Khái niệm thương mại dịch vụ Dịch vụ là một chuỗi lợi ích được tạo ra bởi sự vận hành của hệ thống kỹ thuật hoặcbởi hoạt động của các cá nhân, được cung ứng bởi một hoặc một chuỗi nhà cu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM
KHOA KINH TẾ
MÔN HỌC: LUẬT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
TIỂU LUẬN HIỆP ĐỊNH VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
GVHD: Nguyễn Thị Tuyết Nga SVTH:
1 Nguyễn Thị Hoài Nhi 19136058
2 Phan Thị Yến Nhi 19136059
3 Nguyễn Thị Hồng Nhung 19136061
4 Trương Tường Vi 19136121
Mã lớp học: BLAW232408_01
Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 6 năm 2021
Trang 2ĐÁNH GIÁ
ĐIỂM
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
……
………
…………
………
………
……….………
………
………
……….…………
……….………
………
………
……….…
………
………
……….………
……….………
……….………
……….…………
……….……
………
………
Trang 3……… ……… ………
Trang 4DANH MỤC TỪ VIẾT TẮTST
1 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước
ngoài
on Trade in Services
Hiệp định chung vềThương mại Dịch vụ
3 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
1.
Trang 5MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 1
1.1 Khái niệm thương mại dịch vụ 1
1.2 Đặc điểm của thương mại dịch vụ 2
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA GATS VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ 4
2.1 Mục tiêu của GATS 4
2.2 Các nguyên tắc cơ bản trong GATS 4
2.2.1 Nguyên tắc tiếp cận thị trường 4
2.2.2 Nguyên tắc tối huệ quốc 5
2.2.3 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia 5
2.2.4 Nguyên tắc minh bạch 6
2.2.5 Nguyên tắc liên quan đến các quy tắc trong nước 6
2.3 Phạm vi áp dụng 7
CHƯƠNG 3: CÁC PHƯƠNG THỨC CUNG CẤP DỊCH VỤ THEO QUY ĐỊNH CỦA GATS 9
3.1 Cung ứng dịch vụ qua biên giới 9
3.2 Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài 9
3.3 Hiện diện thương mại 9
3.4 Hiện diện thể nhân 10
3.5 Sự khác nhau giữa các phương thức cung cấp dịch vụ 10
3.6 Khung pháp lý tại Việt Nam dành cho các phương thức cung ứng dịch vụ 11
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ LĨNH VỰC ĐẶC TRƯNG CỦA WTO 13
1 Các dịch vụ kinh doanh 13
2 Các dịch vụ truyền thông 13
Trang 63 Các dịch vụ xây dựng và kỹ sư công trình 13
4 Các dịch vụ phân phối 13
5 Các dịch vụ giáo dục 14
6 Các dịch vụ môi trường 14
7 Các dịch vụ tài chính 14
8 Các dịch vụ xã hội và liên quan đến sức khoẻ 14
9 Các dịch vụ du lịch và lữ hành 14
10 Các dịch vụ văn hoá giải trí 15
11 Các dịch vụ vận tải 15
12 Các dịch vụ khác không có tên ở trên 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 7CHƯƠNG 1: THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
1.1 Khái niệm thương mại dịch vụ
Dịch vụ là một chuỗi lợi ích được tạo ra bởi sự vận hành của hệ thống kỹ thuật hoặcbởi hoạt động của các cá nhân, được cung ứng bởi một (hoặc một chuỗi) nhà cung cấpdịch vụ theo yêu cầu của người sử dụng dịch vụ nhằm thực hiện hoặc trợ giúp hoạt độngkinh doanh hoặc hoạt động cá nhân của họ
Quan hệ mua bán giữa người tạo ra dịch vụ và người sử dụng dịch vụ diễn ra dướihình thức cung ứng dịch vụ Đây là một quá trình liên hoàn bao gồm nhiều khâu có liênquan mật thiết với nhau và quá trình này được gọi chung thương mại dịch vụ Thương mạidịch vụ là một khái niệm rộng, dùng để chỉ tất cả các hoạt động tạo lập, cung ứng các dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận Hay nói cách khác, khái niệm thương mạidịch vụ được dùng để nhấn mạnh khía cạnh thương mại của dịch vụ và của quá trình traođổi, cung ứng
Do đối tượng của thương mại dịch vụ là dịch vụ (sản phẩm vô hình) nên việc địnhnghĩa thương mại dịch vụ thường không đồng nhất và cho đến nay, vẫn chưa có một kháiniệm thống nhất về thương mại dịch vụ Cách thông thường nhất để tìm hiểu khái niệmthương mại dịch vụ là so sánh nó với khái niệm thương mại hàng hóa
Theo đó, thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ có rất nhiều điểm tương đồngvới nhau Chúng đều là những hoạt động của các chủ thể trên thị trường, đều có sự thamgia của bên bán (bên cung cấp dịch vụ) và bên mua (bên sử dụng dịch vụ) Việc trao đổitrong thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ đều mang tính chất ngang giá tuynhiên, do có sự khác biệt về đối tượng (hàng hóa và dịch vụ) nên giữa thương mại dịch vụ
và thương mại hàng hóa có những điểm khác biệt
Thứ nhất, trong thương mại hàng hóa, việc mua bán, trao đổi hàng hoá luôn dẫn đến
hệ quả pháp lý là sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ người bán sang người mua.Người mua được hưởng lợi trực tiếp từ việc khai thác các quyền sở hữu đối với hàng hóa.Còn trong thương mại dịch vụ, hoạt động cung ứng dịch vụ không dẫn đến việc xác lậpquyền sở hữu của bên mua đối với dịch vụ Nó đem lại lợi ích cho bên nhận cung ứng
1
Trang 8dịch vụ bằng việc làm thuận lợi hoá hoạt động thương mại, làm thay đổi về điều kiện,trạng thái của cá nhân hay hàng hóa thuộc sở hữu của bên đó.
Thứ hai, trong thương mại dịch vụ, do dịch vụ không đồng nhất và thường được thay
đổi cho phù hợp với từng khách hàng hoặc từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể nên việc duytrì tính ổn định về chất lượng của việc cung ứng dịch vụ thương mại là khó khăn hơn sovới việc cung cấp hàng hóa Thước đo để đánh giá chất lượng dịch vụ là mức độ “hàilòng” của bên nhận cung ứng dịch vụ về quá trình thực hiện công việc của bên cung ứngdịch vụ
Thứ ba, khác với thương mại hàng hóa thường có sự tách rời giữa khâu sản xuất và
tiêu thụ, quá trình tạo ra và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và trực tiếp giữa ngườicung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ Do đặc điểm này nên quá trình cung ứngdịch vụ đòi hỏi một sự tương tác mạnh mẽ giữa các bên, trong đó bên nhận sử dụng dịch
vụ phải đóng một vai trò tích cực Sự tương tác này sẽ quyết định chất lượng và hiệu quảcủa việc cung ứng và sử dụng dịch vụ
Thứ tư, việc tiêu dùng dịch vụ không đem lại hiệu quả tức thời cho người sử dụng dịch
vụ mà nó thường đòi hỏi cả một quá trình Quá trình này đôi khi còn có sự hỗ trợ của cácphương tiện kỹ thuật mà sự thay đổi chúng có thể dẫn đến chi phí rất lớn Chính vì yếu tốnày nên giữa người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ thương mại thường thiếtlập mối quan hệ kinh doanh lâu dài hơn so với việc cung cấp hàng hóa
1.2 Đặc điểm của thương mại dịch vụ
Thứ nhất, dịch vụ là loại sản phẩm vô hình, không thể sờ mó, nhìn thấy được nhưng
lại được cảm nhận qua việc tiêu dùng trực tiếp của khách hàng Quá trình sản xuất và tiêudùng sản phẩm dịch vụ diễn ra đồng thời, nhưng hiệu quả của dịch vụ đối với người tiêudùng lại rất khác nhau Có loại xảy ra tức thì, nhưng có loại chỉ đem lại hiệu quả saunhiều năm, chẳng hạn dịch vụ giáo dục phải sau 5–10 năm mới có thể đánh giá đầy đủ
Do đó, việc đánh giá hiệu quả thương mại dịch vụ phức tạp hơn so với thương mại hànghóa
Thứ hai, thương mại dịch vụ có phạm vi hoạt động rất rộng, từ dịch vụ cho tiêu dùng
2
Trang 9cá nhân đến dịch vụ sản xuất, kinh doanh, quản lý trong tất cả các ngành của nền kinh tếquốc dân, thu hút đông đảo người tham gia với trình độ cũng rất khác nhau, từ lao độngđơn giản như giúp việc gia đình, bán các hàng lưu niệm ở khu du lịch đến lao động chấtxám có trình độ cao như các chuyên gia tư vấn, chuyên gia giáo dục,… do đó đây là mộtlĩnh vực có nhiều cơ hội phát triển và tạo được nhiều công ăn việc làm, rất có ý nghĩa vềkinh tế – xã hội ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, thương mại dịch vụ hiện nay đang có sự lan tỏa rất lớn, ngoài tác dụng trực
tiếp của bản thân dịch vụ, nó còn có vai trò trung gian đối với sản xuất và thương mạihàng hóa, nên phát triển thương mại dịch vụ có ảnh hưởng gián tiếp lên tất cả các ngànhcủa nền kinh tế quốc dân, do đó tác dụng của thương mại dịch vụ là rất lớn Người ta tínhrằng, nếu thương mại dịch vụ được tự do hóa thì lợi ích của nó còn cao hơn thương mạihàng hóa hiện nay và xấp xỉ bằng lợi ích thu được khi tự do hóa thương mại hàng hóahoàn toàn cho cả hàng hóa nông nghiệp và hàng hóa công nghiệp
Thứ tư, thương mại dịch vụ khi lưu thông qua biên giới gắn với từng con người cụ thể,
chịu tác động bởi tâm lý, tập quán, truyền thống văn hóa, ngôn ngữ và cá tính của ngườicung cấp và người tiêu dùng dịch vụ, điều này khác với thương mại hàng hóa – sản phẩm
là vật vô tri vô giác, đi qua biên giới có bị kiểm soát nhưng không phức tạp như kiểm soátcon người trong thương mại dịch vụ, vì thế mà thương mại dịch vụ phải đối mặt nhiềuhơn với những hàng rào thương mại so với thương mại hàng hóa Các cuộc thương lượng
để đạt được tự do hóa thương mại dịch vụ thường gặp nhiều khó khăn hơn tự do hóathương mại hàng hóa, nó còn phụ thuộc vào tình hình chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóacủa cả nước cung cấp và nước tiếp nhận dịch vụ đó
3
Trang 10CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA GATS VỀ THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ
2.1 Mục tiêu của GATS
‒ Thiết lập một khuôn khổ đa biên cho những nguyên tắc và quy tắc của thương mạidịch vụ nhằm mở rộng thương mại ở lĩnh vực này trong điều kiện minh bạch và tự dohóa dần dần Đây là một công cụ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tất cả đối tác trongthương mại và vì sự phát triển của các nước đang phát triển
‒ Đạt được tự do hóa thương mại dịch vụ ở mức ngày càng cao hơn thông qua nhữngvòng đàm phán đa biên liên tiếp nhằm tăng cường lợi ích của các bên tham gia trên cơ
sở các bên cùng có lợi và đảm bảo sự cân bằng chung về quyền và nghĩa vụ, đồng thờitôn trọng các mục tiêu trong chính sách quốc gia
‒ Tạo thuận lợi để các nước đang phát triển tham gia ngày càng nhiều hơn vào thươngmại dịch vụ và mở rộng xuất khẩu dịch vụ trong nước hiệu quả và tăng khả năng cạnhtranh
2.2 Các nguyên tắc cơ bản trong GATS
2.2.1 Nguyên tắc tiếp cận thị trường
Nguyên tắc tiếp cận thị trường yêu cầu mỗi Thành viên phải dành cho dịch vụ hoặcngười cung cấp dịch vụ của các Thành viên khác sự đãi ngộ không kém thuận lợi hơn sự
sự đãi ngộ theo những điều kiện, điều khoản và hạn chế đã được thỏa thuận và quy địnhtại Danh mục cam kết cụ thể Trong những lĩnh vực đã cam kết mở cửa thị trường, cácThành viên không được duy trì hoặc ban hành những biện pháp sau đây, dù là ở quy môvùng hoặc trên toàn lãnh thổ, trừ trường hợp có quy định khác trong Danh mục cam kết
‒ Hạn chế số lượng nhà cung cấp dịch vụ dù dưới hình thức hạn ngạch theo số lượng,độc quyền, toàn quyền cung cấp dịch vụ hoặc yêu cầu đáp ứng nhu cầu kinh tế
‒ Hạn chế tổng trị giá các giao dịch về dịch vụ hoặc tài sản dưới hình thức hạn ngạchtheo số lượng, hoặc yêu cầu phải đáp ứng nhu cầu kinh tế
4
Trang 11‒ Hạn chế tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lượng dịch vụ đầu ra tính theo sốlượng đơn vị dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu về nhu cầu kinh tế.
‒ Hạn chế về tổng số thể nhân có thể được tuyển dụng trong một lĩnh vực dịch vụ cụ thểhoặc một nhà cung cấp dịch vụ được phép tuyển dụng cần thiết hoặc trực tiếp liênquan tới việc cung cấp một dịch vụ cụ thể dưới hình thức hạn ngạch hoặc yêu cầu vềnhu cầu kinh tế
‒ Các biện pháp hạn chế hoặc yêu cầu các hình thức pháp nhân cụ thể hoặc liên doanhthông qua đó người cung cấp dịch vụ có thể cung cấp dịch vụ
‒ Hạn chế về tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài bằng việc quy định tỷ lệ phần trăm tối đa
cổ phần của bên nước ngoài hoặc tổng trị giá đầu tư nước ngoài tính đơn hoặc tínhgộp
‒ Theo hướng dẫn của WTO và thực tiễn giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ GATSchỉ những biện pháp được áp dụng nằm trong 6 hạn chế này đồng thời không phù hợpvới Biểu cam kết của Thành viên mới bị xem là vi phạm nguyên tắc tiếp cận thịtrường
2.2.2 Nguyên tắc tối huệ quốc
Được ghi nhận tại Điều II GATS, nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc yêu cầu đối với bất
kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS, mỗi Thành viên phải ngay lập tức
và không điều kiện dành cho dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nàokhác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ vàcác nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác
Được ghi nhận tại Điều II GATS, nguyên tắc đãi ngộ tối huệ quốc yêu cầu đối với bất
kỳ biện pháp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của GATS, mỗi Thành viên phải ngay lập tức
và không điều kiện dành cho dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nàokhác sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ vàcác nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ nước nào khác
5
Trang 122.2.3 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cũng được quy định tại Điều XVII nhằm đảm bảo rằngdịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ của Thành viên khác có các điều kiện cạnh tranh bình đẳngvới dịch vụ, nhà cung cấp dịch vụ trong nước Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia yêu cầu mỗiThành viên, liên quan tới tất cả các biện pháp có tác động đến việc cung cấp dịch vụ, phảidành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác sự đối xửkhông kém thuận lợi hơn sự đối xử mà Thành viên đó dành cho dịch vụ và nhà cung cấpdịch vụ của mình, trừ các điều kiện và tiêu chuẩn được quy định trong Biểu cam kết củamình
Sự đối xử tương tự hoặc khác biệt về hình thức được coi là kém thuận lợi hơn nếu nólàm thay đổi điều kiện cạnh tranh có lợi cho dịch vụ hay nhà cung cấp dịch vụ của Thànhviên đó so với dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ tương tự của bất kỳ Thành viên nàokhác Các biện pháp được xem xét trong nguyên tắc đãi ngộ quốc gia chỉ bao gồm nhữngbiện pháp áp dụng đối với những lĩnh vực dịch vụ đã cam kết
2.2.4 Nguyên tắc minh bạch
Nguyên tắc minh bạch được ghi nhận tại Điều III, nhằm giúp các đối tác thương mạihiểu rõ về quy tắc và cơ chế thương mại của nhau Nguyên tắc này yêu cầu Thành viênphải:
‒ Công bố mọi biện pháp có liên quan hoặc tác động đến việc thi hành GATS trước khicác biện pháp đó có hiệu lực thi hành kể cả những Hiệp định quốc tế có liên quan hoặctác động đến thương mại dịch vụ mà các thành viên tham gia
‒ Thông bố cho hội đồng thương mại dịch vụ về các văn bản luật mới hoặc bất kỳ sửađổi nào trong các luật, quy định hoặc hướng dẫn có tác động cơ bản đến thương mạidịch vụ thuộc các cam kết cụ thể theo GATS ít nhất mỗi năm một lần
‒ Thành lập một hoặc nhiều điểm cung cấp thông tin để trả lời tất cả các yêu cầu của bất
kỳ một thành viên nào khác về những thông tin cụ thể liên quan dến các biện pháp cóliên quan hoặc tác động đến thương mại dịch vụ
6
Trang 132.2.5 Nguyên tắc liên quan đến các quy tắc trong nước
Nguyên tắc liên quan đến các quy tắc trong nước sự cân bằng nhạy cảm giữa tự do hóathương mại dịch vụ và việc thực hiện chủ quyền quốc gia của mỗi thành viên WTO Nếunhư nguyên tắc tiếp cận thị trường và đãi ngộ quốc gia tập trung vào nội dung của các quyđịnh cụ thể của pháp luật trong nước thì nguyên tắc liên quan đến quy tắc trong nước điềuchỉnh tập trung hơn vào việc áp dụng và thực thi các quy định Nguyên tắc liên quan đếncác quy tắc trong nước được ghi nhận tại Điều VI Theo đó, nguyên tắc này yêu cầu cácThành viên phải:
‒ Đảm bảo rằng tất cả các biện pháp áp dụng chung tác động đến thương mại dịch vụđược quản lý một cách hợp lý, khách quan và bình đẳng
‒ Duy trì hoặc thành lập các tòa án tư pháp, trọng tài hoặc tòa án hành chính hoặc thủtục để xem xét nhanh chóng và đưa ra các biện pháp khắc phục đối với các quyết địnhhành chính có tác động đến thương mại dịch vụ theo yêu cầu của nhà cung cấp dịch vụchịu tác động
‒ Thông báo cho người nộp đơn về quyết định của mình trong khoảng thời gian hợp lýsau khi nhận được đơn xin cấp phép được coi là đầy đủ theo quy định của pháp luậttrong nước Nếu người nộp đơn có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền của Thành viên đó
sẽ phải cung cấp không chậm trễ thông tin về hiện trạng của đơn xin phép
‒ Không được tạo ra những trở ngại không cần thiết cho thương mại dịch vụ thông quacác biện pháp liên quan tới yêu cầu chuyên môn, thủ tục, tiêu chuẩn kỹ thuật và yêucầu cấp phép
‒ Không được áp dụng các yêu cầu về cấp phép và chuyên môn và các tiêu chuẩn kỹthuật trong lĩnh vực có cam kết cụ thể làm vô hiệu hoặc giảm bớt mức cam kết đó
‒ Phải quy định những thủ tục phù hợp để kiểm tra năng lực chuyên môn của ngườicung cấp dịch vụ chuyên nghiệp của các Thành viên khác trong những lĩnh vực có cáccam kết cụ thể liên quan đến dịch vụ nghề nghiệp Tương tự, quy tắc này cũng chỉ ápdụng cho những dịch vụ trong Biểu cam kết và đáp ứng được tiêu chuẩn phù hợp.Như vậy, khi xem xét một biện pháp có ảnh hưởng tiêu cực đến dịch vụ, nhà cung cấp
7