Qua bộ môn “Phương pháp nghiên cứu Địa lý tự nhiên” do Cô giáo Nguyễn Thục Nhu trực tiếp giảng dạy, em xin lựa chọn đề tài “Địa hóa học cảnh quan, đặc trưng địa hóa cảnh quan rừng nhiệt
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Lớp vỏ địa lý không phải là một bộ phận thống nhất, mà ở đây mỗi thànhphần như: đất, nước, khí hậu, sinh vật cùng với địa hình tồn tại và phát triểntheo những quy luật riêng của mình Tuy nhiên không một thành phần nào trong
số các thành phần đó lại tồn tại và phát triển một cách cô lập, nghĩa là khôngchịu ảnh hưởng của các thành phần khác và ngược lại không phát huy tác dụng
và ảnh hưởng của mình tới các thành phần khác Do đó tạo nên những hệ địa tổng thể khác nhau Các hệ thống này được đặc trưng bởi các nguyên tố hóahọc Giữa các nguyên tố ấy lại có mối quan hệ mật thiết, tác động lẫn nhau vàthường xuyên chuyển dịch, di động trao đổi bên trong hệ thống cũng như bênngòai hệ thống đó Làm thế nào để tìm hiểu được mối quan hệ sâu sắc và cácquá trình hóa học của các hệ thống ấy nhằm tìm ra hướng tác động vào tự nhiênmột cách hợp lý và an toàn
thống-Sự ra đời của Địa hóa học cảnh quan đã và đang giải quyết những vấn đềtrên, chính nhờ địa hóa học cảnh quan mà ta có thể tìm hiểu sâu sa các mối liên
hệ hóa học trong các hợp phần của cảnh quan với nhau, cũng như giữa cảnhquan này với cảnh quan khác, từ đó giải quyết những nhiệm vụ mà khoa họccảnh quan đặt ra
Qua bộ môn “Phương pháp nghiên cứu Địa lý tự nhiên” do Cô giáo Nguyễn
Thục Nhu trực tiếp giảng dạy, em xin lựa chọn đề tài “Địa hóa học cảnh quan, đặc trưng địa hóa cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm, liên hệ với Việt Nam”,
nhằm tìm hiểu sơ lược về những đặc điểm của địa hóa học cảnh quan và vậndụng những đặc điểm đó vào nghên cứu đại hóa cảnh quan rừng nhiệt đới – nơi
mà chúng ta đang sinh sống để thấy rõ tầm quan trọng của địa hóa học cảnhquan trong đời sống sản suất Trong bài viết còn nhiều thiếu sót, em mong nhậnđược sự góp ý của cô để bài viết hoàn thiện hơn
Trang 2NỘI DUNG CHƯƠNG 1: ĐỊA HÓA HỌC CẢNH QUAN
1.1.1 Khái niệm cảnh quan sơ đẳng
Cảnh quan sơ đẳng trong sự biểu hiện điển hình của nó là tiêu biểu cho mộtyếu ố địa hình nhất định cấu tạo bởi một loiaj đá gốc hay bồi tụ và trong mỗithời điểm tồn tại được bao phủ bởi một quần xã thực vật nhất định Tất cả cácđiều kiện đó đã hình thành nên một biến chủng thổ nhưỡng nhất định và chứngminh rằng trên khắp phạm vi của cảnh quan sơ đẳng có một quá trình phát triểnđồng nhất của mối quan hệ giữa đá và sinh vật
1.1.2 Hình thái của cảnh quan sơ đẳng
Đối với mỗi cảnh quan sơ đẳng có thể xác định được diện tích nhỏ nhất trên
đó phân bố tất cả các bộ phận của nó Kích thước của diện tích biểu hiện khôngđòng nhất đối với các cảnh quan sơ đẳng khác nhau: cảnh quan sơ đẳng càngphức tạp, sự di chuyển của các nguyên tố hóa học tron các cảnh quan càngmạnh, số lượng loài cây phong phú thì diện tích biểu hiện càng rộng Vì thế diệntích biểu hiện nhỏ nhất là đặc trưng của các cảnh quan sa mạc không có thực vậtthượng dẳng, ngược lại diện tích biểu hiện rộng nhất là đặc điểm cho cảnh quanrừng nhiệt đới ẩm với số lượng loài cây rất phon g phú
Trong số các dấu hiệu hình thái cũng có thể nói đến chiều dày của cảnhquan sơ đẳng, nghĩa là khoảng cách từ giới hạn trên đến giới hạn dưới Giới hạntrên của cảnh quan nằm trong tầng đối lưu và được xác định bởi đới chứa cát ,nguồn gốc từ mặt đât (bay lên từ cảnh quan đó hay từ các cảnh quan khác), cóchim muông và côn trùng sinh sống Giới hạn dưới trong nhiều trường hợp , làlớp chứa nước ngầm đầu tiên kể từ mặt đất xuống (bao gồm cả lớp đó)
Trang 3Ngoài ra sự phân hóa theo chiều thẳng đứng cũng đặc trưng cho từng thể
tự nhiên riêng biệt Sự phân hóa rõ rệt theo chiều thẳng đứng của vật chất và cácđiều kiện lý hóa đã tạo nên đặc điểm điển hình của cảnh quan sơ đẳng mà nhiềungười đề nghị gọi là cấu trúc cảnh quan
1.1.3 Các kiểu cảnh quan sơ đẳng dựa vào các điều kiện di động của nước
Theo các điều kiện di động của các nguyên tố hóa học, ta có ba dạng cảnhquan cơ bản trên bề mặt đât: tàn tích, trên nước và dưới nước
Các bề mặt tàn tích là bề mặt của các vùng chia nước bằng phẳng mà đặctrưng của chúng là lớp nước ngầm sâu không có ảnh hưởng rõ rệt đến thổnhưỡng và thực vật Trong trường hợp này vật chất và năng lượng xâm nhậpvào cảnh quan từ khí quyển, vật chất không xâm nhập qua các dòng rắn và lỏngcạnh sườn Đặc điểm của thổ nhưỡng tàn tích hình thành ở đây là có sự tích tụmột phần vật chất hòa tan xuống tới mật độ sâu nào đó tạo nên trong phạm vithổ nhưỡng tầng tích tụ
Tại các nơi chứa nước được tụ tập tất cả các nguyên tố và các hợp chất hóahọc có trong các vùng chia nước kề bên, nhưng trước hết là các nguyên tố dễ diđộng nhất mà sự tích tụ của chúng là các đặc điểm của các cảnh quan dướinước Các sinh vật của cảnh quan dưới nước được cung cấp hoàn toàn đầy đủthức ăn khoáng vật hơn các sinh vật của cảnh quan tự lập Đôi chỗ trong cácvùng chứa nước xảy ra tình trạng thừa hợp chất khoáng hòa tan và đôi khi sinhvật bắt buộc phải tiến hành cuộc đấu tranh chống lại chúng như chống lại cácphần tử có hại
Các bề mặt trên nước thuộc về cảnh quan sơ đẳng thứ ba mà đặc điểm là cólớp nước ngầm nông Nước ngầm ảnh hưởng rất lớn đến cảnh quan vì cùng với
nó các loại vật chất rữa trôi từ lớp vỏ phong hóa và thổ nhưỡng của các vùng
Trang 4tích tụ nhiều nguyên tố hóa học, chủ yếu là các nguyên tố có tính chất di độngmạnh mẽ.
Các sản phẩm của quá trình phong hóa và quá trình hình thành thổ nhưỡngcủa cảnh quan tự lập tham gia vào các yếu tố bên dưới của địa hình qua dòngchảy trên mặt và dưới đất, có ảnh hưởng đến sự quyết định và hình thành cáccảnh quan trên nước và dưới nước Vì thế cảnh quan trên nước và dưới nước cóthể gọi là cảnh quan phụ thuộc vì rằng các đặc điểm của chúng ở một mức độnào đó bị phụ thuộc vào các vùng chia nước Các cảnh quan vùng chia nước,trái lại ít phụ thuộc cảnh quan trên nước và dưới nước hơn vì chúng không nhậnđược các nguyên tố hóa học từ các cảnh quan đó qua dòng rắn và dòng lỏng
1.2.2 Khái niệm
Theo quan điểm của đại hóa học thì cảnh quan là một bộ phận của bề mặtTrái đất mà trong đó nhờ năng lượng Mặt trời đã diễn ra sự di động của cácnguyên tố hóa học ở các hợp phần tự nhiên cung như ở các cảnh quan riêng biêt
Sự di động của các nguyên tố hóa học là một trong nhưng hình thức quan trọngnhất của mối liên hệ cảnh quan
Trang 5Như chúng ta đã biết, các cảnh quan sơ đẳng tự lập, trên nước và dưới nướcđược liên hệ với nhau qua sự di động của các nguyên tố hóa học Ảnh hưởngcủa các cảnh quan tự lập đến cảnh quan trên nước và dưới nước phụ thuộc vàochúng rất rõ rệt
Sự kết hợp một cách có quy luật giữa các cảnh quan sơ đẳng tự lập và phụthuộc đặc trưng cho mỗi một cảnh qua địa hóa sẽ được gọi là sự kết hơp địahóa Do đó khi nghiên cứu một cảnh quan địa hóa học chung ta phải chú ý đếnkết hợp hóa học cho cảnh quan đó, nghĩa là phải nghien cứu sự di động củanguyên tố hóa học giữa các cảnh quan sơ đẳng và phụ thuộc
Cảnh quan địa hóa là các vùng chia nước, các sườn, thung lũng, các bồnchứa nước không phải là các bộ phận lãnh thổ rời rạc mà là những bộ phận liên
hệ, phụ thuộc vào nhau của một thể nthoongs nhất hoàn chỉnh
Cảnh qua địa hóa cũng có thể định nghĩa như mọt tập hợp về mặt phát sinhcủa các cảnh quan sơ đẳng liên kết được liên hệ với nhau bởi sự di động của cácnguyên tố
Như vậy cảnh quan giống như một hệ thống tự nhiên độc đáo có đặc điểmkết hợp các loại vật chất không đồng nhất, từ các phần tử sơ đẳng tự do qua cácnguyên tử I on, các chất hóa học đến các vật cực kì phức tạp và đa dạng như cácsinh vật sống
1.2.3 Đặc điểm
Mỗi cảnh quan địa hóa được đặc trưng bởi một kiểu dòng chảy nhất định.Các cảnh quan tự lập trên nước và dưới nước, cả tàn tích và các cảnh quan sơđẳng khác được coi là các bộ phận hình thái của các cảnh quan địa hóa Cảnhquan có đặc điểm là có hình thức vận động khác nhau của vật chất Trong đó cảvận động đơn giản nhất các hiện tượng vật lý hóa học, các quá trình của sựsông, một dạng vận động phức tạp nhất chỉ cảnh quan tự nhiên mới có
Trang 6Nguồn năng lượng thường xuyên của Mặt Trời đã quyết định sự di động cực
kì mãnh liệt của các nguyên tử trong cảnh quan tại đây chúng nằm ở trạng thái
di động thường xuyên Cảnh quan là một hệ thống vận động, luôn có thay đổi,không cân bằng
Địa hóa học cảnh quan sử dụng rộng rãi các tài liệu của nhiều ngành địa hóa
để xây dựng cơ sở của mình Địa hóa học cảnh quan còn sử dụng cả tài liệu củangành địa hóa khác, cũng như các tài liệu hóa học, thổ nhưỡng, thực vật, thiênvăn, khoáng vật học và các ngành khoa học khác nghiên cứu các bộ phận khácnhau của cảnh quan thu thập được
Mặc dù địa hóa học cảnh quan tuyệt nhiên không phải là con số cộng đơngiản của các tài liệu về cảnh quan Nó không phải là một thuật nhữ mới che đạycho một nội dung đã cũ và đã được nhiều người biết- đặc trưng của lớp vỏphong hóa của thổ nhưỡng, thực vật, lớp ngầm và lớp trên mặt dất cũng khôngphải là sự tập hợp các tài liệu hóa học do địa chất học, địa thực vật học, thổnhưỡng học, thủy văn học và các ngành khoa học khác tích lũy được
1.2.4 Nhiệm vụ
Địa hóa học cảnh quan là một trong những cơ sở lý luận của các phươngpháp địa hóa về tìm kiếm khoáng sản Bên cạnh đó việc áp dụng trong kinh tếnông nghiệp không phải là khong có triển vọng Địa hóa cảnh quan đóng mộtvai tro to lớn trong việc giả quyết các vấn đề vệ sinh phòng bệnh, nhất là khikhai phá các vùng sinh sống khó khăn Và sau đây chúng ta có thể tóm tắt một
số vai trò quan trọng của địa hóa cảnh quan:
- Nghiên cứu các tính chất địa hóa đặc trưng cho tất cả hay là phần lớn cáccảnh quan
- Tiến hành phân loại cảnh quan về mặt địa hóa
Trang 7- Tìm ra quy luật phân bố của các cảnh quan ttreo không gian về mặt địahóa.
- Tìm hiểu lịch sử địa hóa cảnh quan
- Nghiên cứu lịch sử các nguyên tố hóa học và quá trình di động củachúng
Công thức địa hóa:
Các cảnh quan được đặc trưng bởi các công thức địa hóa học, cho nên việcnghiên cứu và đưa ra công thức là một việc làm vô cùng quan trọng đối với nhànghiên cứu địa hóa học cảnh quan:
Hữu số, Tử số
Hữu số: Chỉ các nguyên tố loại hình Ví dụ: đầm lầy, thảo nguyên…
Tử số: Gồm các nguyên tố thiếu
Mẫu số: Gồm các nguyên tố thừa
Để hiểu rõ hơn về cảnh quan địa hóa, ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu một cảnh quan đặc trưng điển hình trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đó là cảnh quan rừng nhiệt đới ẩm
Mẫu số
Trang 8CHƯƠNG 2: ĐẶC TRƯNG CẢNH QUAN ĐỊA HÓA
RỪNG NHIỆT ĐỚI ẨM.
Rừng nhiệt đới ẩm
Đặc trưng của nhiệt đới ẩm là cường độ của vòng tuần hoàn sinh vật và sự
di động của nước cao nhất Những cảnh quan này chiếm diện tích lớn ở châuPhi xích đạo, Nam và Đông Nam Á, Trung và Nam Mỹ Ở đây nhiệt lượng thừathãi kết hợp với lượng nước mưa phong phú đã đảm bảo cho khả năng pháttriển mạnh mẽ đại đa số các quá trình địa hóa, sự biểu hiện của những cảnhquan phức tạp nhất Quá trình di động của các nguyên tử xảy ra đối với cường
độ như nhau trong suốt năm, thời kì yên tĩnh địa hóa không có
Ý nghĩa to lớn nhất đối với địa hóa nhiệt đới ẩm là có một số lượngkhổng lồ vật chất hữu cơ trên mặt thổ nhưỡng với lượng rơi rụng của thực vật(hơn gấp 4-5 lần rừng Taiga và rừng sồi)
Bởi vậy tuần hoàn sinh vật ở kiểu cảnh quan này có dung lượng và tốc độlớn lao: một lượng lớn C, H,O,N và những nguyên tố khác hàng năm tham giavào thành phần vật chất sống, nhưng cũng những nguyên tố đó lại nhanh chóng
bị khoáng hóa sau khi sinh vật chết đi làm cho nước thổ nhưỡng bão hòa CO2 và
Trang 9axititit hữu cơ Hàng năm trong đất thêm một khối lượng lớn nước, CO2 vàaxititit hữu cơ mang một sức phá hoại khổng lồ, mà không một đá nào, hầu nhưkhông một khoáng vật nào có thể chống lại được Tất cả đều bị phân hủy thànhcác hợp chất hòa tan khác.
Dông tố thường xuyên là đặc điểm cũng đối với nhiệt đới ẩm ướt, nó làmnước mưa giàu axititit nitric, axititit là nhân tố bổ sung thúc đẩy cường độphong hóa
Việc phân chia kiểu cảnh quan này ra thứ cảnh quan theo cường độ củatuần hoàn sinh vật chưa làm được
2.1 CÁC CẢNH QUAN VỚI LỚP CHUA CỦA SỰ DI ĐỘNG CỦA NƯỚC
Cảnh quan này phổ biến nhất ở nhiệt đới ẩm Các đại diện điển hình củachúng hình thành trên đá silicat axittitit (phun trào, trầm tích, biến chất) trongđiều kiện thuận lợi cho sự thoát nước tốt ở các cảnh quan tự lập
Sự rửa trôi mạnh mẽ của thổ nhưỡng và lớp vỏ phong hóa do nước mưa
đã mang đi những sản phẩm phong hóa hòa tan của chúng, sau đó được nướcngầm vận chuyển ra sông và biển Ca, Na, Mg chuyển hóa trước tiên Vì thế cáccation chứa trong thổ nhưỡng và lớp vỏ phong hóa không đủ để làm trung hòa
CO2 và các axititit hữu cơ chứa trong nước thẩm thấu Nước này có phnr ứngaxititit Axit của các Silicat cũng bị man đi tương đối nhanh
Nhiều nguyên tố hiếm, đặc biệt là các nguyên tố hiếm (Li, Ru và Se)…cũng bị rửa trôi khỏi vỏ phong hóa Kết quả lớp vỏ phong hóa lại tương đối giàunhững nguyên tố sắt (ở dạng ngậm nước), nhôm (tham gia vào thành phần củahidro hay khoáng vật sét), thạch anh tàn dư và một số nguyên tố hiếm thuộc cácnhóm trơ
Trang 10Trong quá trình phong hóa ở nhiệt đới ẩm lượng nước liên kết hóa họctham gia vào thành phần của các oxit ngậm nước và các khoáng khác cũng tănglên rõ rệt.
Thành phần khoáng vật của lớp vỏ phong hóa khác nhau và phụ thuộcvào các loại đá bị phong hóa Oxit sắt ngậm nước khoáng vật sét là đặc trưngcủa mọi dạng lớp vỏ phong hóa, còn hiđrô nhôm , thạch anh đặc trưng ở một vàidạng
Việc hình thành lớp vỏ phong hóa nhiệt đới rửa trôi thường được giảithích trên quan điểm phản ứng lý hóa đơn thuần về sự phá hoại của các silicat
và các khoáng vật khác Rõ ràng quá trình phân hủy mạnh mẽ các đá ở nhiệt đới
ẩm cơ bản là một quá trình sinh hóa đối với cảnh quan tự lập của nhiệt đới mặc
dù quá trình mang đi những hợp chất vận động, nhất là các cation là đặc trưng,nhưng mang đi hoàn toàn những vật liệu ấy thì khong bao giờ xảy ra được , vì
sự hấp thụ của sinh vật có tác động chống lại Do tác động của quá trình đối lập
đó cảnh quan tự lập mặc dù có bị nghèo hợp chất vận động đi nhưng không bịmất đi hoàn toàn Tuy nhiên hiệu quả của tổng số của hai quá trình có thiênhướng rõ rệt về phía mang vật liệu đi Vì vậy hầu như tất cả lượng dự trữ củacác nguyên tố vận động có ở cảnh quan đó đều tập trung ở sinh vật sống Nóimột cách khác, trong điều kiện rửa trôi kiểu chua mạnh mẽ, dạng tồn tại củanhiều nguyên tố hóa học vận động, giữ cho chúng khỏi bị mang đi là dạng tồntại trong vật chất sống, đó là đặc điểm địa hóa đặc trưng của nhiệt đới ẩm ướtlàm cho chúng khác biệt rõ rệt với các cảnh quan ôn đới
Trong nhiều loại thổ nhưỡng nhiệt đới mùn bị phủ bởi màu đỏ củahiđroxit sắt, vì thế về màu sắc thổ nhưỡng ít khác với tầng tàn tích nằm dưới.Ngoài ra trong miền nhiệt đới ẩm ướt có những loại đất riêng, hình thành trênlớp vỏ phong hóa dày So với lớp vỏ phong hóa, thổ nhưỡng có phản ứng axitithơn, pH của chúng có thể xuống tới 3-3.5 (ở lớp vỏ phong hóa đến 5-7) Trong
Trang 11thổ nhưỡng có nhiều axitit funvonic hòa tan, nhôm và sắt chuyển hóa cùng vớicác axitit này Vì thế thổ nhưỡng lại nghèo nitơ, kali, canxi và nhiều nguyên tốkhác.
Những đặc điểm địa hóa kể trên của thổ nhưỡng và lớp vỏ phong hóathường để dấu vết trong hệ thực, động vật, trong nông nghiệp và trong sức khỏecon người Đôi khi sự nghèo kiềm, đặc biệt là canxi và natri của cảnh quan tựlập có ý nghĩa lớn
Lượng natri trong nước và những thực phẩm địa phương của nhiều vùngnhiệt đới ẩm ít đến mức không đảm bảo được nhu cầu cho cơ thể con người, do
đó cư dân địa phương thiếu hụt nghiêm trọng Hiện tượng thiếu hụt natri còntăng thêm do mất đi qua da vì ở nhiệt đới con người có thể bài tiết tới 12 lit mồhôi trong một ngày Việc giảm lượng natri chứa trong máu có thể gây nên hiệntượng kiệt sức hệ thống thần kinh, giảm khả năng lao động
Mặc dù nhiệt đới ẩm thừa sắt, nhưng cơ thể sử dụng nguyên tố này từthức ăn thực vật rất kém Vì thế ở các cảnh quan này cư dân thường thiếu máu,gây nên do sự thiếu sắt trong thức ăn
Sự thiếu canxi rõ ràng cũng ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của động vật.Động vật ở nhiệt đới ẩm thích ứng với sự thiếu hụt các nguyên tố bằng cáchgiảm kích thước, vì kích thước nhỏ của cơ thể dễ dàng thích ứng với nhu cầu
Ví dụ như Hà Mã của rừng nhiệt đới có chiều dài 1,5m, nhưng ở thảo nguyên và
sa mạc lên tới khoảng 4m Kích thước nhỏ bé cũng là đặc điểm đối với động vậthoang dại hay gia súc của rừng xích đạo
Trong quá trình tiến hóa lâu dài thực vật nhiệt đới ẩm cũng thích ứng vớilượng kiềm thấp, đặc biệt là canxi trong môi trường sống, và thỏa mãn vớilượng ít ỏi của nguyên tố này Ví dụ như chè có chứa rất ít canxi trong chất tro
và tránh những đất giàu vôi
Trang 12Những đặc điểm nêu trên cũng quyết định tới địa hóa học nước ngầm.Nước ngầm bị khoáng hóa rất kém, vì chúng được tạo thành do thẩm thấu mộtkhối nước mưa lớn qua thổ nhưỡng và lớp vỏ phong hóa, hầu như không chứachất dễ hòa tan Thường đó là nước rất ngọt, chỉ chứa dưới 100mg/lít và lượngkiềm cũng rất ít.
Công thức địa hóa:
H+ N, P, K, Ca, Na (Cu, Mo, Zn, Co, I, S)
Nhìn chung cảnh quan với lớp chua của sự di động của nước thiếu rất nhiềunguyên tố như: N, P, K, Ca, Na…nên muốn khai thác tốt những vùng này chúng
ta cần bổ sung thêm các chất kể trên
Vai trò của đá gốc trong việc hình thành cảnh quan nhiệt đớ ẩm nói chungkém hơn so với ôn đới Trên các đá granit, bazan và cả đá vôi đều tạo nênnhững vật liệu tàn tích sét chua mạnh có màu đỏ, chứa rất nhiều cation, nhưngkhông phải tất cả các ảnh hưởng của đá gốc đều mất hết
Cảnh quan trên đá bazan tạo nên một loại riêng, chúng có độ phì thổnhưỡng cao hơn Lớp vỏ phong hóa ở đây có màu rất sáng, chứa hiđroxit nhôm
tự do
Về mặt địa hóa cảnh quan hình thành trên đá siêu bazơ giàu Fe, Mg, Ni,Cr…có những nét rất độc đáo Do các đá nghèo vật chất dinh dưỡng nuôi câynên cảnh quan này rất ít tác dụng Lớp vỏ phong hóa chứa nhiều sắt, cho nên cóthể phát triển khai thác sắt ở đây
Trên các đá sieenit hình thành một loại cảnh quan địa hóa riêng biệt, màđặc trưng là sự tích tụ nhôm dạng hiđrôxit tạo ra những mỏ nhôm giàu có
?
Trang 132.2 CẢNH QUAN VỚI LỚP GLÂY CHUA CỦA SỰ DI ĐỘNG THEO NƯỚC (CÁC ĐẦM LẦY RỪNG Ở MIỀN NHIỆT ĐỚI ẨM).
Trên các đồng bằng bằng phẳng và trong các lòng chảo, nơi có điều kiện
để nước mưa đọng lại ở miền nhiệt đới ẩm, sẽ phát triển những cảnh quan kémphong phú về thực bì và sản phẩm sinh vật
Đó là một lớp cảnh quan đặc biệt, có đặc điểm là thiếu oxi một cách rõ rệt trong thổ nhưỡng, tích lũy các chất mùn đen và có phản ứng axititit mạnh trong nước Dưới lớp mùn thường không dày quá 1m, xảy ra quá trình glây hóa mạnh, sắt và mangan chuyển sang dạng hóa trị II và có khả năng vận động cao Có nơi phát triển lớp than bùn nhiệt đới dày tới vài mét (ví dụ ở bở biển phía đông Xumatra).
Cảnh quan đầm lầy trong rừng nhiệt đới ẩm
Những đầm lầy rừng chiếm khoảng rộng lớn của Amazon và Ôrinôcôtrong lưu vực sông Công Gô, bán đảo Malăcca, Ghi Nê…
Công thức địa hóa:
H+, Fe2+ O,N,P,K,Ca….
Với đặc trưng H+, Fe2+, thiếu O, N, P, K, Ca…và thừa nước nên việc làmkhô những đầm lầy rừng này sẽ tạo nên sự phát triển mạnh mẽ của các quá trình
H2O
Trang 14Những hợp chất Nitơ và một phần phootpho được tích lũy ở tầng mùn này sẽ bịoxi hóa và trở thành vật chất dễ tiêu thụ cho thực vật Vì vậy những đầm lầy nàyđược làm khô như vậy sẽ rất phì nhiêu và được sử dụng rộng rãi trong nôngnghiệp nhiệt đới.
- Sự di động và ngưng tụ của sắt:
Sắt ở đây chuyển sang dạng hóa trị hai và di động dưới dạng Fe(HCO3) vàcác hợp chất hữu cơ Oxi hóa Fe2+ và trầm lắng hiđrôxit sắt có thể có ở nhữngnơi Eh nâng cao Những điều kiện như vậy được hình thành ở trong lớp vỏphong hóa gần mực nước ngầm , ở chỗ thoát nước ra bề mặt của nước ngầm vànước đầm lầy và ở các ao hồ Ở đới dao động của mực nước ngầm có thể lắngđọng các hiđrôxit sắt, chúng có khả năng gắn kết các trầm tích vụn bỏ lại Sựtích tụ hiđrôxit sắt ở dạng quặng sắt màu nâu sẫm, hay các lớp cuội sắt, các lớpcát kết với xi măng sắt…đều có liên quan đến quá trình trên Cho nên cảnh quannhiệt đới ẩm nói chung rất đặc trưng là sự tích lũy hiđrôxit sắt
- Nhiệt đới ẩm với axititit di động theo dòng nước:
Ở đới phong hóa các sunfua không bền vững và nhanh chóng bị oxi hóa:2FeS2 + 7O2 + 2H2O = 2FeSO4 + 2H2SO4ư
Khi ôxi hóa hàng loạt những sunfua thì axititit sunfuric được tạo thành, do
đó dung dịch phong hóa trở nên rất axititit (pH <3, có khi từ 1 - 2), trong nhữngdung dịch đó các kim loại như Zn, Fe, Cu…di động một cách dễ dàng, tạo nênnhững sunfua dễ hòa tan Kết quả là trên mặt quặng bị rửa trôi mạnh, và mất đinhững kim loại đồng, kẽm Trái lại, các sunfua sắt di động trong khoảng cáchnhỏ, chúng dễ dàng bị thủy phân, tạo nên các hiđrôxit tích tụ phần trên của lớp
vỏ phong hóa dưới dạng một khối lớn, màu nâu xám
Những đặc điểm địa hóa của lớp cảnh quan này phụ thuộc nhiều vào cácgiai đoạn phát triển của nó Ở các giai đoạn đầu quá trình hình thành cảnh quan