở
Việt Nam, ta cũng được chứng kiến “Lão
Hạc”, “Truyện Kiều” (ba lần) trên màn ảnh
Cải biên Văn học chưa bao giờ hết được
quan tâm, thậm chí nó còn trở đi trở lại
nhiều lần như một trào lưu trong lịch sử
điện ảnh Không chỉ những năm 1900 ở Đức,
1945 ở Pháp, không chỉ dừng lại ở cải biên
Văn học tinh anh nữa mà ngay trong thế kỉ
này, những năm 2000, sau sự thành công của
Harry Potter, hàng loạt những tác phẩm Văn
học viễn tưởng, đại chúng cũng được cải
biên Ban đầu, trào lưu này được công
chúng đón nhận bởi những tác phẩm văn
học thường có ưu thế truyền thông từ trước,
được biết đến rộng rãi Xong, xu hướng này
luôn đi vào ngõ cụt khi chính người đọc và
người xem cũng quay lưng lại với tác phẩm,
nhiều bộ phim chỉ xuất bản một, hai phần
mà không đủ kinh phí xuất bản hết các phần
còn lại Việc các đạo diễn sao chép y nguyên
văn học khiến tiếng nói riêng của điện ảnh
càng bị hạ thấp và những người đạo diễn
cũng mất chỗ đứng khi thế mạnh của điện
ảnh không được phát huy toàn bộ Điều này
chứng minh chuyển thể là một mảnh đất
màu mỡ, nhưng việc cải biên chưa bao giờ
là dễ dàng Về lí thuyết và kì vọng, chuyển
đổi phải hay, phải mang lại những giá trị
mới, chứa nhiều thông tin mới, cảm xúc
mới, nhưng có bao nhiêu tác phẩm điện ảnh
có thể vượt lên mẫu gốc? Tại sao nhiều lần
trào lưu cải biên xuất hiện nhưng lần nào
cũng đều tắt ngúm? Tại sao chỉ có một số ít
tác phẩm Điện ảnh được công nhận? Tại sao
sau bao nhiêu đầu tư cho Điện ảnh, công
chúng Việt Nam vẫn khẳng định Điện ảnh
không đủ tầm cỡ cho một “Truyện Kiều” màn ảnh?
Câu hỏi “Đạo diễn nên cải biên thế nào?” cũng câu hỏi đặt ra những năm 1900 tại Đức
và Pháp – quê hương của Điện ảnh Để cải biên được nhìn nhận như một hiện tượng tất yếu, độc lập, đạo diễn cần thể hiện được vai trò của mình, thể hiện những đặc trưng điện ảnh trong việc chuyển thể
2.2 Lý thuyết đạo diễn
Giai đoạn 1945–1980 của Pháp được đánh dấu bằng những trào lưu Điện ảnh đáng nhớ như “Chất lượng kiểu Pháp” hay “Làn sóng mới” “Chất lượng kiểu Pháp” đặc trưng là những bộ phim có kịch bản chuyển thể từ những tác phẩm Văn học nổi tiếng, rất
kĩ lưỡng về chất lượng nhưng lại yếu về phần thực hiện và lời thoại – những điểm đáng ra phải là thế mạnh của Điện ảnh Điện ảnh một lần nữa đối diện với nghi vấn: Đạo diễn có vai trò gì nếu phim chỉ là sự vay mượn, sao chép? Cũng từ đây, thuyết
“Auteur Theory” – Lý thuyết về Đạo diễn của nhà phê bình phim Francois Truffaut ra đời như một sự định nghĩa lại về vai trò, khả năng, tư duy nên có của đạo diễn trong cải biên
“Auteur Theory” ra đời trong bối cảnh trào lưu phim chuyển thể Truffaut sử dụng thuật ngữ này để luận chiến, châm chọc xu huớng làm phim thịnh hành lúc bấy giờ là cải biên các tác phẩm văn học lớn sang điện ảnh nhưng chẳng khác nào sao chép Ông cho rằng những đạo diễn theo “Chất lượng kiểu Pháp” đã quá trung thành với bản Văn học gốc, trở thành những người trung thành
Trang 4của tác phẩm Văn học, biến tác phẩm điện
ảnh thành một sự tái hiện thị giác của Văn
học Đạo diễn chỉ là người dàn dựng, sắp
xếp diễn viên, hình ảnh và hết Cách tiếp
nhận trung thành, thiếu sáng tạo, yếu về
điện ảnh này nên bị lên án và chỉ có những
đạo diễn “đọc tác phẩm văn học” theo
hướng linh hoạt, thể hiện thẩm quyền điện
ảnh trong việc hiện thực hoá tác phẩm, biết
kiểm soát, diễn đạt nó bằng ngôn ngữ điện
ảnh mới xứng đáng có vị trí trong môn nghệ
thuật này Như vậy, sự vay mượn, phụ
thuộc lẫn nhau là có tồn tại, nhưng mọi sự
vay mượn, lựa chọn giữ lại, 4thêm thắt hay
bớt đi đều cần được đạo diễn làm có ý thức,
có sự tiếp nhận và giải nghĩa tác phẩm theo
tư duy của đạo diễn
Truffaut chỉ đích danh khái niệm “Auteur”
(đạo diễn) để phân biệt với “Author” (tác
giả, nhà văn) Trong cải biên, đạo diễn là
một người tương đương với tác giả của một
cuốn tiểu thuyết chứ không là một người
đọc rồi sao chép tiểu thuyết, anh ta phải tiếp
thu và chuyển đổi theo ngôn ngữ của mình,
đưa phong cách của mình vào tác phẩm điện
ảnh Truffaut yêu cầu sự sáng tạo của đạo
diễn song song với việc tôn trọng nguyên
mẫu tác phẩm, tức là sáng tạo từ phong
cách, cấu trúc tự sự chứ, sự thể hiện bằng
ngôn ngữ điện ảnh không phải sửa đổi tác
phẩm văn chương Nói cách khác, tác phẩm
điện ảnh là một cách đạo diễn diễn giải về
tiểu thuyết Văn học
Theo đó, tiền đề và biểu hiện của “Lý
thuyết Auteur” (được phát triển bởi
Andrew Starris) về đạo diễn khi cải biên văn
học là anh ta phải thể hiện được năng lực kỹ
thuật điện ảnh và phong cách điện ảnh khi
cải biên Kỹ thuật điện ảnh là cách thể hiện
chất liệu điện ảnh Kỹ thuật điện ảnh gắn
với nghệ thuật điện ảnh – những cách thức tổ
chức những chất liệu điện ảnh theo dụng ý nghệ thuật: bối cảnh phim được dựng thế nào, bố cục không gian, màu sắc trong phim, góc quay, sắp xếp cốt truyện, sự kiện ra
sao,… Phong cách điện ảnh là sự thể hiện hệ
giá trị của đạo diễn, phân biệt đạo diễn này với đạo diễn khác Qua các bộ phim, đạo diễn thường lặp đi lặp lại một số điểm nhất định, được cho là phong cách, chữ kí, thể hiện ngay từ cách lựa chọn dự án, lựa chọn chuyên đề, chủ đề, xây dựng hình ảnh, xây dựng nhân vật, xây dựng các motif/tình tiết, xây dựng những tầng nghĩa ẩn dụ và hoán
dụ Phong cách điện ảnh được thể hiện qua
kỹ thuật điện ảnh và nghệ thuật điện ảnh, có dấu ấn riêng của đạo diễn Kiểm soát được
ba yếu tố cốt lõi này đảm bảo tác phẩm điện ảnh không là sự sao chép và đạo diễn sẽ thể hiện được thẩm quyền của mình nhiều hơn
Có thể tóm gọn “Auteur Theory” bằng mấy
ý sau:
• Trong khi chuyển thể điện ảnh, đạo diễn không nên sao chép mà nên 4han tạo tác phẩm cải biên của mình Phải
có sự chuyển hoá ngôn ngữ điện ảnh, tác phẩm cải biên làm rõ được ý nghĩa, hồn cốt của tác phẩm mà nó dựa vào, vừa tôn trọng, vừa vượt lên tác phẩm gốc
• Có thể nhìn đạo diễn như một tác giả mới của tiểu thuyết Văn học với những kiến giải, giải nghĩa mới về tác phẩm Họ thậm chí sẽ là người giúp làm rõ nghĩa, mở rộng, bổ sung cho
Trang 5văn chương khi văn chương vẫn bị gò
bó trong chữ nghĩa Đạo diễn lấp đầy
tác phẩm văn chương bằng cách lý
giải của mình, cách thoả thuận của
mình với điện ảnh
• Không chỉ lý giải tác phẩm, đạo diễn
còn cần dùng tư duy điện ảnh riêng
để chuyển đổi loại hình Tư duy này
thể hiện qua kỹ thuật điện ảnh và kĩ
thuật điện ảnh Hai yếu tố này bị chi
phối bởi phong cách điện ảnh
Vậy, có thể cắt nghĩa quá trình cải biên của
đạo diễn thành hai bước: (1) tiếp nhận tác
phẩm văn học gốc và (2) tư duy chuyển đổi
loại hình thể hiện qua kĩ thuật điện ảnh và
tìm nguyên ý của tác giả Muốn dựa vào một
tác phẩm để làm phim, trước hết phải hiểu
tác phẩm ấy viết về gì đã Các đạo diễn rất ý
thức được điều này, David Mamet trong
cuốn “Bài học điện ảnh” chia sẻ rằng khi
thực hiện một cảnh phim, anh ta không nghĩ
đến những yếu tố bên ngoài như nên trang
trí thế nào, nên làm sao cho giống mà sẽ tiến
hành cắt nghĩa, hiểu ý nghĩa bối cảnh và
chiều sâu nội dung của nó trước
Đạo diễn chuyển thể là một người đọc đặc
biệt bởi 1) đây là một nghệ sĩ, đã có tư duy
nghệ thuật, tư duy điện ảnh từ trước và 2)
sau bước kiến giải, người đọc này còn có
bước chuyển hoá những kiến giải đó sang
loại hình nghệ thuật khác Để làm được điều
này, đạo diễn cần đọc rất sâu Hành động đọc của đạo diễn không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu nguyên để xem nhà văn viết gì, tác phẩm nói về gì mà còn đi lí giải mình hiểu điều gì, thấy thế nào về tác phẩm Đạo diễn cũng như người đọc không phải một trang giấy trắng mà khi tiếp xúc với văn bản, người đọc đã có một “tầm đón đợi” sẵn như trình độ văn hoá, lứa tuổi, ngành nghề,… Những yếu tố này chi phối quá trình kiến giải tác phẩm Một nghệ sĩ sẽ có cách nhìn, đánh giá khác một kĩ sư cho dù họ cùng đọc một cuốn sách Người đọc sẽ tiến hành lấp đầy những “khoảng trống” văn chương bằng kiến giải riêng
Ban đầu, đạo diễn tiếp xúc với văn bản văn ngôn từ tác phẩm Không gian, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, đường nét – tất cả chỉ hiện lên bằng trí tưởng tượng Ở cấp độ một, người đọc đọc toàn bộ và nắm nghĩa mặt chữ, có những kiến giải sơ bộ Lúc này, theo Jauss, người đọc chưa nắm được nghĩa và ý nghĩa của tác phẩm Sau hoạt động đọc là hoạt động lí giải ý nghĩa, hình ảnh trong nhan đề, từng câu chữ Ở cấp độ hai, độc giả liên kết các câu, hình ảnh để xác lập ý nghĩa chỉnh thể Cũng trong bước này, người đọc phát huy kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghệ thuật để tái tạo một thế giới nghệ thuật trong đầu mình Quá trình này có sự điều chỉnh, bổ sung, phản tư những kiến giải sơ
bộ trong cấp độ 1 Trong cấp độ ba, người đọc mở rộng chiều liên tưởng, liên hệ đén nhiều vấn đề, chú ý đến chiều lịch sử của văn bản, bối cảnh ra đời văn bản, đối thoại với văn bản dưới ngữ cảnh hiện thực
Trang 6Như vậy, đạo diễn cần có một quá trình đọc
sâu để hiểu được tác phẩm, tái hiện được
một thế giới sinh động trong đầu mình Điều
này là cần thiết cho quá trình tư duy chuyển
đổi loại hình sau này
3.2 Tư duy chuyển đổi loại hình của đạo
diễn
Hai yếu tố ảnh hưởng đến tư duy chuyển
đổi loại hình của đạo diễn là (1) kỹ thuật
điện ảnh (chất liệu) và (2) nghệ thuật điện
ảnh (sự tổ chức chất liệu) Yếu tố phong
cách điện ảnh cũng chi phối quyết định lựa
chọn kỹ thuật và nghệ thuật nhưng đây là
yếu tố xuyên suốt, vì vậy người viết sẽ phân
tích song song phong cách đạo diễn khi
phân tích cách đạo diễn sử dụng kỹ thuật và
nghệ thuật
Kỹ thuật điện ảnh liên quan đến việc thể
hiện chất liệu từ Văn học sang điện ảnh như
nhân vật sẽ chuyển hoá thành diễn viên, lời
kể thành dàn dựng bối cảnh,… Kĩ thuật điện
ảnh luôn đi đôi với Nghệ thuật điện ảnh Kĩ
thuật là sự thể hiện chất liệu, nghệ thuật là
sự tổ chức chất liệu, sắp xếp, bố cục những
chất liệu đó theo một dụng ý nghệ thuật
Điện ảnh là sự tổng hợp của những ngành
nghệ thuật khác, trong điện ảnh có âm nhạc
(nhạc phim), có hội hoạ (màu phim), văn
học (cốt truyện, nhân vật,…), những yếu tố
này được tổ chức có nghệ thuật, chủ ý Ví dụ
với chất liệu âm nhạc, đạo diễn sẽ quan tâm
khi nào nên để nhạc vang lên, nhạc trùng
với tâm trạng nhân vật hay đối nghịch với
nhân vật, bài hát có liên quan gì đến số phận
và cuộc đời nhân vật không,…
Để thể hiện chất liệu, đạo diễn cần rất am
hiểu đặc trưng của điện ảnh Tác phẩm văn học gốc tiếp xúc với người đọc bằng ngôn từ
và hệ thống kí hiệu, độc giả tiếp xúc với hệ thống kí hiệu đó, tưởng tượng, liên hệ, hình dung ra được những hình ảnh, âm thanh Hình tượng trong Văn học là hình tượng gián tiếp Trong khi đó, đặc trưng của Điện
ảnh là hoàn toàn ngược lại Hình tượng
trong Văn học là hình tượng trực tiếp, có
hình thù, đánh mạnh vào giác quan Lúc này, đạo diễn phải vận dụng tư duy điện ảnh của mình để chuyển đổi ngôn ngữ Văn học thành ngôn ngữ Điện ảnh Điện ảnh phải cụ thể từng chi tiết, điện ảnh là nghe được, nhìn thấy Nếu tiểu thuyết nhắc đến một cái bàn, cái ghế thì cảnh trong điện ảnh phải tái hiện cả một căn phòng, trong căn phòng có bàn, có ghế nhưng cũng phải có các sự vật khác để không làm trống khung hình, mỗi sự vật này lại không được tuỳ tiện, ngẫu nhiên mà phải có chủ ý, ẩn dụ: một chiếc gạt tàn đầy, một bình hoa héo,
Nếu chuyển đổi y nguyên những gì viết trong tiểu thuyết lên màn ảnh, sẽ có những phần không thể chuyển đổi được, không thể hay được, nhất là những đoạn độc thoại nội tâm trong Văn học Khi một nhân vật buồn, câu hỏi của nhà văn là “Anh ta cảm thấy như thế nào?” và sau đó là những đoạn văn độc thoại nội tâm, những dằn vặt có thể kéo dài hàng trang Phim ảnh không thể như vậy, đạo diễn phải đặt câu hỏi “làm thế nào để người xem nghe, nhìn thôi đã biết anh ta đang rất buồn?” và không chỉ biết, họ phải
ám ảnh, đồng tâm trạng với anh ta chỉ qua cái nhìn trong vài giây, vài phút Văn học mang tính tư duy trực tiếp, nhưng điện ảnh
Trang 7tư duy gián tiếp, tối kỵ độc thoại nội tâm,
hạn chế việc diễn viên tự nói thoại một
mình, chỉ giữ lại đối thoại Trong phim, mọi
lời kể chuyện được chuyển hoá thành khung
cảnh, diễn xuất Để khán giả biết anh ta
buồn, nhân vật có thể được đặt bên cạnh
bình hoa héo Bông hoa héo ẩn chứa góc
nhìn của ai – ai nhìn thấy nó? Nó được
phóng chiếu theo tâm trạng của ai? Tại sao
nhân vật lại rơi vào tình trạng này? Hành
động của nhân vật có chứa một ẩn dụ nào?
Cảm xúc của nhân vật liên quan gì đến âm
nhạc và âm thanh không gian? Mọi nghe,
nhìn đều là ẩn dụ tâm trạng Tính tư duy
gián tiếp còn thể hiện ở việc tạo hình các
hình ảnh, hình tượng Đạo diễn sẽ vận dụng
tất cả những yếu tố tạo hình như đường nét,
hình khối, màu sắc để lôi kéo chú ý người
xem
Cũng vì bộ phim bị giới hạn thời lượng, cốt
truyện, sự kiện phải chặt chẽ, bố cục mạch
lạc rõ ràng Cốt truyện cần logic, các sự kiện
cần có tính kết nối, thúc đẩy nhau, tạo cao
trào, hành động của nhân vật phải là kết quả
tự nhiên và tất nhiên của các tình huống Để
khán giả không rời màn hình giây nào, đạo
diễn cần rất ý thức đến câu chuyện mình
đang kể: những ai sẽ quan tâm đến chủ đề
này? Họ có tiếp nhận được những hành
động này của nhân vật không? Hành động
này có quá dễ đoán? Phải làm gì để họ
không thể đoán được? Người tiếp xúc với
tác phẩm điện ảnh không có nhiều thời gian
để ngẫm và giở lại trang sách như người đọc
tác phẩm văn học Muốn giữ họ ở lại, có một
cách là để khán giả song hành cùng bộ phim,
khi họ vừa kịp hiểu chuyện gì vừa xảy ra thì
ngay lập tức phim lại phải có những diễn biến mới để họ tiếp tục tư duy, dự đoán
Ngoài những chất liệu điện ảnh vay mượn
từ văn học như cốt truyện, nhân vật, sự kiện
kể trên, cũng cần để ý đến hai chất liệu vay
mượn từ hội hoạ và âm nhạc đó là màu sắc
và âm nhạc trong phim Nhạc trong phim gồm 1) âm thanh không gian như tiếng bước
đi, tiếng vận động của sự vật, 2) tiếng thoại gắn với nhân vật và 3) âm nhạc trong phim Nhạc chia sẻ không gian với hình ảnh, có lúc
nó đệm cho hình ảnh, cũng có lúc nó chi phối cảnh nhìn hình ảnh
Màu sắc cũng là yếu tố quan trọng trong phim Màu sắc có thể là màu thực, có thể là hiệu ứng, có tính thị giác cao, thu hút sự chú
ý của khán giả Màu sắc giúp làm nổi bật chủ thể, chủ đề, khắc hoạ tâm lý nhân vật và tăng hiệu quả kể chuyện
Sau khi xác định được những chất liệu cần
thiết, đạo diễn có sự tổ chức lại chất liệu
theo một dụng ý nghệ thuật nhất định, hợp
lý Đây là vấn đề “quay như thế nào” Đạo
diễn Trương Nghệ Mưu đã ví việc tạo bố cục này như công việc của người nặn tượng, nếu sai lệch tỉ lệ, sau này ắt hẳn tượng sẽ khiếm khuyết, mất cân đối Khái niệm “montage” – nghệ thuật dựng phim rất quan trọng trong Điện ảnh Trong điện ảnh, phương pháp dựng phim (montage) là sự kết hợp các cảnh phim lại với nhau, là sự sắp xếp những khuôn hình của phim trong một trật
tự nhất định và nối tiếp nhau Những điều người xem cảm nhận được từ phân cảnh, từ xúc động, yêu mến đến sợ hãi, lo lắng đều tạo ra từ sự tổ chức hình ảnh và âm thanh
Trang 8Để dựng hình, đạo diễn cần xác lập hàng
loạt các yếu tố như ý đồ sáng tạo, bố cục
khuôn hình, tông phim và màu sắc, ánh
8sáng, thủ pháp quay phim, Chúng phải
thống nhất thể hiện chủ đề tư tưởng của bộ
phim
Về căn bản, đó là tư duy chuyển đổi loại
hình của Đạo diễn, nhưng việc lựa chọn thị
giác hoá như thế nào lại là vấn đề thuộc về
tài năng, kinh nghiệm, phong cách Hai đạo
diễn cùng kiến giải một nguyên tác chắc
chắn sẽ không có sự lựa chọn chất liệu và
sắp xếp chất liệu giống nhau Việc đạo diễn
đọc như thế nào có ảnh hưởng rất lớn đến
những lựa chọn sau này Hiểu sai nguyên
tác hoặc bất đồng với nguyên tác sẽ dẫn đến
lựa chọn biểu tượng, hình ảnh, màu sắc, chủ
đề sai
Về vai trò của đạo diễn trong chuyển thể văn
học, nhiều người nói đây là công việc của
biên kịch hơn là của đạo diễn, nhưng chính
đạo diễn là người phê duyệt kịch bản, quyết
định tính khả thi của kịch bản, cũng có
nhiều đạo diễn chính là biên kịch Cuộc
tranh luận đạo diễn hay biên kịch, đạo diễn
hay diễn viên quan trọng hơn vẫn còn tiếp
diễn Với trường hợp Trương Nghệ Mưu,
ông không phải người viết kịch bản, nhưng
có những người chuyên viết kịch bản theo
yêu cầu của ông, gợi ý của ông, những kịch
bản đó mang đậm phong cách của ông và là
sản phẩm của ông, ông cũng là người trực
tiếp tuyển chọn diễn viên phù hợp và có
những diễn viên chuyên đóng phim của
mình Thẩm quyền của Trương Nghệ Mưu
với những bộ phim chuyển thể của mình là
gần như tuyệt đối trong từng khâu, vì vậy
trong bài viết này, người viết nhấn mạnh vai trò đạo diễn hơn là biên kịch, diễn viên Cụ thể thẩm quyền đó như thế nào, xin được khảo sát qua việc Trương Nghệ Mưu cải biên “Thê thiếp thành bầy” (Tô Đồng)
4 “Thê thiếp thành bầy” (Tô Đồng) qua kiến giải của Trương Nghệ Mưu
4.1 Tô Đồng và “Thê thiếp thành bầy”
Tô Ðồng sinh năm 1963, là người tỉnh Giang
Tô Ông học tại Ðại học Sư Phạm Bắc Kinh
và hiện là một nhà văn chuyên nghiệp Phong cách kể chuyện của Tô Đồng tao nhã, ung dung và điềm đạm như con người ông
Tô Đồng từng nói về cuộc đời không ham danh lợi của mình: “Sống trong căn phòng nhỏ bé của mình, đọc sách, viết văn, gặp bạn, đánh mạc chược với bạn bè, không có
dã tâm, không có tham vọng Cuộc sống thanh bình, tâm trạng yên tĩnh.”
Tô Đồng xuất hiện trên văn đàn Trung Quốc những năm 80 Giới phê bình Trung Quốc
đã gọi chung những nhà văn xuất hiện vào thời điểm này là “Tiên phong phái” hay nhóm các nhà văn “Đợt sóng mới” bởi những thể nghiệm Văn học mới lạ của họ
“Tiên phong phái” đánh dấu một sự chuyển biến trong tư tưởng, văn hoá, “tiểu thuyết Tiên phong” quan tâm tới những đề tài mới
mẻ, ám ảnh của một thế hệ vừa bước qua Đại cách mạng Văn hoá Bạo lực, cái chết, ẩn
ức tình dục, những điều phản truyền thống được thế hệ này quan tâm khai thác
“Thê thiếp thành bầy” là một trong những tác phẩm Văn học hiện đại Trung Quốc nổi tiếng, tiêu biểu cho phong cách viết của Tô Đồng Tác phẩm sáng tác năm 1989, kể về
Trang 9những năm 1920 khi Trung Quốc đang
chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội
hiện đại, nếp sống, nếp nghĩ cũ vẫn còn đó,
dằng co với cái mới Những tư tưởng mới
chỉ bắt đầu xuất hiện nhưng rất manh nha,
mỏng manh, đa số mọi người vẫn phải cúi
đầu trước những giá trị xưa ăn sâu vào tư
tưởng Truyện bộc lộ cái thân phận đen tối
của đàn bà và cái quyền uy tuyệt đối của
người đàn ông đối với đàn bà trong nước
Trung Hoa cổ Tùng Liên - nhân vật chính
là cô sinh viên hai mươi tuổi đang học đại
học, vì nhà phá sản, cha tự tử, mẹ kế thúc
giục gả nàng đi làm vợ thứ Tư cho Trần Tả
Thiên Đây là một căn nhà nặng nề lễ giáo
phong kiến, tất cả người vợ đều phụ thuộc
vào chồng, họ tranh giành, đố kỵ nhau, làm
mọi cách để có được sủng ái Tùng Liên từ
được lão gia yêu thích dần bị thất sủng, phải
chứng kiến mỗi ngày cảnh những người
phụ nữ tính kế nhau, sinh ra cô đơn, bị ám
ảnh bởi những ảo giác và cái chết Cuối
truyện, Tùng Liên phát hiện ra bí mật về cái
giếng nơi người ta giết những người phụ nữ
ngoại tình bao đời của Trần gia và nàng trở
điên Tiểu thuyết đã tái hiện lại một xã hội
Trung Hoa cổ nơi người đàn ông nắm quyền
chi phối tất cả, có thể chọn yêu thương hoặc
huỷ hoại người phụ nữ Phụ nữ chỉ như một
thứ đồ chơi, thoả mãn tình dục, họ có cố
gắng vươn lên khỏi hoàn cảnh nhưng dù
cách đó là thoả hiệp hay chống lại thì cũng
bị hoàn cảnh chèn ép
Năm 1991, tác phẩm được Trương Nghệ
Mưu cải biên với tên gọi “Đèn lồng đỏ treo
cao” Trong phim, tên của nhân vật đã được
thay đổi Ở bài viết này, người viết sử dụng
tên nhân vật theo nguyên gốc trong tiểu
thuyết để thống nhất với tóm tắt ban đầu về tác phẩm
4.2 Trương Nghệ Mưu và “Đèn lồng đỏ treo cao”
Trương Nghệ Mưu là một đạo diễn tiêu biểu cho thế hệ thứ năm của Điện ảnh Trung Quốc – thế hệ làm đảo lộn mọi khái niệm về Điện ảnh từ trước đến nay Họ là thế hệ đầu tiên được học hành bài bản sau khi kì thi Đại học được khôi phục Họ đa dạng hơn thế hệ thứ tư trong cách sáng tạo, họ cá tính hơn, gai góc hơn vì đã trực tiếp chứng kiến, bị giam hãm, chịu tổn thương trong Đại cách mạng Văn hoá Thế hệ này còn được gọi bằng tên “những đứa con phản nghịch”, mang những ảo tưởng và niềm tin tan vỡ Cũng giống như Văn học thời kì này, Điện ảnh có khuynh hướng chống lại truyền thống Có lẽ cùng có những tổn thương, họ rất thống nhất trong quan niệm xã hội và điện ảnh, họ mang đặc điểm chung đó là quan sát quá khứ, văn hoá truyền thống bằng thái độ phản tư mang đậm chất sắc
lạnh của lý tính
“Đèn lồng đỏ treo cao” đã giúp tên tuổi Trương Nghệ Mưu vươn tầm quốc tế Bộ phim đạt được tiếng vang lớn và được quốc
tế đón nhận khi được đề cử mười lăm giải thưởng và đạt mười một giải trong số đó Thành công của chuyển thể điện ảnh lớn đến nỗi nhiều người tìm đọc lại tác phẩm nguyên mẫu sau khi xem phim
Nhìn chung, thành công này có được là nhờ Nghệ Mưu đã chọn được một tác phẩm cải biên tiềm năng đồng thời có những kiến giải, sáng tạo đắt giá để hiện thực hoá bộ
Trang 10phim ở hai khía cạnh: kĩ thuật điện ảnh (chất
liệu) và nghệ thuật điện ảnh (sự sắp xếp chất
liệu)
4.2.1 Kiến giải trong kĩ thuật điện ảnh
• Kiến giải tư tưởng, chủ đề
Trước khi bắt đầu cải biên một tác phẩm,
đạo diễn bao giờ cũng có một ý đồ nào đó
Ý đồ có thể mới sinh ra, có thể đã được ấp ủ
từ lâu nhưng bao giờ nó cũng chi phối đạo
diễn trong cách chọn chủ đề, đối tượng và
triển khai nội dung phim Trước “Đèn lồng
đỏ treo cao”, Trương Nghệ Mưu đã thể hiện
sự quan tâm của mình với số phận con
người Trung Quốc qua “Cúc đậu”, “Cao
lương đỏ” Lúc này, chủ đề về truyền thống
Trung Hoa và số phận con người là mối
quan tâm của đạo diễn “Thê thiếp thành
bầy” (Tô Đồng) được chọn cải biên như là
một sự tiếp nối của mục tiêu nhân văn đó
Tô Đồng và cả Trương Nghệ Mưu đều là
một thế hệ tiên phong, có ý xây dựng những
điều phản nghịch với Văn học truyền thống
và Điện ảnh truyền thống Họ đều chịu
những tổn thương Đại cách mạng Văn hoá
Cơn bão Đại cách mạng Văn hoá ập tới khi
Trương Nghệ Mưu vừa rời ghế nhà trường
phổ thông Ông đã có những ngày xô dạt
như bao thanh niên khác, bị liệt vào thành
phần phản cách mạng, bị xa lánh, nếm chịu
khổ cực Đến ba mươi tuổi, Trương Nghệ
Mưu mới được quay trở lại cổng trường Đại
học, quá 7 tuổi để học Học viện Điện ảnh Bắc
Kinh Nhìn lại mười năm, Trương Nghệ
Mưu đã có đủ thời gian để suy ngẫm, nhận
thức, tỉnh mộng các ảo tưởng, dứt khỏi quá
khứ để bắt đầu lại Niềm tin nào là ảo mộng
phải bỏ đi, niềm tin nào cần giữ lại đều được
ông ý thức rõ: “Tôi vẫn tin vào con người, tôi chẳng có gì phải tiếc nuối dù cũng không thể quên nổi quá khứ.” Được tiếp thu tinh hoa điện ảnh thế giới và giá trị truyền thống nước nhà, Trương Nghệ Mưu ý thức được rằng Điện ảnh nên là phương tiện để khám phá xã hội Trung Hoa và con người Trung Hoa: “Lấy mục tiêu nhân văn làm mục tiêu chính, có một kiểu khí thế lớn (…) phản tư với văn hóa truyền thống, mang khát vọng đổi mới điện ảnh.” Với hai tuyên ngôn này, những bộ phim của Trương Nghệ Mưu đi sâu vào xã hội với nhiều hủ tục còn sót lại từ phong kiến, những phận người gắn liền với truyền thống Trung Hoa xưa, đặc biệt là người phụ nữ
“Thê thiếp thành bầy” là bức tranh của những tính cách Trung Hoa điển hình - đàn ông quyền lực, phụ nữ đố kỵ điên cuồng, cùng với tư tưởng Trung Hoa điển hình – trọng nam khinh nữ, trọng gia quy tông tộc, xen vào đó là những yếu tố tình dục, tàn bạo Ai là nạn nhân của tất cả những điều này? Người phụ nữ Tư tưởng của Tô Đồng
và Trương Nghệ Mưu đã gặp nhau ở ranh giới này Thời phong kiến đã qua nhưng những tàn dư ngàn năm của nó không thể biến mất, ngay cả khi nó đang hấp hối những năm 1920 Mọi thứ cần được ghi lại, nhìn lại Chủ đề quá khứ và phận người trong quá khứ trở thành một ám ảnh trở đi trở lại trong việc lựa chọn tác phẩm chuyển thể của Nghệ Mưu, sau này còn trở thành một hệ thống biểu tượng cho phong cách ông
Tuy phẫn nộ, muốn dứt bỏ quá khứ, nhưng phải thừa nhận sự thành công của đạo diễn
Trang 11chính là sợi dây ràng buộc ông và quá khứ
Chính việc vừa phủ định nó, vừa muốn nói
về nó, vừa muốn phản tư nó, vừa luyến tiếc
giá trị văn hoá của nó đã khiến Trương
Nghệ Mưu liên tục chọn cải biên chủ đề này
và còn làm rất hay
• Kiến giải những yếu tố tự sự
Trong cốt truyện, Trương Nghệ Mưu có sự
tiếp thu, bổ sung đường dây cốt truyện
chính Về cơ bản, các sự kiện và biến cố
trong “Đèn lồng đỏ treo cao” vẫn giữ
nguyên như “Thê thiếp thành bầy”: vì nhà
nợ nần, Tùng Liên phải gả làm thiếp thứ tư
cho Trần Tả Thiên, mỗi ngày qua đi là một
ngày những người đàn bà trong phủ tị nạnh,
ganh ghét nhau cho đến một năm sau, người
vợ năm được đón về và người ta nhắc đến
Tứ Nương như một người phụ nữ điên bị
hỏng đầu óc Các sự kiện được sắp xếp theo
thời gian tuyến tính, mỗi mùa trong phủ lại
có những sự kiện mới, âm mưu mới cho đến
khi hết phim Nhìn chung, đây là một cốt
truyện có đầu cuối, sự kiện sắp xếp hợp lý,
tuy vậy dung lượng còn ngắn, thiếu cao
trào, biến cố, điểm nhấn khó đoán duy nhất
là việc Tùng Liên phát hiện ra bí mật về
chiếc giếng giết người ở cuối truyện Cốt
truyện này mang đậm phong cách của Tô
Đồng: ung dung, bình tĩnh, khách quan
Nếu giữ nguyên mạch đều đều như vậy, bộ
phim sẽ thiếu sức hấp dẫn, không níu chân
người xem được đến hai tiếng đồng hồ bởi
không có cao trào, không có tình tiết khó
đoán Khán giả cần tư duy song hành cùng
bộ phim từ đầu đến cuối, không thể đợi đến
cuối mới có một cao trào duy nhất Trương
Nghệ Mưu đã xử lý vấn đề này rất tốt khi đã
thêm một số sự kiện, biến cố thúc đẩy nhân
vật Trong truyện, Tùng Liên từ ngây thơ, trong sáng trở nên ghen ghét, đố kị, nàng cũng nổi giận, thất vọng, cô đơn, nhưng nàng nghĩ nhiều hơn làm, ít hành động, có tâm cơ nhưng tưởng tượng quá nhiều, sâu trong lòng vẫn sợ hãi cao mưu của những người vợ Lên màn ảnh, Tùng Liên đã dám thể hiện toan tính, sự bất bình bằng hành động giận dỗi Trần Tả Thiên, đập phá đồ, đỉnh cao là dám giả mang thai Sự kiện mang thai vốn không có trong nguyên tác, được Nghệ Mưu thêm vào, là bước đánh dấu sự phát triển cá tính nhân vật Tùng Liên trong phim không chỉ có ham muốn, tâm cơ như trong truyện mà còn có gan thực hiện tâm cơ Chính việc nàng sợ hãi, không muốn là một phần của những điều này nhưng sau lại làm mọi cách để có được nó
đã dẫn đến sự sụp đổ tinh thần nàng sau này Cái kết của Tùng Liên trở thành tất yếu
và thuyết phục hơn bao giờ hết Nghệ Mưu không chỉ cho nhận vật một ước mơ, một cá tính như Tô Đồng mà còn cho nhân vật một tâm thức dám đấu tranh, phản kháng, cho
dù những dằng co ấy rất yếu ớt, dễ bị dập tắt Trong nguyên tác, sự kiện Tùng Liên phát điên xảy ra sau khi phát hiện sự thật về cái chết của bà ba nhưng ở phim, nàng vẫn còn tỉnh táo tự tay gỡ niêm phong phòng bà
ba, đốt đèn lồng và doạ cho tất cả kẻ hầu tự tay giết bà phải hoảng sợ Số phận nhân vật,
do vậy, cũng bế tắc hơn khi cho dù nàng chấp nhận hay phản kháng thì sụp đổ vẫn là cái kết tất yếu
Ngoài thêm các sự kiện, Trương Nghệ Mưu
còn sắp xếp lại thứ tự các sự kiện Vẫn
những sự kiện trong tiểu thuyết nhưng chúng được sắp xếp lại toàn bộ, cái sau bao
Trang 12giờ cũng gay gắt hơn và là hệ quả của cái
trước, hành động sau luôn tàn nhẫn hơn
hành động trước Trong nguyên tác, Tùng
Liên vạch mặt a hoàn vì phát hiện nó trù ểm
nàng hai lần nhưng trong phim sự kiện ấy
diễn ra bởi bản thân Tùng Liên đã có một
thúc đẩy khác: nàng bị phong đăng, bị tước
bỏ thân phận, bị trừng trị đích đáng theo gia
quy nên cũng muốn con hầu cũng phải bị
vạch tội và trị đúng như thế Sự kiện giả
mang thai cũng có động cơ thúc đẩy từ
những gì xảy ra trước đó: bà ba khuyên
nàng phải sinh một đứa con, a hoàn khinh
thường nàng không có được sủng ái, khiến
nàng vốn chỉ manh nha ham muốn sủng ái
nay lại có dã tâm thực hiện Hành động và
tâm lý nhân vật diễn ra hợp lý, có cả tác
động từ bên ngoài và bên trong
Trương Nghệ Mưu đã nhận thấy tác phẩm
có nhịp điệu bình tĩnh, thiếu thắt nút, thiếu
tính gay cấn cần có của một tác phẩm điện
ảnh nên đã rất linh hoạt trong việc thêm thắt
và sắp xếp chi tiết Cốt truyện của phim vì
vậy mà chặt chẽ hơn, giúp người xem hình
dung hợp lí hơn sự thay đổi tâm trạng, hành
động của nhân vật
Lời kể chuyện cũng được lược bỏ trong
phim, thay bằng sự tái hiện bối cảnh, không
gian Truyện giới thiệu bà cả là một người
“tụng kinh niệm Phật”, bà hai “ấm áp”, bà
ba là một đào hát, nhưng phim không thể để
một người đứng ra giới thiệu những điều
đó Trương Nghệ Mưu đã kiến giải nhân vật
ngay trong cách sắp xếp bối cảnh không
gian Không gian không chỉ gắn với tính
cách của từng nhân vật mà còn gắn với tình
trạng được sủng ái của họ
Căn phòng của bà cả
Phòng của người vợ cả toàn gam màu gỗ tối, người hầu lúc nào cũng đang quét bụi như thể căn phòng chẳng bao giờ có ai lui đến, trong phòng không có đèn lồng, không có góc quay nào thấy được giường, trong khi phòng của ba người vợ còn lại luôn có tiêu điểm là đèn lồng và chiếc giường lớn Chiếc bàn chính giữa phòng được ba người vợ bé dùng để ngồi uống trà, đón khách, nhưng bà
cả lại đặt nhang, thờ cúng Trong phòng bà không có dấu hiệu của người chồng hay khách khứa thường xuyên ghé thăm, hoàn toàn là một người đứng ngoài những gì đang diễn ra trong nhà
Căn phòng của bà ba
Nếu phòng của bà hai giản dị chỉ có chiếc giường và đèn lồng – như cách bà cố tỏ ra bên ngoài là một người không toan tính, hào
Trang 13phóng thì căn phòng bà ba lại trái ngược
hoàn toàn Căn phòng được bố trí như một
phòng hát, hơi khoa trương nhưng rất phù
hợp với quan niệm của mình về cuộc đời chỉ
như một sân khấu, “tất cả chỉ là sự diễn xuất
và không đáng phải buồn rầu”
Căn phòng của bà Tư – Tùng Liên
Căn phòng của Tùng Liên có bố trí tính dục
rất cao với chiếc giường to nhất làm tiêu
điểm, không có trang trí cá nhân nào khác
ngoài chiếc giường Đây là căn phòng Trần
Tả Thiên thường lui tới, màu sắc đối lập với
căn phòng của người vợ cả, tượng trưng cho
việc nàng được sủng ái nhất, có tiếp xúc tình
dục nhiều nhất với lão gia
Chỉ qua căn phòng, khán giả đã tình dung
ra được bối cảnh và nhân vật của bộ phim
Nhân vật của Nghệ Mưu đã thống nhất, chặt
chẽ trong từng chi tiết nhỏ nhất là căn phòng
nơi mình nằm Tất cả những đồ vật trong
phòng đều không được Tô Đồng xây dựng
trong nguyên tác mà hoàn toàn là diễn giải
của Nghệ Mưu về nhân vật Những câu
thoại, phương châm sống, nỗi sợ và cả
những ẩn ức đều được gửi vào những đồ vật
vô tri này Đó cũng là lí do phong cách của
Nghệ Mưu luôn đặc trưng bằng những hình ảnh và biểu tượng, chúng luôn có ý nghĩa
• Kiến giải nhân vật
Nhân vật trong tiểu thuyết được kiến giải trên điện ảnh bằng diễn viên dưới các khía cạnh: ngoại hình, lời thoại, hành động Riêng lời thoại sẽ được khai thác sâu hơn trong phần kiến giải âm thanh bởi đây là một yếu tố thuộc về tính nhạc trong phim
Về ngoại hình, nguyên tác tiểu thuyết
không miêu tả chi tiết ngoại hình các nhân vật, chỉ có một vài tính từ điểm xuyết, Tùng Liên thì trong sáng và trẻ, Cát Vân – bà hai thì dịu dàng, nhưng Trương Nghệ Mưu đã
có sự lựa chọn diễn viên rất chính xác Bà cả sát tuổi Trần Tả Thiên nhưng nhăn nheo, rất già Cùng một độ tuổi nhưng người phụ nữ rất khác người đàn ông Trần Tả Thiên cũng già nhưng ông không bao giờ được quay cận mặt bởi ngoại hình ông ta không quan trọng Ông ta đại diện cho uy quyền, gia quy, sự ích kỉ của người đàn ông, dục vọng, vì vậy ông ta được khắc hoạ chủ yếu qua lời thoại
và hành động Bà hai trung tuổi, lúc nào cũng cười Bà ba trẻ, vẻ đẹp đào phấn, hồng trần, Tùng Liên được Củng Lợi đảm vai, vừa xinh đẹp, vừa có nét ngang bướng, kiêu hãnh của cô gái trẻ sau này, bà năm nhìn gần giống một đứa trẻ Lão gia càng ngày càng lấy người trẻ hơn người trước
Ngoại hình chỉ là sự lựa chọn ban đầu của
đạo diễn, những kiến giải về bản chất, sự
phát triển tính cách và tâm lý của nhân vật
mới là điểm xuất sắc của Nghệ Mưu, đặc biệt trong nhân vật Tùng Liên Trong tiểu thuyết, nàng được miêu tả là một người