Số liệu mới nhất 2021 Dù khác nhau về trạng thái tồn tại nhưng mọi thứ hàng hóa đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị. Giữa hai thuộc tính này có mối quan hệ ràng buộc, nếu thiếu một trong hai thuộc tính sẽ không được coi là hàng hóa.
Trang 1
Ọ
ooo000ooo
Ọ
Ô KINH T Í Ị
- Ê
Hai thuộc tính của hàng hóa và sự vận dụng vào việc nâng cao khả
năng cạnh tranh của hàng hóa nước ta
ọ và t n
ớp MSSV:
SBD:
à ội - h ng năm
Trang 2
A MỞ ĐẦU 3
B NỘI DUNG 4
I Lý luận về hai thuộc tính của hàng hóa 4
1 Khái quát về hàng hóa 4
1.1 Khái niệm 4
1.2 Phân loại 4
2 Hai thuộc tính của hàng hóa 5
2.1 Giá trị sử dụng 5
2.2 Giá trị 6
3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa 7
3.1 Mặt thống nhất 7
3.2 Mặt đối lập 8
II Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam 8
1 Thực trạng hàng hóa Việt Nam hiện nay 8
2 Đánh giá chung về thực trạng phát triển của yếu tố hàng hóa trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay: 11
3 Đề xuất giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam hiện nay 13
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3
A MỞ ẦU
Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của loài người, sản xuất hàng hóa đánh dấu việc xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên, phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội Ngày nay, nền sản xuất hàng hóa vẫn là nền sản xuất xã hội đang được thực hiện khắp nơi trên thế giới Có thể khẳng định rằng hàng hóa trong bất kì thời kì nào hay bất
kì nơi đâu đều có vai trò vô cùng quan trọng Nền kinh tế nước ta trong thời kì xây dựng chủ nghĩa xã hội đang là nền sản xuất hàng hóa Chúng ta đang từng bước hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mục là phải đưa nền sản xuất hàng hóa của nước ta đạt tới những trình độ cao hơn mà nhiều quốc gia đã đạt tới Để có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra, mọi người cần nắm vững lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về hai thuộc tính của hàng hóa và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam Bài tiểu luận của em xin
đề cập đến chủ đề: "Hai thuộc tính của hàng hóa và sự vận dụng vào việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa nước ta"
Trang 4B N I DUNG
ý luận v hai thuộc tính của hàng hóa
h i qu t v hàng hóa
h i niệm
Theo quan điểm của C.Mác, hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn một yêu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán [1]
Như vậy, hàng hóa là một phạm trù lịch sử, nó chỉ xuất hiện khi có nền sản xuất hàng hóa, chỉ khi sản phẩm của lao động được đưa ra mua bán trao đổi trên thị trường mới được coi là hàng hóa Hàng hóa có thể dùng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất
Phân loại
Hàng hóa có thể là vật hữu hình như: cái bàn học, cái bút, quyển vở, Hàng hóa cũng có thể vô hình như những dịch vụ thương mại: ca sĩ, thợ cắt tóc, giáo viên,
Trong kinh tế học người ta có thể chia hàng hóa thành 3 dạng:
+ Hàng cá nhân: là loại hàng hóa mà nếu được một người tiêu dùng rồi thì
người khác không thể dùng được nữa Ví dụ: que kem, bàn chải đánh răng,
+ Hàng công cộng: là loại hàng hóa mà thậm chí nếu có một người dùng
rồi thì những người khác vẫn dùng được Ví dụ: quốc phòng hoặc an toàn công
cộng, nếu như các lực lượng vũ trang bảo vệ đất nước khỏi nguy hiểm thì việc bạn được hưởng an toàn không vì lý do gì mà người khác không được hưởng an toàn như bạn
Trang 5+ Hàng khuyến dụng: là loại hàng hóa mà xã hội nghĩ rằng người dân nên
tiêu dùng hoặc tiếp nhận, cho dù thu nhập của học ở mức nào đi chăng nữa Ví
dụ: y tế, giáo dục, nhà ở, thực phẩm, [2]
2 Hai thuộc tính của hàng hóa
Dù khác nhau về trạng thái tồn tại nhưng mọi thứ hàng hóa đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị sử dụng và giá trị Giữa hai thuộc tính này có mối quan hệ ràng buộc, nếu thiếu một trong hai thuộc tính sẽ không được coi là hàng hóa
i trị sử dụng
- Khái niệm
Giá trị sử dụng của hàng hóa là công dụng của vật phẩm, có thể thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người; nhu cầu đó có thể là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu tinh thần; cũng có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cá nhân, có thể là nhu cầu tiêu dùng cho sản xuất [1]
- Đặc điểm
+ Bất kể hàng hóa nào cũng có một, một số công dụng nhất định Chính
công dụng (tính công dụng) đó làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng Ví dụ: gạo
để ăn, áo để mặc, xe máy để đi lại,
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa do thuộc tính tự nhiên của yếu tố tham gia cấu thành nên hàng hóa đó quy định Do đó giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn
+ Số lượng giá trị sử dụng của một hàng hóa không phải ngay từ đầu đã phát hiện ra hết mà nó được phát hiện dần dần trong quá trình phát triển của khoa học kĩ thuật Nền sản xuất càng phát triển, khoa học, công nghệ càng tiên tiến càng giúp cho con người phát hiện ra nhiều và phong phú các giá trị sử dụng của hàng hóa khác nhau
Trang 6+ Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của củ cải đó như thế nào Điều này nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của tiêu dùng với sản xuất
+ Giá trị sử dụng của hàng hóa là giá trị sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu của người mua Cho nên, nếu là người bán, người sản xuất, tất yếu phải chú ý chăm lo giá trị sử dụng của hàng hóa mà mình sản xuất phải phù hợp với thị hiếu, những yêu cầu ngày càng khắt khe và tinh tế của người mua [1]
+ Một khi đã là hàng hóa thì nhất định phải có giá trị sử dụng Nhưng điều ngược lại thì không đúng Có một số thứ có giá trị sử dụng nhưng không phải là hàng hóa, ví dụ như không khí, rất cần thiết cho cuộc sống nhưng không có giá trị trao đổi vì không do lao động cụ thể làm ra
i trị
- Khái niệm
Theo C.Mác, giá trị của hàng hóa là lao động của người sản xuất ra hàng hóa và kết tinh trong hàng hóa ấy [1]
Muốn hiểu được giá trị của hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi là quan hệ về lượng, là tỷ lệ trao đổi giữa các giá trị sử dụng khác nhau
Ví dụ: 10kg gạo có giá trị trao đổi bằng 1kg thịt lợn
- Đặc điểm
+ Giá trị hàng hóa là biểu hiện cho quan hệ giữa những người sản xuất
hàng hóa
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Giá trị
là nội dung cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
Trang 7+ C.Mác cho rằng, sở dĩ các hàng hóa trao đổi được với nhau là vì chúng
nó một điểm chung Điểm chung đó ở chỗ, chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động Tức là hàng hóa có giá trị Khi là hàng hóa, dù khác nhau về giá trị
sử dụng, chúng đều là kết quả của sự hao phí sức lao động của người sản xuất ra hàng hóa đấy, nên hàng hóa có giá trị Vì vậy, người ta trao đổi hàng hóa cho nhau chẳng qua là trao đổi hao phí lao động của mình ẩn trong hàng hóa đó Trên
cơ sở đó, C.Mác quan niệm đầy đủ hơn: "Giá trị của hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất đã hao phí để sản xuất ra hàng hóa kết tinh trong hàng hóa ấy"
+ Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa là cơ sở chung cho việc trao đổi và nó tạo thành giá trị của hàng hóa Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất trong đó thì nó không có giá trị Sản phẩm nào hao phi lao động để làm ra nó càng nhiều thì giá trị càng cao
3 Mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa
Hai thuộc tính của hàng hóa có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất vừa mâu thuẫn nhau
3.1 Mặt thống nhất
Hai thuộc tính này cùng đồng thời tồn tại trong một hàng hóa Nếu một vật
có giá trị sử dụng nghĩa là có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người, xã hội nhưng không có giá trị tức là không do lao động tạo ra, không có kết tinh lao động thì sẽ không phải hàng hóa Ngược lại, một vật có giá trị tức là có lao động kết tinh, nhưng không có giá trị sử dụng, không thể thỏa mãn nhu cầu nào của con người, xã hội thì cũng không phải hàng hóa
Trang 83.2 Mặt đối lập
- Xét về mặt giá trị sử dụng thì các hàng hóa khác nhau về chất Ví dụ: cái
áo để mặc còn cái bánh lại dùng để ăn Xét về mặt giá trị thì các hàng hóa lại
cùng giống nhau về chất vì đều được kết tinh sức lao động Ví dụ: gạo, chiếc búa,
cái áo đều là do hao phí sức lao động của con người tạo lên
- Quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời nhau cả về mặt không gian và thời gian:
+ Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước
+ Giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng
Ví dụ: Người bán sẽ quan tâm đến giá trị của hàng hóa, họ có thể tìm hiểu giá trị sử dụng của hàng hóa để có thể sản xuất ra những hàng hóa tốt nhất, mục đích cuối cùng là bán được nhiều nhất, thu về nhiều giá trị nhất Ngược lại, người mua thì quan tâm đến giá trị sử dụng của hàng hóa, họ phải trả tiền trước cho người bán để có thể mua và sử dụng hàng hóa Việc lưu thông buôn bán hàng hóa sẽ diễn ra trước việc tiêu dùng
II Giải ph p nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa iệt Nam
1 Thực trạng hàng hóa iệt Nam hiện nay
Sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận đối với Việt Nam vào tháng 2/1995 chúng ta đã lần lượt gia nhập những tổ chức kinh tế lớn trong khu vực và trên thế giới
Tháng 7/1995 Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
Tháng 3/1996 Việt Nam gia nhập ASEM (diễn đàn kinh tế Á - Âu)
Tháng 11/1998 chúng ta gia nhập APEC (diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương)
Trang 9Tháng 11/2006 Việt Nam gia nhập WTO (tổ chức thương mại thế giới) Gần đây nhất, tháng 10/2015 Việt Nam kí kết hiệp định TPP (hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương)
Phát biểu tại Diễn đàn nâng cao sức cạnh tranh của hàng Việt trước thời
cơ, thách thức từ các Hiệp định thương mại thế hệ mới ngày 29/10/2020 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Công thương Đỗ Thắng Hải cho biết, việc tham gia các FTA (hiệp định thương mại tự do) đã giúp thị trường xuất nhập khẩu được mở rộng và
đa dạng hóa; thị trường dịch vụ tài chính phát triển hơn với sự tham gia của nhiều nhà đầu tư nước ngoài; hệ thống thể chế, chính sách cũng từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập và thực thi cam kết trong các FTA Cùng với việc gia nhập WTO từ năm 2007, việc tham gia các FTA đã góp phần thúc đẩy GDP (tổng sản phẩm nội địa) của Việt Nam tăng hơn 300%, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng 350%.[3]
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng quý III/2020 ước tính đạt 1.305,8 nghìn tỷ đồng, tăng 14,4% so với quý II/2020 và tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 9 tháng năm 2020 đạt 2.907,1 nghìn
tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước.[3]
Cũng theo số liệu của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 đạt 281,5 tỷ USD, tăng 6,5%; nhập khẩu hàng hóa đạt 262,4 tỷ USD, tăng 3,6% Cán cân thương mại hàng hóa năm 2020 ước tính xuất siêu 19,1 tỷ USD, giá trị xuất siêu lớn nhất từ trước đến nay
Điều đáng nói là trong năm 2020 Việt Nam là một trong số rất ít các nước
có tỉ lệ GDP tăng trưởng dương Cụ thể trong năm 2020 GDP Việt Nam tăng trưởng 2,91%.[3]
Trang 10Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm
2021 tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64% mặc dù dịch Covid-19 bùng phát tại một số địa phương trên cả nước từ cuối tháng 4 Theo đó, cán cân thương mại hàng hóa 6 tháng/2021 nhập siêu 1,47 tỷ USD (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,86 tỷ USD).[3]
Việt Nam trong các năm qua luôn là nước xuất siêu nhưng kể từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát trở lại từ cuối tháng tư đã khiến cho xuất khẩu trở lên khó khăn Tuy nhiên tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 157,63 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước Điều này chứng tỏ hàng hóa Việt Nam đang có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.[3]
Trong các năm qua, hàng hóa Việt Nam được xuất khẩu đi rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt thông qua những hiệp định thương mại thế hệ mới những năm gần đây, những mặt hàng nông sản, thủy hải sản của Việt Nam đã xuất hiện tại các thị trường khó tính như EU, Nhật Bản, Úc,
Về thị trường trong nước, sau hơn chục năm thực hiện cuộc vận động
"Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam", nhiều thương hiệu đã ăn sâu vào tâm trí người tiêu dùng trong nhiều năm như Vinamilk, Trung Nguyên, TH True Milk, Vinacafe, Vietnam Airlines, gần đây nhất là Vinfast Trong các hệ thống bán lẻ, các siêu thị thì hàng Việt luôn chiếm tỷ trọng lớn trên 90% Đặc biệt, đầu năm 2020, dịch COVID-19 lan rộng trên toàn cầu, nhiều doanh nghiệp bị đứt gãy thị trường xuất khẩu và nguồn nguyên liệu, các đơn hàng bị ngưng trệ Song với quy mô gần 100 triệu dân, thị trường nội địa đã trở thành bệ đỡ cho doanh nghiệp khai thác, vượt qua khó khăn, đưa kinh tế tăng trưởng
Tuy một số địa phương thực hiện giãn cách do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhưng tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và
Trang 11doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 2.463,8 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước.[3]
2 nh gi chung v thực trạng ph t triển của yếu tố hàng hóa trong
n n kinh tế thị trường của nước ta hiện nay:
- Ưu điểm:
+ Nhìn chung, sự phát triển hàng hóa tạo ra sự đa dạng và phong phú về số lượng và chủng loại của hàng hóa trên thị trường Một mặt điều này phản ánh những trình độ cao của năng suất lao động xã hội, mặt khác nói lên mức độ phát triển của quan hệ trao đổi, trình độ của phân công lao động xã hội và sự phát triển của thị trường
+ Sự phát triển của yếu tố hàng hóa góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Không những đời sống kinh tế được cải thiện mà cả đời sống văn hóa, chăm sóc ý tế cho con người được nâng cao
+ Sức ép của cạnh tranh khi tham gia nhiều hiệp định thương mại mới sẽ buộc những nhà sản xuất phải tìm ra cách thức, phương pháp sản xuất tốt nhất, không ngừng đổi mới kỹ thuật
+ GDP của Việt Nam luôn tăng trưởng ở mức cao vào năm 2017 là 6,81%, năm 2018 là 7,08%, năm 2019 là 7,02%, năm 2020 Việt Nam là một trong số ít quốc gia có mức tăng trưởng dương (2,91%) Việt Nam có giá nhân công rẻ, trình
độ dân trí khá cao, thị trường lớn với dân số đông, một đất nước ổn định về chính trị và một quyết tâm đổi mới mạnh mẽ của chính phủ
+ Tài nguyên thiên nhiên khoáng sản với trữ lượng lớn phong phú phân bố trên toàn lãnh thổ thuận tiện sản xuất sản phẩm
+ Về vị trí địa lý thuận lợi cho giao thông sản xuất hàng hoá giảm chi phí cho sản phẩm làm ra nâng cao sức cạnh tranh hàng hoá thu hút lượng FDI trên
Trang 12toàn thế giới vào Việt Nam thì tăng từ từ qua các năm tuy không nhiều đầu tư vào tất cả các lĩnh vực đặc biệt là kinh tế
+Tham gia nhiều tổ chức kinh tế chính trị như WTO, EVFTA, giúp cho tiêu thụ hàng hóa Việt Nam tăng cao
- Hạn chế:
+ Phải khẳng định là nền kinh tế nước ta phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và thách thức lớn, đi lên từ một nền nông nghiệp nhỏ lạc hậu, nền kinh tế ta
có đặc thù là sản xuất nhỏ lẻ mang nặng tính tự cung tự cấp, sức cạnh tranh yếu trình độ công nghệ sản xuất, quản lý, cơ sở hạ tầng còn nhiều yếu kém chất lượng lao động được đào tạo chưa đáp ứng được nhu cầu ngày một khắt khe của nền kinh tế, người dân nước ta chưa có được cách nghĩ năng động, chính sách dù được cải thiện còn nhiều bất cập Bên cạnh đó, các nền kinh tế khác và đặc biệt
là, Trung Quốc, khu vực Đông Nam Á đã và đang lên mạnh mẽ và cạnh tranh gay gắt với Việt Nam
+ Xuất khẩu vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều ngành hàng chủ lực như dệt may, da giày chủ yếu là gia công, trong khi các mặt hàng nông sản - thế mạnh của Việt Nam lại xuất khẩu dưới dạng thô, giá trị gia tăng thu về không nhiều
+ Các doanh nghiệp Việt Nam thường có quy mô nhỏ, phân tán, công nghệ sản xuất lạc hậu, năng lực quản lý, kinh doanh còn hạn chế; sức cạnh tranh kém
so với các đối thủ quốc tế, chưa tạo dựng được nhiều giá trị gia tăng cho sản phẩm xuất khẩu Bên cạnh đó, càng hội nhập sâu, hàng rào thuế quan ngày càng được dỡ bỏ, dần dần về 0-5% nhưng ngược lại hàng rào phi thuế quan như biện pháp phòng vệ thương mại, quy định về giữ gìn môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm… sẽ được dựng lên gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp