1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh​

120 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1 Đặt vấn đề (12)
  • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (15)
  • 1.3 Đối tượng nghiên cứu và Phạm vi nghiên cứu (16)
  • 1.4 Phương pháp nghiên cứu (16)
    • 1.4.1 Nguồn dữ liệu (16)
    • 1.4.2 Phương pháp xử lý (16)
  • 1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài (17)
  • 1.6 Kết cấu luận văn (17)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (19)
    • 2.1 Các khái niệm trong nghiên cứu (19)
      • 2.1.1 Đổi mới xanh (19)
      • 2.1.2 Đổi mới sản phẩm xanh (20)
      • 2.1.3 Đổi mới quy trình xanh (22)
      • 2.1.4 Chấp nhận rủi ro (23)
      • 2.1.5 Thành công của sản phẩm mới xanh (25)
    • 2.2 Những công trình nghiên cứu trước đó có liên quan tới mô hình (26)
      • 2.2.3 Nghiên cứu 3: Những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới (29)
      • 2.2.4 Nghiên cứu 4: mối quan hệ của thực hiện đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh cạnh của doanh nghiệp và hình ảnh thương hiệu (31)
      • 2.2.5 Nghiên cứu 5: Phân tích tính sáng tạo của sản phẩm và tác dụng của nó đối với thành công sản phẩm mới (32)
      • 2.2.6 Nghiên cứu 6: Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh (34)
    • 2.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất (35)
  • CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 3.1 Quy trình nghiên cứu (38)
    • 3.2 Phương pháp nghiên cứu (39)
    • 3.3 Các biến cần thu thập (46)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (51)
    • 4.1 Thông tin mẫu nghiên cứu (51)
    • 4.2 Phân tích thống kê tần số các mẫu nghiên cứu nhân khẩu học (51)
    • 4.3 Phân tích thống kê mô tả các mẫu nghiên cứu (54)
      • 4.3.1. Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: X1: Đổi mới sản phẩm xanh (54)
      • 4.3.2. Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: X2: Đổi mới quy trình xanh (55)
      • 4.3.3. Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: X3: Chấp nhận rủi ro (55)
      • 4.3.4. Thóng kê mô tả mẫu nghiên cứu: Y1: Thành công của sản phẩm mới xanh (56)
    • 4.4 Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng cronbach’s alpha (57)
      • 4.4.1. Độ tin cậy của thang đo: X1: Đổi mới sản phẩm xanh (57)
      • 4.4.2. Độ tin cậy của thang đo: X2: Đổi mới quy trình xanh (58)
      • 4.4.3 Độ tin cậy của thang đo: X3:Chấp nhập rủi ro (59)
      • 4.4.4 Độ tin cậy của thang đo: Y1: thành công của sản phẩm xanh (60)
      • 4.5.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA biến phụ thuộc (64)
    • 4.6 Phân tích tương quan (66)
    • 4.7 Phân tích hồi qui tuyến tính (67)
    • 4.8 Đánh giá thảo luận kết quả nghiên cứu (70)
  • CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (73)
    • 5.1 Tóm tắt và kết quả nghiên cứu (73)
    • 5.2 Hàm ý quản trị (74)
    • 5.3 Đóng góp nghiên cứu (77)
    • 5.4 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo .......................................................- 69 - TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... PHỤ LỤC (80)

Nội dung

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ “Ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh, trường hợp các doanh nghiệp sản xuấ

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài nhằm đạt được các mục tiêu sau:

(4) Tiền phong 2019 Việt Nam xả thải nhựa thứ 4 châu Á Truy cập ngày 14/05/2019, từ https://www.tienphong.vn/xa-hoi/viet-nam-xa-thai-nhua-thu-4-chau-a-1415137.tpo

Xác định những nhân tố ảnh hưởng của các đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình sản phẩm xanh và chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh

Kiểm định mô hình về mối quan hệ đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình sản phẩm xanh và chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh của các doanh nghiệp sản xuất nhựa, bao bì, túi ni lon trên địa bàn tại thành phố Hồ Chí Minh

Hàm ý quản trị nâng cao lợi thế cạnh tranh, nâng cao chất lượng thương hiệu, hình ảnh của công ty (xí nghiệp) về sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong công tác quảng bá sản phẩm xanh, cũng như trong hoạt động sản xuất sản phẩm xanh đến người tiêu dùng và là tiền đề nâng cao chất lượng kinh doanh cho các công ty (xí nghiệp) sản xuất ra nhựa, bao bì, túi ni lon tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu

Dữ liệu sơ cấp: điều tra trực tiếp 268 các nhân viên của một số công ty (doanh nghiệp) sản xuất sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp xử lý

Phương pháp định tính: thảo luận nhóm với các chuyên gia làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ và môi trường, những nhân viên kỹ thuật của các công ty (doanh nghiệp) sản xuất sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon để điều chỉnh các câu hỏi cho hợp lý

Phương pháp định lượng: phát triển và điều chỉnh thang đo cho hợp lý trong bối cảnh hiện tại, điều tra bằng bảng câu hỏi dựa trên thang đo đã điều chỉnh, kiểm định sơ bộ thang đo thông qua công cụ hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích yếu tố khám phá EFA, Phân tích hồi quy tuyến tính để kiểm định giả thuyết của mô hình lý thuyết, hàm ý quản trị và giải pháp.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Kết quả nghiên cứu nhằm bổ sung vào hệ thống thang đo các yếu tố thuộc năng lực quản lý của tổ chức Nhận thức về mối quan hệ tích cực ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh là thông tin có giá trị cho các nhà quản lý Từ đó giúp cho các nhà quản lý đưa ra các biện pháp quản lý cũng như đầu tư vào đâu để có hiệu quả cao nhất

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cho các nhà quản trị hoặc nhà quản lý tại các công ty (xí nghiệp) , các nhà nghiên cứu, bạn đọc quan tâm đến sản phẩm xanh thân thiện với môi trường không ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, phát triển bền vững trong tương lai và cho thế hệ mai sau.

Kết cấu luận văn

Kết cấu của luận văn được chia thành 5 chương:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và kiểm định mô hình

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị Tài liệu tham khảo

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Các khái niệm trong nghiên cứu

2.1.1 Đổi mới xanh Đổi mới có thể được hiểu là đưa ý tưởng đổi mới vào thực tiễn - một hoạt động có thể liên quan đến việc phát triển một sản phẩm mới, giới thiệu một dịch vụ mới hoặc sử dụng một quy trình mới hoặc thành lập một liên doanh mới (Schumpeter,

1934) Đổi mới có thể được phân loại thành các đổi mới hành chính và công nghệ, đổi mới công nghệ đề cập đến sự tiến bộ kỹ thuật trong cả sản phẩm hoặc quy trình (Akgu¨n và Cộng sự, 2009; Mavondo và Cộng sự, 2005) Trong khi đổi mới sản phẩm cho thấy, theo tên và bản chất, những thay đổi tích cực trong một sản phẩm hoặc dịch vụ mà một công ty cung cấp, đổi mới quy trình đề cập đến những thay đổi tích cực trong cách sản xuất sản phẩm hoặc dịch vụ được cung cấp (Tushman và Nadler,

1986) Mục đích cuối cùng của đổi mới sản phẩm là cải thiện hiệu suất sản phẩm để đổi lấy khách hàng mới và thị trường mới, trong khi đó đổi mới quy trình là nâng cao năng suất, hiệu quả chi phí và tính linh hoạt (Adner và Levinthal, 2001)

Một sản phẩm hoặc quy trình sáng tạo được xác định bởi "tính mới" của nó (Garcia và Calantone, 2002) thừa nhận rằng "tính mới" này có thể được đánh giá từ ba khía cạnh mới của ngành, mới đối với công ty khởi xướng đổi mới và mới khách hàng Đổi mới phải tạo ra giá trị (Linder và Cộng sự, 2003) và tạo ra giá trị thông qua đổi mới sản phẩm hoặc quy trình có thể có nghĩa là giới thiệu sản phẩm mới hoặc quy trình tạo ra tỷ suất lợi nhuận cao hơn, doanh thu lớn hơn, giá trị cổ đông cao hơn, thị phần lớn hơn, tốt hơn hình ảnh thương hiệu công ty hoặc hiệu suất được cải thiện về mặt "màu xanh lá cây" (Baker và Sinkula, 2005)

Một đổi mới xanh được phân biệt với đổi mới thông thường ở chỗ đổi mới xanh được phát triển không đặc biệt để giải quyết các thách thức về môi trường, trước đây được thực hiện để đáp ứng các yêu cầu xanh của cơ quan quản lý hoặc các mối quan tâm xanh của khách hàng mục tiêu (Porter, 1991; Porter và van der Linde,

1995) Đổi mới thông thường, như được định nghĩa trong hướng dẫn sử dụng, là trung lập và mở ra cho tất cả các loại thay đổi trong khi đổi mới xanh, như lập luận của (Rennings, 2000), là "nhấn mạnh vào đổi mới theo hướng phát triển bền vững" Vì lý do này, đổi mới xanh có thể được xem như là một tập hợp con của tất cả các đổi mới Tập hợp đổi mới xanh này đang mở rộng, phá vỡ các cơ sở mới bằng cách giới thiệu các sản phẩm hoàn toàn mới và xâm lấn vào lãnh thổ của đổi mới thông thường bằng cách lấy đi thị trường của các sản phẩm thay thế "không xanh" hoặc loại bỏ hoàn toàn các sản phẩm và quy trình không thân thiện với môi trường Tuy nhiên, tốc độ mở rộng chậm vì các quá trình liên quan đến việc thực hiện đổi mới xanh rất phức tạp và đầy rẫy những khó khăn và không chắc chắn Một nhóm phát triển sản phẩm mới xanh được giao nhiệm vụ không chỉ đảm bảo rằng sản phẩm được phát triển là "mới" đủ để phân biệt với các sản phẩm thay thế cạnh tranh trên thị trường, mà còn "xanh" đủ để đáp ứng luật môi trường địa phương nơi sản phẩm đó thiết kế, chế tạo và đóng gói; "Xanh" đủ để giải quyết các mối quan tâm về môi trường của các bên liên quan dọc theo chuỗi giá trị sản phẩm "xanh", đủ để trở thành "một lực lượng có ảnh hưởng

- hoặc, tốt hơn, chiếm ưu thế hơn trong trận chiến tiêu chuẩn xanh" (Unruh và Ettenson, 2010); và "xanh" đủ để đạt được hoặc không giảm thiểu tác động môi trường từ việc khai thác nguyên liệu thô của sản phẩm đến lần xử lý cuối cùng sau khi sử dụng Đối với nhiều nhà đổi mới sản phẩm thông thường, khởi xướng một sản phẩm mới là một thử nghiệm về sự cam kết và một trò chơi chinh phục sự không chắc chắn Một nhà cải tiến sản phẩm xanh chắc chắn phải đối mặt với thách thức tương tự nhưng với nhiệm vụ bổ sung và ngày càng nghiêm trọng hơn là đổi mới và nâng cao nhận thức xanh, thắt chặt các quy định môi trường, tăng cạnh tranh thị trường và biên lợi nhuận mỏng hơn (Groot và Borén, 2010)

2.1.2 Đổi mới sản phẩm xanh Đổi mới xanh có thể được phân loại thành đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh (Chen và cộng sự, 2006) Đổi mới sản phẩm xanh đề cập đến việc áp dụng các ý tưởng sáng tạo dẫn đến thiết kế, sản xuất và tiếp thị các sản phẩm mới có độ mới và độ xanh vượt trội đáng kể so với các sản phẩm thông thường hoặc cạnh tranh (Baumann và Cộng sự, 2002) Tương tự như thuật ngữ "tính mới" được định nghĩa ở trên, "độ xanh" của sản phẩm là một khái niệm tương đối có thể thay đổi theo thời gian và chịu ảnh hưởng của bối cảnh và kỳ vọng tương tự như bất kỳ hiện tượng nhận thức hoặc đánh giá môi trường và sức khỏe Trong những năm qua, nhiều cơ quan chức năng và các cơ quan, cả trong nước và quốc tế, đã cố gắng thiết lập các tiêu chuẩn cho "độ xanh" của sản phẩm thông qua các hiệp ước, quy định, thông lệ và hướng dẫn của quốc tế Mặc dù các tiêu chuẩn có thể khác nhau, nhưng nhìn chung chúng liên quan đến các tác động hệ sinh thái, sức khỏe con người cũng như các tác động xã hội, văn hóa và kinh tế của một sản phẩm Một sản phẩm được coi là vượt trội so với sản phẩm thông thường hoặc cạnh tranh về "độ xanh" nếu nó tạo ra ít gánh nặng hơn cho môi trường về các yêu cầu năng lượng và nguyên liệu cũng như tài nguyên, khí thải, nước thải, chất thải rắn và các phát hành môi trường khác phát sinh trong suốt vòng đời sản phẩm của nó (Greenpeace International, 2011) Một sản phẩm xanh và sáng tạo là một sản phẩm được đặc trưng bởi nó có tính đến các vấn đề tái chế và xử lý trong suốt vòng đời của nó, sử dụng các vật liệu được tái chế và tái chế ít gây ô nhiễm, không gây ô nhiễm hoặc không độc hại, do xem xét sử dụng năng lượng tiết kiệm, độc tính độc hại đối với con người, tác động đến hệ sinh thái và các vấn đề bền vững ở mọi giai đoạn của vòng đời của nó; và kết hợp một cơ chế đánh giá và cải tiến tác động liên tục trong chu trình phát triển sản phẩm (Chiou và Cộng sự, 2011)

Phát triển sản phẩm cực kỳ quan trọng đối với các công ty cạnh tranh trong các thị trường mới và hiện tại (Calantone và cộng sự., 1995) Hơn nữa, khả năng thương mại hóa sản phẩm thành công là rất quan trọng đối với các công ty muốn cạnh tranh trên thị trường (Griffin và Page, 1996) Paladino (2007) đã định nghĩa thành công của sản phẩm mới là khả năng của một sản phẩm mới hoặc sự đổi mới để tránh thất bại trên thị trường Để sửa đổi định nghĩa của Paladino (2007), nghiên cứu này đã xác định thành công của sản phẩm mới xanh là khả năng đổi mới sản phẩm xanh hoặc đổi mới để cạnh tranh trên thị trường Do đó, giả thuyết thứ nhất của nghiên cứu này là:

H1: Đổi mới sản phẩm xanh tác động tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh

2.1.3 Đổi mới quy trình xanh Đổi mới quy trình xanh được định nghĩa là việc áp dụng các ý tưởng đổi mới dẫn đến việc áp dụng khoa học công nghệ vào các quy trình sản xuất và hoặc thực tiễn quản lý tạo ra ít hoặc không có tác động tiêu cực đến hệ sinh thái, sức khỏe con người, xã hội, văn hóa và kinh tế (Chen, 2011) Một quy trình xanh và đổi mới là một quá trình hoặc hoạt động được đặc trưng bởi việc đáp ứng các tiêu chí môi trường được đặt ra bởi bối cảnh ngành và bối cảnh xã hội nơi công ty hoạt động cũng như các thị trường và khách hàng đặt ra để phục vụ, xem xét đầy đủ về sử dụng năng lượng và tài nguyên, độc tính độc hại đối với con người, tác động đến hệ sinh thái và các vấn đề bền vững trong thiết kế và thực hiện quy trình hoạt động, và kết hợp một cơ chế đánh giá và cải thiện tác động liên tục trong quá trình hoạt động (Chiou và Cộng sự., 2011) Đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh có chung nhiều thuộc tính Trên thực tế, nhiều học giả đã lập luận rằng không có sự đổi mới "thuần túy" nào trong sản phẩm hay quy trình vì mọi đổi mới sản phẩm đều liên quan đến một mức độ đổi mới quy trình và ngược lại (Chiou và Cộng sự., 2011; Nielsen, 2006) Mặc dù ý tưởng sản phẩm sáng tạo có thể kích hoạt quá trình quản lý hoặc quy trình sản xuất, một thay đổi nhỏ trong quy trình sản xuất hoặc kinh doanh cũng có thể dẫn đến sự phát triển của một loạt sản phẩm mới (Nielsen, 2006) Trong quá trình phát triển bất kỳ quy trình sản phẩm mới xanh nào, các đặc tính của "độ xanh" và "độ mới" được vận hành như các cải biến liên tục trong suốt vòng đời của nó Nếu những đặc điểm này được đánh giá bởi khách hàng, người tiêu dùng dự định và nếu sản phẩm quy trình vượt trội hơn một sản phẩm quy trình thay thế trên một hoặc cả hai đặc điểm, một lợi thế cạnh tranh có thể được hình thành (Driessen và Hillebrand, 2002) Đổi mới quy trình xanh đòi hỏi phải cải tiến một cách có hệ thống toàn bộ quá trình vận hành và quản lý, đòi hỏi mức đầu tư tài chính cao (Li và cộng sự 2017) Kiểu đổi mới này cũng tốn thời gian và có thể tạo ra các hiệu ứng không phải lúc nào cũng hoàn toàn trực tiếp hoặc rõ ràng (Li và cộng sự 2017) Đổi mới quy trình xanh có xu hướng có nguồn gốc nội bộ hơn và tốn kém hơn để thực hiện, nhưng cũng đã được chứng minh là hiệu quả hơn so với các thực hành xanh khác (Gopalakrishnan, Bierly, & Kessler, 1999) Đổi mới quy trình xanh có thể là một giải pháp phụ gia (ví dụ: máy lọc khói) hoặc có thể được tích hợp vào quy trình sản xuất thông qua việc thay thế đầu vào, tối ưu hóa sản xuất hoặc thu hồi đầu ra (Rennings, 2000) Đổi mới quy trình xanh có tác động tích cực đến lợi thế cạnh tranh và tính bền vững của các công ty (Chen và cộng sự, 2006; Cheng và cộng sự, 2014) Do đó, về tổng thể, nó có ý nghĩa kinh doanh tốt cho các công ty đầu tư vào đổi mới quy trình xanh (Li và cộng sự., 2017) Do đó, chúng tôi cho rằng các hoạt động đổi mới quy trình xanh của một công ty có lợi cho việc nâng cao hiệu quả tài chính của công ty Đầu tiên, đổi mới quy trình xanh cải thiện các quy trình sản xuất hiện có hoặc thêm các quy trình mới để giảm tác động xấu đến môi trường, do đó cải thiện sự tuân thủ môi trường của công ty và mang lại lợi thế khác biệt (Cheng và cộng sự., 2014) Hơn nữa, (Xie và cộng sự 2016) đã phát hiện ra rằng các công nghệ sạch và công nghệ cuối cùng là những khía cạnh thiết yếu của đổi mới quy trình xanh có liên quan tích cực đến hiệu quả tài chính của sự thành công sản phẩm mới xanh Do đó giả thuyết thứ hai của nghiên cứu này là:

H2: Đổi mới qui trình xanh tác động tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh

2.1.4 Chấp nhận rủi ro Để đổi mới, nhấn mạnh đến một quyết tâm kiên quyết rời khỏi vùng thoải mái để đón nhận những thách thức mới (Shoham và Fiegenbaum, 2002), để khai thác và tận dụng các cơ hội thị trường để thành công trong kinh doanh (Dess và Lumpkin,

2005) Kinh doanh đang mạo hiểm (Lumpkin và Dess, 1996) Theo Richard Cantillon (khoảng năm 1700), nhà kinh tế học người Pháp gốc Ailen, người được cho là nhà lý thuyết đầu tiên định nghĩa doanh nhân, một doanh nhân là một chuyên gia phân tích, một người cân bằng cung và cầu và trong chức năng này chịu rủi ro hoặc không chắc chắn (Murphy, 1986) Và trong số tất cả các chức năng kinh doanh, phát triển sản phẩm mới (NPD: New Product Development) đã được coi là một trong những chức năng rủi ro nhất nhưng mạnh mẽ nhất Phát triển sản phẩm mới (NPD) có rủi ro vì nhiều nghiên cứu đã tiết lộ rằng khoảng một nửa các dự án phát triển sản phẩm mới (NPD) không đạt được mục tiêu của họ (Wong và Tong, 2012) Tuy nhiên, nó tác động mạnh bởi vì những người đầu tư hàng đầu của các ngành công nghiệp khác nhau được cho là khoảng một phần tư lợi nhuận của họ cho các sản phẩm được phát triển trong năm năm gần đây nhất và khoảng một nửa doanh thu của họ cho việc bán sản phẩm mới (Debruyne và Cộng sự., 2010)

Chấp nhận rủi ro có thể được hiểu như là chấp nhận sự mơ hồ, không chắc chắn và sai sót (Sitkin, 1996) khẳng định rằng thất bại là một yêu cầu cần thiết ảnh hưởng đến việc học tập của tổ chức Những lợi ích mang lại của sai sót là sự khoan dung cho những sai lầm, thôi thúc ta chú ý đến các vấn đề nan giải cần giải quyết và tìm kiếm các giải pháp, để dễ dàng nhận thấy vấn đề, làm sáng tỏ các vấn đề, và sự đa dạng trong phản hồi của tổ chức Kể từ khi xuất hiện nội dung này, nhiều tác giả đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chấp nhận rủi ro và chấp nhận những sai lầm, do đó cho phép các tổ chức học tập (Chiva và Alegre, 2009) Đầu tư vào dự án mới là phải chấp nhận rủi ro, rủi ro càng cao thì biên lợi nhuận càng cao, rủi ro càng thấp thì biên lợi nhuận càng thấp, thành công của sản phẩm mới có liên quan đến biên lợi nhuận (đầu tư vào rủi ro mạnh yếu) Rủi ro trong phát triển sản phẩm mới (NPD) trong lĩnh vực điện tử có thể được hiểu là nguồn lực tài chính và phi tài chính được cam kết bởi một công ty để phát triển các sản phẩm hoặc quy trình mới (Lumpkin và Dess, 1996) Người ta đã nói rằng các công ty có mức EO (định hướng kinh doanh: entrepreneurial orientation) cao có xu hướng đánh giá rủi ro theo những cách khác nhau đối với những người khác Họ có xu hướng coi rủi ro là cơ hội để đổi mới và tạo ra giá trị (Morris và cộng sự, 2011) Rủi ro trong nghiên cứu này được đo lường bằng sự tuyên bố của một công ty đối với các dự án có lợi nhuận cao và rủi ro cao, việc tuyên bố tìm kiếm cơ hội kiếm lợi nhuận và cam kết khuyến khích chấp nhận rủi ro để đạt được một số mục tiêu mong muốn như tốt hơn và thành công của sản phẩm mới Do đó, giả thuyết thứ ba của nghiên cứu này là:

H3: Chấp nhận rủi ro tác động tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh

2.1.5 Thành công của sản phẩm mới xanh

Mục đích cuối cùng của đổi mới sản phẩm là thương mại hóa một sản phẩm mới để nó có thể đóng góp vào lợi nhuận của công ty (Veldhuizen và Cộng sự., 2006) Như vậy, thành công của sản phẩm mới không chỉ được định nghĩa bằng việc dịch thành công các ý tưởng sáng tạo thành các tính năng của sản phẩm, mà còn bởi hiệu suất của sản phẩm trong giai đoạn hậu sản xuất (Wong và Tong, 2012) Mặc dù có vô số biện pháp để đánh giá hiệu suất sản phẩm mới, các nhà quản lý không gán cùng mức độ quan trọng cho các chỉ số hiệu suất khác nhau Các chỉ số tài chính như lợi nhuận và doanh thu của sản phẩm vẫn chiếm ưu thế so với các chỉ số khác là các biện pháp phổ biến nhất cho hiệu suất sản phẩm (Paladino, 2007; Wong và Tong, 2012) Tuy nhiên, khi mối quan tâm xanh được đưa vào phát triển sản phẩm, cả hiệu suất tài chính và môi trường phải được tính đến để đo lường sự thành công của sản phẩm

Trong nghiên cứu này, thước đo thành công của sản phẩm mới xanh được đánh giá từ ba quan điểm - "độ xanh" của sản phẩm về việc tuân thủ các chỉ thị môi trường và giải quyết các mối quan tâm về môi trường của các bên liên quan, hiệu quả tài chính của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh theo cảm nhận của người trả lời (Atuahene-Gima và Cộng sự, 2005); và nhận thức chung của người trả lời về thành công sản phẩm mới xanh (Baker và Sinkula, 2005; Paladino, 2007)

Những công trình nghiên cứu trước đó có liên quan tới mô hình

Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan:

2.2.1 Nghiên cứu 1: Ảnh hưởng của việc phủ xanh các nhà cung cấp và đổi mới xanh đối với hoạt động môi trường và lợi thế cạnh tranh

Chiou, T.Y., Chan, H.K., Lettice, F and Chung, S.H (2011)

Tóm tắt: nhiều công ty đã công nhận các khái niệm về quản lý chuỗi cung ứng xanh hoặc quản lý môi trường chuỗi cung ứng Tuy nhiên, tương đối ít sự chú ý nghiên cứu đã được dành cho việc xem xét mối quan hệ giữa việc phủ xanh chuỗi cung ứng, đổi mới xanh, hiệu quả môi trường và lợi thế cạnh tranh Do đó, bài viết này nhằm thu hẹp khoảng cách này bằng cách cung cấp bằng chứng thực nghiệm để khuyến khích các công ty thực hiện chuỗi cung ứng xanh và đổi mới xanh nhằm cải thiện hiệu quả môi trường và tăng cường lợi thế cạnh tranh trên thị trường toàn cầu Một mô hình được xây dựng để liên kết các cấu trúc đã nói ở trên Dữ liệu được thu thập thông qua một cuộc khảo sát dựa trên bảng câu hỏi trên 124 công ty từ tám lĩnh vực công nghiệp ở Đài Loan Dữ liệu được phân tích bằng Mô hình phương trình cấu trúc và kết quả từ mô hình đo lường cuối cùng được sử dụng để đánh giá mô hình kết cấu xác minh tầm quan trọng của các mối quan hệ được đề xuất Một kết quả nổi bật của nghiên cứu này là việc phủ xanh nhà cung cấp thông qua đổi mới xanh góp phần mang lại lợi ích đáng kể cho hiệu suất môi trường và lợi thế cạnh tranh của công ty

Hình 2.1: Ảnh hưởng của việc phủ xanh các nhà cung cấp và đổi mới xanh đối với hoạt động môi trường và lợi thế cạnh tranh

Nguồn: Chiou, T.Y., Chan, H.K., Lettice, F and Chung, S.H (2011)

Trong hình 2.1, đổi mới xanh bao gồm có ba đổi mới là: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình và đổi mới quản lý có mối quan hệ, có ảnh hưởng tích cực đến môi trường và lợ thế cạnh tranh

2.2.2 Nghiên cứu 2: Đổi mới sản phẩm xanh: Tại sao và làm thế nào các công ty tích hợp bền vững môi trường

Tóm tắt: Đổi mới sản phẩm xanh đã được công nhận là một trong những yếu tố chính để đạt được sự tăng trưởng, bền vững môi trường và chất lượng cuộc sống tốt hơn Hiểu về đổi mới sản phẩm xanh là kết quả của sự tương tác giữa đổi mới và bền vững đã trở thành một ưu tiên chiến lược cho lý thuyết và thực hành Bài viết này nghiên cứu đổi mới sản phẩm xanh bằng phương pháp phân tích nhiều trường hợp nghiên cứu của 12 công ty sản xuất quy mô vừa và nhỏ có trụ sở tại Ý và Canada Đầu tiên, chúng tôi đề xuất một khung khái niệm trình bày ba khía cạnh môi trường chính của đổi mới sản phẩm xanh như giảm thiểu năng lượng, giảm vật liệu và ngăn ngừa ô nhiễm như được xác định trong các giai đoạn của vòng đời sản phẩm Dựa trên những hiểu biết thu được từ các cuộc phỏng vấn sâu, chúng tôi thảo luận về động lực của công ty để phát triển các sản phẩm xanh, chính sách và mục tiêu môi trường cho các sản phẩm, các khía cạnh khác nhau của đổi mới sản phẩm xanh và những thách thức trong quá trình phát triển và tiếp thị sản phẩm xanh Kết quả từ nghiên cứu sau đó được tổng hợp và tích hợp trong hộp công cụ làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của đổi mới sản phẩm xanh và cung cấp giải pháp cho các thách thức và rủi ro mà các công ty phải đối mặt Cuối cùng, ý nghĩa cho các nhà quản lý, học viện và các nhà hoạch định chính sách công được thảo luận

Hình 2.2: Đổi mới sản phẩm xanh: Tại sao và làm thế nào các công ty tích hợp bền vững môi trường

2.2.3 Nghiên cứu 3: Những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới

Tóm tắt: Mục đích của bài viết này là để cải thiện sự hiểu biết về những gì tạo ra hoặc phá vỡ một sản phẩm mới bằng cách khám phá các tác động trực tiếp và gián tiếp của ba khía cạnh của định hướng kinh doanh (EO) (entrepreneurial orientation )

- đổi mới, chấp nhận rủi ro và chủ động - về lợi thế sản phẩm và thành công của sản phẩm mới ( NPS) (new product success) Dựa trên các lý thuyết được xem xét, mối quan hệ lý thuyết giữa năm cấu trúc và các giả thuyết có liên quan đã được phát triển và sau đó được kiểm tra bằng cách sử dụng dữ liệu được thu thập từ 244 nhà sản xuất điện tử ở Trung Quốc Kết quả cho thấy ba khía cạnh của EO (định hướng kinh doanh ) và lợi thế sản phẩm là các tiền đề điều khiển của NPS (thành công của sản phẩm mới) Hơn nữa, người ta xác nhận rằng mối quan hệ giữa ba chiều của EO (định hướng kinh doanh ) và NPS (thành công của sản phẩm mới ) được trung gian bởi lợi thế sản phẩm và mối quan hệ giữa chấp nhận rủi ro và lợi thế sản phẩm được kiểm duyệt bởi tính sáng tạo và tính chủ động Lý thuyết về sự tương tác giữa ba chiều của

EO (định hướng kinh doanh ) và NPS (thành công của sản phẩm mới ) thường khác nhau và không đồng nhất Bài viết khắc phục vấn đề này bằng cách xác nhận ảnh hưởng tương đối của từng kích thước EO (định hướng kinh doanh ) trên NPS (thành công của sản phẩm mới ), cũng như các tác động gián tiếp tương ứng của chúng đối với NPS (thành công của sản phẩm mới ) thông qua cấu trúc trung gian của lợi thế sản phẩm Những phát hiện này giúp làm phong phú kiến thức của chúng ta về EO (định hướng kinh doanh ), đặc biệt là về vai trò của sự đổi mới, tính chủ động và chấp nhận rủi ro trong phát triển sản phẩm mới trong lĩnh vực sản xuất điện tử ở Trung Quốc

Hình 2.3: Những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới

Trong hình 2.3, chấp nhận rủi ro, sáng tạo, chủ động và sản phẩm lợi thế có mối quan hệ với sản phẩm mới thành công, một phần nhánh chấp nhận rủi ro mà nghiên cứu này liên quan đến mô hình ta xét đến

2.2.4 Nghiên cứu 4: mối quan hệ của thực hiện đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh cạnh của doanh nghiệp và hình ảnh thương hiệu

Tóm tắt: mục đích của nghiên cứu này là điều tra mối quan hệ của hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh của công ty và hình ảnh xanh Trong nghiên cứu này, biến độc lập là hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh và biến phụ thuộc là lợi thế cạnh tranh của công ty và hình ảnh xanh Hình ảnh màu xanh lá cây được chia thành hai chiều là danh tiếng xanh và uy tín xanh Để thu thập dữ liệu, một bảng câu hỏi tự quản được lấy từ các nghiên cứu được công bố trước đó Trong số 384 câu hỏi, tổng số 289 câu hỏi đã được trả lại và hoàn toàn điền vào tất cả các khía cạnh nên tỷ lệ trả lời vẫn là 75,3% Thống kê mô tả đã được phân tích bằng SPSS Để phân tích dữ liệu, SEM (mô hình phương trình cấu trúc) đã được kết hợp bằng AMOS

Những phát hiện của nghiên cứu này cho thấy hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh có mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa với lợi thế cạnh tranh của công ty và hình ảnh xanh trong lĩnh vực ô tô của thành phố Lahore, Pakistan Nghiên cứu này sẽ hỗ trợ các nhà tiếp thị và các nhà hoạch định chính sách hiểu được lợi thế cạnh tranh và hình ảnh xanh bằng cách đưa ra các chiến lược phù hợp liên quan đến hiệu suất đổi mới sản phẩm xanh

Hình 2.4: mối quan hệ của thực hiện đổi mới sản phẩm xanh với lợi thế cạnh tranh cạnh của doanh nghiệp và hình ảnh thương hiệu

Nguồn: Ahmad, Naveed; Ramzan, Iram (2018)

2.2.5 Nghiên cứu 5: Phân tích tính sáng tạo của sản phẩm và tác dụng của nó đối với thành công sản phẩm mới

Tóm tắt: Sự đổi mới sản phẩm có ảnh hưởng đến thành công sản phẩm mới? Nghiên cứu hiện tại đề xuất rằng sự mơ hồ trong các phát hiện có thể là do khái niệm toàn diện quá mức về tính sáng tạo của sản phẩm đã bao gồm các khái niệm về lợi thế sản phẩm và sự quen thuộc của khách hàng Bài viết này minh họa cách các biện pháp tương tự thường được sử dụng để đánh giá lợi thế sản phẩm với tính sáng tạo của sản phẩm và tính sáng tạo của sản phẩm với sự quen thuộc của khách hàng Những sự chồng chéo được ghép nối trong sử dụng đo lường được làm rõ trong nghiên cứu này, trong đó phân tách các chiều của tính sáng tạo của sản phẩm cùng các dòng khái niệm thành sự đổi mới sản phẩm khác biệt, lợi thế sản phẩm và cấu trúc quen thuộc của khách hàng Để hỗ trợ thêm cho quá trình phân tách này, mô hình phương trình cấu trúc được sử dụng để kiểm tra thực nghiệm sự khác biệt Mô hình đo lường hỗ trợ tách biệt khái niệm và mô hình đường dẫn cho thấy các tác động ngẫu nhiên của tính sáng tạo sản phẩm Mặc dù tính sáng tạo của sản phẩm giúp nâng cao lợi thế sản phẩm, mức độ đổi mới cao làm giảm sự quen thuộc của khách hàng, cho thấy sản phẩm đó tính sáng tạo có thể gây bất lợi cho thành công của sản phẩm mới nếu khách hàng không đủ quen thuộc với bản chất của sản phẩm mới và nếu tính sáng tạo không cải thiện lợi thế sản phẩm Bài tập này trong phát triển số liệu cũng tiết lộ rằng sau khi kiểm soát lợi thế sản phẩm và sự quen thuộc của khách hàng, tính sáng tạo của sản phẩm không có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của sản phẩm mới Phát hiện này có ý nghĩa mạnh mẽ đối với các công ty nhầm tưởng theo đuổi đổi mới vì lợi ích riêng của mình Việc xem xét cả phân phối và sức mạnh tổng hợp kỹ thuật như các tiền đề điều khiển cho thấy các công ty vẫn có thể nâng cao thành công sản phẩm mới ngay cả khi có một mức độ sáng tạo không phù hợp Điều này dẫn đến một cách tiếp cận hai bước đơn giản nhưng mạnh mẽ để đưa các sản phẩm có tính sáng tạo cao ra thị trường Đầu tiên, các công ty chỉ nên nhấn mạnh tính sáng tạo của sản phẩm khi nó liên quan đến các khái niệm liên quan đến thị trường về lợi thế sản phẩm và sự quen thuộc của khách hàng Thứ hai, khả năng phân phối và kỹ thuật hiện có có thể được sử dụng để nâng cao chất lượng sản phẩm và sự hiểu biết của khách hàng Các kênh phân phối nói riêng nên được khai thác để chống lại sự không chắc chắn của khách hàng đối với các sản phẩm mới được giới thiệu

Hình 2.5: Phân tích tính sáng tạo của sản phẩm và tác dụng của nó đối với Sản phẩm mới thành công

2.2.6 Nghiên cứu 6: Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh

Tóm tắt: Mục đích của bài viết này là nghiên cứu ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình sản phẩm trên hai cấu trúc của chuỗi thông thường đổi mới xanh: lợi thế cạnh tranh sản phẩm xanh và thành công sản phẩm mới xanh Các tác động của lợi thế cạnh tranh của sản phẩm xanh với vai trò là trung gian trong mối liên hệ giữa đổi mới sản phẩm , quy trình xanh và thành công của sản phẩm mới xanh cũng được kiểm tra

Hình 2.6: Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh

Nguồn: Stanley Kam-Sing Wong 2012

Trong hình 2.6 , hai nhánh đổi mới sản phẩm xanh và đổi mới quy trình xanh ảnh hưởng đến sự thành công của sản phẩm mới xanh, một phần của nhánh này để đem vào mô hình của mô hình mà nghiên cứu này liên quan đến mô hình ta xét đến

Mô hình nghiên cứu đề xuất

Dự trên các giả thuyết:

Theo Paladino 2007, nghiên cứu này đã xác định thành công của sản phẩm mới xanh là khả năng đổi mới sản phẩm xanh hoặc đổi mới để cạnh tranh trên thị trường

Theo Xie và cộng sự 2016, đã phát hiện ra rằng các công nghệ sạch và công nghệ cuối cùng là những khía cạnh thiết yếu của đổi mới quy trình xanh có liên quan tích cực đến hiệu quả tài chính của sự thành công sản phẩm mới xanh

Theo Morris và cộng sự 2011, Rủi ro trong nghiên cứu này được đo lường bằng sự tuyên bố của một công ty đối với các dự án có lợi nhuận cao và rủi ro cao, việc tuyên bố tìm kiếm cơ hội kiếm lợi nhuận và cam kết khuyến khích chấp nhận rủi ro để đạt được một số mục tiêu mong muốn như tốt hơn và thành công của sản phẩm mới

Kết hợp với hai bài nghiên cứu của Kam-Sing Wong 2012, Ảnh hưởng của năng lực cạnh tranh sản phẩm xanh đến sự thành công của đổi mới sản phẩm xanh và những ảnh hưởng của định hướng kinh doanh đến lợi thế sản phẩm và thành công sản phẩm mới

Bảng 2.1 Mối liên hệ của các nhân tố đến thành công của sản phẩm mới xanh

Các nhân tố Thành công của sản phẩm mới xanh

H1 Đổi mới sản phẩm xanh + Paladino 2007

H2 Đổi mới quy trình xanh + Xie và cộng sự 2016

H3 Chấp nhận rủi ro + Morris và cộng sự 2011

Do đó, từ các giả thuyết trên mô hình đề xuất là:

Hình 2.7: mô hình đề xuất ảnh hưởng của đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro đến thành công của sản phẩm mới xanh

H1: Đổi mới sản phẩm xanh ảnh hưởng tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh

H2: Đổi mới quy trình xanh ảnh hưởng tích cực đến thành công của sản phẩm mới xanh

H3: Chấp nhận rủi ro tác động tích cự đến thành công của sản phẩm mới xanh

Dựa vào giả thuyết ở phần 2.1, các giả thuyết H1 và H2 hầu như là sản phẩm đã có sẳn và cải biến liên tục trong suốt vòng đời củ nó (sản phẩm), với giả thuyết H3 gần như là ta đầu tư vào sản phẩm mới đầy rủi ro

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết về các khái niệm nghiên cứu: khái quát về đổi mới xanh, đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro, thành công của sản phẩm mới xanh, mối quan hệ giữa các khái niệm này

Trên cơ sở các lý thuyết, tác giả đã đưa ra mô hình kiểm định dựa trên hai bài nghiên cứu trước đó của tác giả Kam-Sing Wong (2012), về sản phẩm nhựa của thiết bị điện tử của các doanh nghiệp trên địa bàn Bắc Kinh Trung Quốc, một phần nhánh của hai bài nghiên cứu được rút ra để làm mô hình nghiên cứu hiện tại về rác thải nhựa tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện thông qua quy trình như sơ đồ dưới đây:

Hình 3.1 : Quy trình nghiên cứu

Mô tả quy trình nghiên cứu: đầu tiên ta tìm khe hỏng nghiên cứu (câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu), kế tiếp là đi tìm cơ sở lý thuyết, rồi tiếp đến là xây dựng mô hình thang đo bằng phương pháp định tính (thảo luận nhóm), kế tiếp là kiểm định thang đo bằng phương pháp định lượng, sau đó là kiểm địng sự thích hợp của mô hình ( thông qua hệ số xác định R), và cuối cùng là viết báo cáo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định tính (nhằm xây dựng thang đo)

Các thang đo đã được thiết lập tại thị trường nước ngoài có thể chưa phù hợp với thị trường Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng do có sự khác biệt về văn hóa, biểu hiện ngôn ngữ và mức độ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, thu nhập… Vì vậy, các thang đo gốc sẽ được điều chỉnh và bổ sung qua một nghiên cứu định tính với kỹ thuật thảo luận nhóm Thông qua kết quả của nghiên cứu định tính này, thang đo nháp được điều chỉnh Sau khi điều chỉnh thang đo nháp này (thang đo chính) sẽ được dùng cho nghiên cứu định lượng, phương pháp định tính khảo sát khám phá, thảo luận nhóm 8 người (4 Nam và 4 Nữ) của 2 công ty (xí nghiệp) nhựa đã được hẹn trước, thời gian buổi sáng vào ngày nghỉ chủ nhật, địa điểm tại quán cà phê tiện đi lại giữa các thành viên trong nhóm thảo luận, dàn bài thảo luận đã được soạn trước (phần phục lục 1A), thảo luận để chỉnh sửa bổ sung các câu hỏi cho phù hợp ngữ cảnh địa phương đang khảo sát, việc thu thập số liệu được trả công và thực hiện bởi các phỏng vấn viên là sinh viên làm việc bán thời gian, phỏng vấn các nhân viên làm việc trong các bộ phận kỹ thuật, bộ phận tiếp thị (bán hàng ở cửa hàng) dễ tiếp cận của các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon tại thành phố Hồ Chí Minh (được tra trên doanh bạ trang vàng điện thoại và trang web các doanh nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh) , kết hợp với Google Form (Google biểu mẫu) gửi đường link, gọi điện thoại ( hoặc Chat) đến các bạn bè người thân hỏi đúng lĩnh vực họ đang làm mới nhờ giúp khảo sát

Nghiên cứu định tính nhằm Đánh giá sự phù hợp các thang đo sau hiệu chỉnh thang đo so với thang đo gốc ban đầu sang thang đo giá trị cảm nhận của các nhân viên làm việc ở bộ phận kỹ thuật, bộ phận tiếp thị (bán hàng ở cửa hàng) dễ tiếp cận của các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon tại thành phố Hồ Chí Minh doanh nghiệp, sau khi sản xuất thành công của sản phẩm mới xanh Kiểm tra cách sử dụng từ ngữ trong từng câu hỏi của từng biến quan sát để nhằm đảm bảo các đối tượng phỏng vấn hiểu đúng và đầy đủ ý nghĩa Sau khi thảo luận đã bổ sung một số từ in nghiêng trong dàn bài thảo luận nhóm trong (phần phục lục 1A) để cho người đọc dễ hiểu, sau khi thảo luận ta có bảng câu hỏi dưới đây:

Mã hóa bảng câu hỏi khảo sát

Bảng 3.1: Mã hóa các câu hỏi khảo sát

Mã hóa ký hiệu Biến quan sát Nguồn

X1 Câu 1: Đổi mới sản phẩm xanh (Green product innovation)

X1.1 Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng vật liệu ít độc hại hoặc không gây ô nhiễm , độc tính độc hại với môi trường và con người

Amores-Salvadó và cộng sự 2014 Chiou và cộng sự

X1.2 Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng bao bì thân thiện với môi trường

X1.3 Khi thiết kế sản phẩm mới, chúng tôi tính đến việc tái chế và thải bỏ vào cuối đời

X1.4 Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng vật liệu tái chế

X1.5 - Sản phẩm mới của chúng tôi sử dụng vật liệu có thể tái chế, tái sử dụng lại

X2 Câu 2: Đổi mới quy trình xanh (Green process innovation)

Mã hóa ký hiệu Biến quan sát Nguồn

X2.1 Các quy trình sản xuất của chúng tôi tiêu thụ ít tài nguyên hơn (ví dụ: nước, điện, v.v.) so với các đối thủ cạnh tranh của chúng tôi

Ma, Y.; Hou, G.; Xin, B 2017 Kam Sing Wong

X2.2 Quy trình sản xuất của chúng tôi tái chế, tái sử dụng và tái sản xuất vật liệu hoặc các bộ phận

X2.3 Quy trình sản xuất của chúng tôi sử dụng công nghệ sạch hơn hoặc tái tạo để tiết kiệm (như năng lượng, nước và chất thải)

X2.4 Chúng tôi thiết kế lại quy trình sản xuất và vận hành để cải thiện hiệu quả môi trường

X2.5 Chúng tôi thiết kế lại và cải thiện các sản phẩm hoặc dịch vụ của chúng tôi để đáp ứng mới tiêu chí hoặc chỉ thị môi trường (như chỉ thị WEEE (chất thải), RoHS (chất độc hại) chỉ thị, v.v.)

X3 Câu 3: Chấp nhận rủi ro (Risk-taking)

X3-1 Công ty của chúng tôi có một tuyên bố mạnh mẽ cho dự án mới, có rủi ro cao, có lợi nhuận cao

X3-2 Công ty của chúng tôi có những hành động táo bạo và rộng khắp để đạt được mục tiêu của chúng tôi

X3-3 Công ty chúng tôi áp dụng một tư thế táo bạo, mạnh mẽ để tối đa hóa khả năng khai thác các cơ hội tiềm năng

X3-4 Công ty chúng tôi khuyến khích các hành vi chấp nhận rủi ro để đầu tư vào dự án mới

Mã hóa ký hiệu Biến quan sát Nguồn

Y1 Câu 4: Thành công của sản phẩm mới xanh

Y1.1 Sản phẩm mới xanh của chúng tôi tuân thủ các quy định, các chỉ thị môi trường

Y1.2 Sản phẩm mới xanh của chúng tôi đáp ứng các yêu cầu về môi trường được đặt ra bởi các bên liên quan

Y1.3 Sản phẩm mới xanh của chúng tôi mang lại doanh thu cao hơn các sản phẩm cạnh tranh cùng loại

Y1.4 Các sản phẩm mới xanh của chúng tôi có lợi nhuận cao hơn các sản phẩm cạnh tranh

Y1.5 Sản phẩm mới xanh của chúng tôi thành công, có lợi nhuận

Phương pháp định lượng (nhằm kiểm định thang đo)

Sau khi điều chỉnh thang đo ở phần thảo luận nhóm (phần định tính), thang đo chính thức được đưa vào khảo sát thu thập dữ liệu, việc thu thập số liệu được trả công và thực hiện bởi các phỏng vấn viên là sinh viên làm việc bán thời gian, phỏng vấn các đối tượng là các nhân viên làm việc trong các bộ phận kỹ thuật, bộ phận tiếp thị (bán hàng ở cửa hàng) dễ tiếp cận của các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon tại thành phố Hồ Chí Minh

Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phân tích dữ liệu định lượng thu thập từ việc khảo sát đối tượng nghiên cứu thông qua bảng câu hỏi khảo sát, bảng câu hỏi khảo sát có hai phần, phần câu hỏi chính có 19 câu hỏi (19 biến quan sát), và phần thông tin cá nhân (phần nhân khẩu học) có 5 câu hỏi, tổng số phiếu phát khảo sát ra là n00, số phiếu thu khảo sát về hợp lệ là N&8, số phiếu khảo sát không hợp lệ là số phiếu có nhiều chỉ báo giống nhau, hoặc bỏ trống, bỏ quên không đánh thiếu sót có thể người được khảo sát câu hỏi chưa hiểu hoặc chưa tập trung vào câu hỏi, kết tiếp là dữ liệu được thu thập được nhập vào bảng Excel, sau đó sử dụng chương trình phần mềm thống kê mô tả SPSS để chạy dữ liệu để kiểm định thang đo Để sử dụng để kiểm tra các liên kết giữa đổi mới sản phẩm xanh, đổi mới quy trình xanh, chấp nhận rủi ro và thành công của sản phẩm mới xanh Một người phỏng vấn hỗ trợ bảng câu hỏi bằng bút giấy và google biểu mẫu, đã được phát triển và sử dụng làm công cụ nghiên cứu để thu thập dữ liệu Tất cả các mục, ngoại trừ những thông tin về nhân khẩu học, được đo lường bằng thang đo Likert năm điểm, từ 1 cho đến 5 là : 1: Rất không đồng ý, 2: Không đồng ý; 3: Bình thường; 4: Đồng ý; 5: Rất đồng ý Nghiên cứu định lượng thang đo được dùng cho nghiên cứu định lượng chính thức trong nghiên cứu này dùng để kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu Các thang đo này được kiểm định bằng phương pháp hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích yếu tố khám phá EFA Tiếp theo, sau khi kiểm định thang đo, các biến quan sát còn lại sẽ được sử dụng để kiểm định giả thuyết và mô hình nghiên cứu bằng phương pháp phân tích tương quan, hồi quy tuyến tính bội

Vì các mục câu hỏi cho mỗi cấu trúc đã được điều chỉnh từ nghiên cứu trước đó, do đó tính hợp lệ của chúng phải được thiết lập Tuy nhiên, do từ ngữ của các vật đo đã được sửa đổi bổ sung để đáp ứng nhu cầu của nghiên cứu hiện tại, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và thử nghiệm của Cronbach’ α đã được sử dụng để đảm bảo độ tin cậy của thang đo

Phương pháp lấy mẫu của nghiên cứu này là phi xác xuất, theo cơ sở thuận tiện cùng thời gian và cùng địa điểm vào công ty (xí nghiệp) đó, người khảo sát có thể khảo sát được đối tượng khảo sát là nhiều người trong tổ, đội, nhóm dễ tiếp cận, làm việc trong các bộ phận kỹ thuật, bộ phận tiếp thị (bán hàng ở cửa hàng) dễ tiếp cận của các doanh nghiệp sản xuất ra sản phẩm nhựa, bao bì, túi ni lon tại thành phố

Phương pháp phân tích số liệu

Thống kê mô tả: trong chương trình phần mềm SPSS có nhiều thống kê nhưng trong phần này sử dụng thống kê mô tả và thống kê tần số, thống kê mô tả dùng cho mục đích thống kê trung bình cộng, tổng sum, độ lệch chuẩn, min, max, thống kê tần số dùng để phân tích các thông tin về nhân khẩu học như: độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, trình độ, thu nhập…

Kiểm định độ tin cậy của thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha:

Phương pháp này cho phép người phân tích loại bỏ các biến không phù hợp và hạn chế các biến rác trong quá trình nghiên cứu và đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha Hệ số Cronbach’s Alpha được dùng để đo lường tính nhất quán nội tại của thang đo Hệ số Alpha càng cao thể hiện tính đồng nhất của các biến càng cao tức là mức độ liên kết của các biến đo lường càng cao Một thang đo có độ tin cậy tốt khi Cronbach’s Alpha α biến thiên trong khoảng [0,7- 0,8] Nếu Cronbach alpha lớn hơn ( ≥ 0,6) là thang đo có thể chấp nhận được về mặt tin cậy Tuy nhiên Cronbach’s Alpha không cho biết biến đo lường nào cần được bỏ đi và biến đo lường nào cần được giữ lại, chính vì vậy mà ta xét thêm hệ số tương quan tổng biến của các biến Các biến có hệ số tương quan tổng biến nhỏ hơn ≤ 0,3 được coi là biến “rác” và sẽ bị loại khỏi thang đo Tất cả các biến quan sát của những thành phần đạt được độ tin cậy sẽ được tiếp tục phân tích nhân tố khám phá (EFA)

Phân tích nhân tố khám phá (EFA):

Phân tích nhân tố khám phá là một phương pháp phân tích thống kê dùng để rút gọn một tập gồm một tập K biến quan sát thành một tập F biến quan sát (với F

Ngày đăng: 25/09/2021, 21:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w