Chính bởi những vai trò quan trọng của khí hậu và những ảnh hưởng lớnđối với ngành chăn nuôi, việc hiểu và nắm được các quy luật của khí hậu sẽ manglại nhiều lợi ích to lớn đối với ngành
Trang 1MỤC LỤC
MỞ
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục tiêu đề tài 2
3 Nhiệm vụ đề tài 2
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 3
5 Cấu trúc đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUÂN CHUNG VỀ KHÍ HẬU 4
VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI 4
I Khái quát chung về khí hậu và chăn nuôi 4
I.1 Khái niệm khí hậu và vai trò của khí hậu 4
I.1.1 Khái niệm khí hậu 4
I.I.2 Vai trò của khí hậu 5
I.2 Khái quát chung về ngành chăn nuôi 6
II Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết đến vật nuôi 12
II.1 Nhu cầu về bức xạ, ánh sáng 13
II.2 Nhu cầu về nhiệt độ và độ ẩm .14
CHƯƠNG II: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (BĐKH) VÀ NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI 20
I Khái quát chung về BĐKH 20
I.1 Khái niệm BĐKH 20
I.2 Biểu hiện của BĐKH 21
I 3 Nguyên nhân BĐKH 21
II Tác động của BĐKH đến ngành chăn nuôi 22
II.1 Khái quát chung 22
II.2 Những thách thức mà ngành chăn nuôi phải đối mặt do BĐKH .24
II.2.1 Nguồn cung cấp thức ăn chăn nuôi 24
II.2.2 Nguồn cung cấp nước cho chăn nuôi 25
II.2.3 Tính đa dạng sinh học (di truyền và giống) 26
II.2.4 Sức khỏe, năng suất và hiệu quả chăn nuôi 27
II.3 Giải pháp cho BĐKH 28
CHƯƠNG II: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ MÔ HÌNH CHUỒNG TRẠI MANG HIỆU QUẢ CAO TRONG NGÀNH CHĂN NUÔI VIỆT NAM 29
I Giải pháp 29
II Một số mô hình chuồng trại 32
II.1 Mô hình nuôi lợn theo hướng công nghiệp 32
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi là một ngành quan trọng của nền nông nghiệp nước ta Điềukiện khí hậu nước ta cho phép phát triển chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm cóchất lượng cao, có năng suất tốt, góp phần nâng cao đời sống của người dân vàthúc đẩy nền sản xuất lương thực, thực phẩm cũng như phát triển một số ngànhkinh tế sản xuất lân cận khác
Chúng ta đều biết hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khíhậu, thời tiết, khả năng thuần hóa khí hậu của một số giống, loiaf nhập nội cónăng suất, chất lượng cao Tác động của khí hậu có thể được thể hiện trực tiếpqua các quá trình chuyển hóa trong bản thân con vật nuôi, gia súc hoặc gián tiếpqua nguồn thức ăn, qua tình hình dịch bệnh của vật nuôi
Chính bởi những vai trò quan trọng của khí hậu và những ảnh hưởng lớnđối với ngành chăn nuôi, việc hiểu và nắm được các quy luật của khí hậu sẽ manglại nhiều lợi ích to lớn đối với ngành chăn nuôi nói riêng và nền kinh tế nóichung, tránh được những tác động xấu của khí hậu đến vật nuôi và sử dụng tốtcác mặt có lợi của khí hậu Do vậy, trong nội dung chuyên đề Khí hậu ứng dụng
và cũng là để hiểu và biết được những đặc điểm của khí hậu nên em chọn vấn đề
"Khí hậu với ngành chăn nuôi Việt Nam" làm nội dung nghiên cứu của mình.
2 Mục tiêu đề tài
- Tìm hiểu về những tác động của khí hậu đối với vật nuôi
- Tìm hiểu sự biến đổi khí hậu tác động đến ngành chăn nuôi
- Trình bày một số mô hình chăn nuôi mang lại lợi ích kinh tế cao
3 Nhiệm vụ đề tài
- Trình bày và phân tích những tác động của khí hậu đối với ngành chănnuôi Việt Nam
Trang 3- Nêu và phân tích tác động của biến đối khí hậu tới sự phát triển của vậtnuôi.
- Trình bày một số mô hình chăn nuôi mang lại lợi ích kinh tế cao
- Trình bày được tác hại của biến đổi khí hậu tới ngành chăn nuôi ViệtNam
4 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
4.1 Quan điểm nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, đề tài vận dụng các quan điểm chủ yếu sau:
- Quan điểm hệ thống
- Quan điểm tổng hợp
- Quan điểm lịch sử
- Quan điểm phát triển bền vững
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, đề tài vận dụng các phương pháp chủ yếu sau:
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUÂN CHUNG VỀ KHÍ HẬU
VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI
I Khái quát chung về khí hậu và chăn nuôi
I.1 Khái niệm khí hậu và vai trò của khí hậu
I.1.1 Khái niệm khí hậu
Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khíquyển, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng kháctrong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định Điều này trái ngược vớikhái niệm thời tiết về mặt thời gian, do thời tiết chỉ đề cập đến các diễn biến hiệntại hoặc tương lai gần Khí hậu của một khu vực ảnh hưởng bởi tọa độ địa lí, địahình, độ cao, độ ổn định của băng tuyết bao phủ cũng như các dòng nước lưu ởcác đại dương lân cận Khí hậu phân ra các kiểu khác nhau dựa trên các thông sốchính xác về nhiệt độ và lượng mưa Sơ đồ phân loại khí hậu được sử dụng phổbiến nhất hiện nay do ông Wladimir Koeppen phát triển Hệ thốngThornthwaite sử dụng từ năm 1948 kết hợp thêm sự thoát-bốc hơi nước với nhiệt
độ và các thông tin về lượng mưa được dùng trong việc nghiên cứu về cácloài động vật và tiềm năng tác động của sự biến đổi khí hậu Bergeron và Hệthống Phân loại không gian khái quát (Spatial Sypnoptic Classification – SSC)tập trung vào nguồn gốc của các khối không khí xác định cho khí hậu từng khuvực nào đó
Khí hậu trong nghĩa hẹp thường định nghĩa là "Thời tiết trung bình", hoặc chính xác hơn, là bảng thống kê mô tả định kì về ý nghĩa các sự thay đổi về số lượng có liên quan trong khoảng thời gian khác nhau, từ hàng tháng cho đến hàng nghìn, hàng triệu năm Khoảng thời gian truyền thống là 30 năm, theo như định nghĩa của Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological Organization - WMO) Các số liệu thường xuyên được đưa ra là các biến đổi về nhiệt độ, lượng
Trang 5mưa và gió Khí hậu trong nghĩa rộng hơn là một trạng thái, gồm thống kê mô tả của hệ thống khí hậu.
Phân biệt với thời tiết: Sự khác nhau giữa Khí hậu và Thời tiết thường đượctóm tắt qua thành ngữ "khí hậu là những gì bạn mong đợi, thời tiết là những gìbạn nhận được" Trong lịch sử có một số yếu tố không đổi (hoặc chỉ thay đổi rấtnhỏ theo thời gian) để xác định khí hậu như tọa độ địa lí, độ cao, tỉ
lệ giữa đất và nước, và các đại dương và vùng núi lân cận Cũng có các yếu tốquyết định khác sinh động hơn: Ví dụ, dòng hải lưu trong các đại dương đã làmcho phía Bắc Đại Tây Dương ấm lên 5 °C (9 °F) so với các vùng vịnh các đạidương khác Các dòng hải lưu cũng phân phối lại nhiệt độ giữa đất liền và nướctrên một khu vực Mật độ các loài thực vật cũng cho thấy sự ảnh hưởng của sựhấp thu năng lượng mặt trời, sự duy trì nước lượng mưa trên cấp khu vực Sựthay đổi của lượng khí nhà kính quyết định đến số lượng năng lượng mặttrời vào hành tinh, dẫn tới sự ấm lên hay lạnh đi trên toàn cầu Ngoài ra, cũng cócác yếu tố phức tạp khác để xác định khí hậu, nhưng có thỏa thuận chung là cácphác thảo mở rộng được hiểu, ít nhất là trong phạm vi các biến đổi khí hậutrong lịch sử
I.I.2 Vai trò của khí hậu
Khí hậu là một thành phần tự nhiên có vai trò quan trọng đối với sự sốngtrên Trái Đất Mọi hoạt động sống tồn tại trên Trái Đất đều phụ thuộc vào điềukiện khí hậu
Thật vậy, sinh vật sống được là nhờ có các quá trình trao đổi vật chất vànăng lượng Sư trao đổi này thực hiện được là nhờ các quá trình trao đổi giữa cơthể sống và môi trường Trong đó chính là quá trình hô hấp của sinh vật, thực vậtban ngày hấp thụ cacbonic và nhả khí oxi, còn ban đêm thì ngược lại Riêng độngvật đó là quá trình thải khí cacbonic và thu nhận khí oxi
Trang 6Nhờ có khí hậu mà các quá trình trên diễn ra một cách nhịp nhàng và bìnhthường đảm bảo cho cơ thể sinh vật tồn tại và phát triển được.
I.2 Khái quát chung về ngành chăn nuôi
Chăn nuôi là ngành cổ xưa nhất của nhân loại Nó cung cấp cho con ngườithực phẩm có dinh dưỡng cao từ nguồn đạm động vật và bảo đảm sự cân đốitrong khẩu phần ăn Sản phẩm của ngành chăn nuôi còn là nguyên liệu cho côngnghiệp nhẹ (tơ tằm, lông cừu, da), cho công nghiệp thực phẩm (đồ hộp), dượcphẩm và cho xuất khẩu Cho dù con người đã sản xuất và sử dụng rộng rãi tơ, sợi,len, da nhân tạo, nhưng các sản phẩm tự nhiên từ ngành chăn nuôi có nhiều ưuđiểm mà các vật liệu nhân tạo không thể có được Chăn nuôi còn cung cấp sứckéo, phân bón và tận dụng phụ phẩm của ngành trồng trọt Việc kết hợp giữatrồng trọt và chăn nuôi sẽ làm cho sản xuất nông nghiệp tăng thêm hiệu quả Đặc điểm quan trọng nhất của ngành chăn nuôi là sự phát triển và phân bốcủa nó phụ thuộc chặt chẽ vào cơ sở thức ăn Ngoài các đồng cỏ tự nhiên và diệntích mặt nước, phần lớn thức ăn phục vụ chăn nuôi đều do ngành trồng trọt cungcấp Vì thế, ở đâu ngành trồng trọt phát triển, con người không phải quan tâm đếnlương thực cho bản thân mình thì ở đó có nhiều điều kiện để đẩy mạnh ngànhchăn nuôi Đây cũng là lý do vì sao ở phần lớn các nước phát triển, tỷ trọng củangành chăn nuôi trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp lại cao hơn ngành trồngtrọt (ở Hoa Kỳ, chăn nuôi chiếm 70%, ở Pháp hơn 50%, ở Anh trên 60%, ở AiLen gần 90%)
Ngược lại, ở các nước đang phát triển, quy mô dân số đông, gia tăng dân sốcòn cao, nguồn lương thực chưa đủ cung cấp cho con người, nên chăn nuôi kémphát triển
Ngoài ra, sự khác biệt về chất lượng của cơ sở thức ăn được thể hiện khá rõtrong cơ cấu và phương hướng chăn nuôi Các đồng cỏ khô cằn của Mông Cổ vàTây Á chủ yếu để chăn nuôi cừu, dê, lạc đà Trong khi đó, các đồng cỏ tốt tươi ởnhiều nước châu Âu là vùng chuyên canh nuôi bò lấy thịt hoặc sữa
Trang 7Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi đã có những tiến bộ vượt bậc nhờ những thànhtựu về khoa học công nghệ Ngành chăn nuôi trước kia dựa hoàn toàn vào nguồnthức ăn tự nhiên (đồng cỏ, bãi chăn thả ), rồi dần dần chuyển sang phụ phẩm củangành trồng trọt và hiện nay chủ yếu là nguồn thức ăn chế biến bằng phươngpháp công nghiệp Ngay cả các đồng cỏ tự nhiên ngày nay cũng đã được cải tạo.Các đồng cỏ trồng với nhiều giống mới cho năng suất và chất lượng cao ngàycàng trở nên phổ biến.
Trong nền nông nghiệp hiện đại, ngành chăn nuôi có nhiều thay đổi về hìnhthức (từ chăn nuôi chăn thả, sang chăn nuôi nửa chuồng trại, rồi chuồng trại đếnchăn nuôi công nghiệp) và theo chuyên môn hoá (thịt, sữa, len, trứng )
Chăn nuôi bao gồm ba ngành chính:
- Chăn nuôi gia súc lớn (trâu, bò, ngựa),
- Chăn nuôi gia súc nhỏ (lợn, cừu, dê)
- Chăn nuôi gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng )
a Chăn nuôi gia súc lớn
Trâu, bò là các loại gia súc lớn được nuôi phổ biến để lấy thịt, sữa, da và cácsản phẩm khác Ở các nước đang phát triển, trâu bò là nguồn sức kéo chủ yếutrong nông nghiệp Thịt trâu, bò (chủ yếu là bò) chiếm 40% sản lượng thịt toàncủa thế giới
- Chăn nuôi bò
+ Chăn nuôi bò chiếm vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi Các giống bòtrên thế giới hiện nay được thuần hóa từ bò rừng khoảng 8.000 - 7000 năm trướcCông nguyên Lúc đầu bò được thuần hóa và nuôi dưỡng ở Ấn Độ, rồi lan sangNam Á, Địa Trung Hải và Trung Âu, về sau phát triển rộng rãi hầu khắp châu
Âu, châu Á và C\châu Phi Bò cung cấp sữa và thịt có chất lượng cao, là thức ănhàng ngày đối với người Âu- Mỹ
+ Trước đây, bò chỉ được nuôi theo kiểu chăn thả trên các thảo nguyên củacác miền ôn đới ở Nam Mỹ, Bắc Âu (Achentina, Braxin, Anh, Đức, Pháp ).Ngày nay, bò được nuôi chủ yếu theo phương pháp công nghiệp (nhốt trongchuồng trại, cho ăn cỏ khô và thức ăn tổng hợp)
Trang 8Ngày nay trên thế giới, chăn nuôi bò được chuyên môn hoá theo ba hướng:lấy thịt, lấy sữa và lấy cả thịt lẫn sữa.
• Bò thịt được nuôi chăn thả trên các đồng cỏ tươi tốt Đàn bò được nuôi tậptrung đến 1 năm tuổi trên các cánh đồng cỏ, sau đó được chuyển về nuôi vỗ béotrong các chuồng trại ở gần thành phố với thức ăn tổng hợp Trọng lượng bìnhquân đạt hơn 200 kg/con, cao nhất ở CH Ai Len (340kg/con) Bò thịt được nuôinhiều ở các bang phía Tây và vùng đồng cỏ preri ở Hoa Kỳ, đồng cỏ pampa ởAchentina, ở Đông Nam Braxin, Mêhicô, Nga, Anh, Pháp Trung Quốc và Ấn
Độ cũng nuôi nhiều bò, nhưng theo phương pháp chăn thả là chính Chất lượngthịt không ngon bằng các nước Âu- Mỹ
• Bò sữa cung cấp sữa, chất bổ dưỡng tổng hợp rất quan trọng cho trẻ sơsinh, người già, thanh thiếu niên đang trưởng thành, phụ nữ có thai, người bệnh Hiện nay công nghệ chế biến sữa rất hiện đại Nhiều sản phẩm được làm ra từ sữa
bò như sữa hộp, sữa bột, sữa chua, váng sữa, pho mát, smêtana
Bò sữa được nuôi chủ yếu trong các chuồng trại ở vùng đồng bằng hayngoại ô các thành phố lớn, được chăm sóc chu đáo trên cơ sở áp dụng nhữngthành tựu chăn nuôi hiện đại Thức ăn cho bò sữa cần có chất dinh dưỡng caohơn, tỉ lệ thức ăn mọng nước nhiều hơn Trung bình một con bò sữa một năm ởTây, Bắc Âu và Hoa Kỳ cho 6.000- 7.000 lít sữa, cao nhất ở Ixraen tới 9.000 lít.Đàn bò sữa tập trung ở Đông Bắc Hoa Kỳ và vùng ven Hồ Lớn- nơi tập trungnhững khu công nghiệp, thành phố đông dân (Bôxtơn, Niu Yooc, Philađenphia,Bantimo, Chicagô, Đitroi ) Ở khu vực này đã hình thành vùng chuyên môn hoánuôi bò sữa với thức ăn nhập từ nơi khác kết hợp với thâm canh Từ đó vành đai
cỏ khô và vành đai sữa đã ra đời Bò sữa còn được nuôi ở các nước Anh, Pháp,Đức, Nga, Braxin, Oxtrâylia, Niu Dilân, Hà Lan Một vài quốc gia châu Á nhưTrung Quốc, Ấn Độ, các nước Đông Nam Á cũng phát triển chăn nuôi bò sữa.+ Vào đầu thế kỉ XXI, đàn bò của thế giới có khoảng 1,3 tỷ con với sảnlượng 58 triệu tấn thịt và 500 triệu tấn sữa
Các nước đứng đầu thế giới về số lượng bò (năm 2002) là Ấn Độ (gần 220triệu con), Braxin (176 triệu con), Trung Quốc (trên 106 triệu con), Hoa Kỳ (gần
Trang 997 triệu con), Achentina (trên 50 triệu con), Xu Đăng (trên 38 triệu con), Êtiôpia(gần 35 triệu con), Côlômbia (27 triệu con) và Nga (gần 27 triệu con).
Đàn bò của mười nước nói trên chiếm 57% tổng đàn bò của toàn thế giới.Bệnh bò điên mới xuất hiện gần đây ở Anh và lan sang một số nước khác đã gâytổn thất lớn cho ngành chăn nuôi Nền nông nghiệp nước Anh đã bị thiệt hại hàng
tỷ bảng Anh vì căn bệnh này
+ Đối với Việt Nam: Ngành chăn nuôi bò của phát triển tương đối mạnh mẽ.Đàn bò tăng nhanh qua các năm, từ 3,1 triệu con năm 1990 lên 3,6 triệu con năm
1995 và đạt 4,4 triệu con năm 2003 Bò được nuôi nhiều ở Duyên hải Nam Trung
Bộ và Bắc Trung Bộ Gần đây, đàn bò sữa đã phát triển mạnh ở ven các thànhphố và trung tâm công nghiệp lớn như thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, ĐồngNai, Bình Dương
- Chăn nuôi trâu
+ Con trâu được thuần dưỡng ở các vùng đồng bằng phù sa trồng lúa nước,
là vật nuôi của miền nhiệt đới nóng ẩm Trâu cung cấp sức kéo, phân bón, sữa,
da Hiện nay, trâu được nuôi nhiều ở Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam
Á Ở châu Âu, châu Mỹ hầu như không nuôi trâu
+ So với đàn bò, số lượng đàn trâu chỉ bằng 1/8, song tăng đều qua cácnăm, kể cả sản lượng thịt và sữa
Những nước nuôi nhiều trâu đều thuộc về châu Á, đứng đầu là Ấn Độ (hơn
94 triệu con), Pakixtan (24 triệu con), Trung Quốc (trên 22 triệu con), Nêpan (3,7triệu con), Ai Cập (3,6 triệu con), Việt Nam (2,8 triệu con), Mianma (2,6 triệucon), Inđônêxia (2,3 triệu con) và Thái Lan (2,1 triệu con)
+ Việt Nam là một nước nuôi nhiều trâu, đứng thứ 7 trong tổng số 40 nước
có nuôi trâu Đàn trâu có xu hướng giảm nhẹ và không ổn định, từ 2,9 triệu connăm 1990 xuống còn 2,8 triệu con năm 2003 Một trong những nguyên nhân chủyếu là vì nhu cầu sức kéo của trâu đã bắt đầu được thay thế Trâu tập trung ởvùng Đông Bắc và Bắc Trung Bộ
b Chăn nuôi gia súc nhỏ
- Chăn nuôi lợn
Trang 10+ Lợn là gia súc nhỏ được thuần dưỡng cách đây khoảng 5.000 năm, có lẽxuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc, Ấn Độ sau đó lan sang các nước khác
Lợn là vật nuôi quan trọng thứ hai sau bò, dùng để lấy thịt, mỡ, da Lượngthịt xẻ của lợn tương đương và có năm vượt lượng thịt trâu, bò Đối với các nướcđang phát triển, nuôi lợn còn tận dụng được nguồn phân bón ruộng
Thức ăn cho lợn cần nhiều tinh bột Có thể nuôi lợn bằng thức ăn thừa vàphế thải của công nghiệp thực phẩm Chăn nuôi lợn theo kiểu công nghiệp lại dựachủ yếu vào nguồn thức ăn đã được chế biến Ngành chăn nuôi này thường pháttriển tại các vùng ngoại thành, có nguồn thức ăn và nhất là có nhu cầu rất lớn vềthực phẩm
+ Tổng đàn lợn của thế giới nhìn chung tăng đều qua các năm, song khôngthật ổn định Điều này phụ thuộc nhiều vào giá cả của thức ăn phục vụ cho chănnuôi
Những nước nuôi nhiều lợn và có sản lượng thịt đứng đầu thế giới (năm2002) là Trung Quốc (464,7 triệu con và 44,3 triệu tấn thịt), Hoa Kỳ (59,1 và9,0), Braxin (30 svà 2,0), Đức (26,0 và 4,1), Việt Nam (23,2 và 1,6), Ba Lan(18,7 và 1,9)
+ Đàn lợn ở Việt Nam tăng nhanh do nhu cầu của thị trường trong và ngoàinước cũng như do việc giải quyết tốt cơ sở thức ăn cho chăn nuôi.Đàn lợn của nước ta đứng hàng thứ 5 trên thế giới, tập trung chủ yếu ở đồng bằngsông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và vùng Đông Bắc
- Chăn nuôi cừu
+ Cừu là vật nuôi quan trọng được thuần dưỡng từ loài cừu núi cách đâykhoảng 8.000 - 10.000 năm Cừu có khả năng thích nghi rộng Từ loài động vật ởvùng khí hậu khô nóng, ngày nay, cừu được nuôi khắp mọi nơi, ở vùng nhiệt đới
và cả xứ lạnh ở Bắc Âu
Cừu là loài gia súc nhỏ, dễ tính, ăn được những thứ cỏ khô cằn mà trâu, bò,ngựa không ăn Cừu ưa khí hậu khô, không chịu được ẩm Vì vậy nó được nuôichăn thả vào mùa hè, cho ăn cỏ khô và thức ăn tổng hợp vào mùa đông Cừuđược nuôi nhiều ở các vùng khô hạn, hoang mạc, nửa hoang mạc và các vùng
Trang 11núi, đặc biệt ở vành đai cận nhiệt Ở đây, cỏ chỉ mọc tươi tốt trong một thời gianngắn vào mùa xuân cho tới đầu mùa hè, còn suốt mùa hè sang mùa thu, đồng cỏkhô cằn Do đó người ta phải dự trữ cỏ khô, nước uống và cả nơi nuôi nhốt.
Cừu được nuôi để lấy thịt, lông, sữa, mỡ, da nhưng quan trọng nhất là lông
và thịt Cừu cho ít sữa Một con cừu cái chỉ cho chừng 40 lít sữa một năm, nhưngsữa cừu quý và đắt hơn sữa bò
• Cừu lấy thịt được nuôi ở những cánh đồng cỏ tự nhiên màu mỡ và nhốttrong chuồng vào mùa đông giống như nuôi bò Giống cừu lấy thịt nổi tiếng làLinhcôn (Anh) Thịt cừu là món ăn thường ngày của người dân vùng Tây BắcTrung Quốc, Mông Cổ, Úc, Trung Á (Cazăcxtan, Udơbekixtan), Đức, Áo
• Cừu lấy lông được nuôi ở vùng hanh khô với giống Merinốt Ôxtrâylia lànước nổi tiếng trên thế giới về sản xuất lông cừu (chiếm 1/4 sản lượng lông cừucủa thế giới) Cừu được nuôi nhiều nhất ở vùng Tây và Tây Nam Ôxtrâylia Ởđây, nuôi cừu lấy lông thường được tiến hành trong các trang trại Ngoài ra, cừucòn được nuôi nhiều ở Niu Dilân, Trung Quốc, Achentina, Nam Phi
Hàng năm, thường vào mùa xuân hè lúc thời tiết khô ráo, người ta bắt đầucắt lông cừu, tiến hành phân loại, sau đó đóng bao, ép lại, ghi mã hiệu và cuốicùng đưa đến những trung tâm công nghiệp dệt len
Nhìn chung, đàn cừu có sự giảm sút Nguyên nhân chính là do diện tíchđồng cỏ chăn thả tự nhiên bị thu hẹp bởi đất đai bị xói mòn và thoái hoá Sự suygiảm này làm cho sản lượng lông cừu và sữa cừu cũng giảm mạnh Những nước
có số lượng cừu và sản lượng lông cừu nhiều nhất là Trung Quốc (137 triệu con
và 305 nghìn tấn), Ôxtrâylia (113 và 616), Ấn Độ (58,2 và 47,6), Iran (53,9 và75,0), Xu Đăng (47 và 46), Niu Dilân (44,0 và 246,3), Anh (33 và 50)
+ Ở Việt Nam, cừu đang được nuôi với tính chất thử nghiệm để lấy lông tạiNinh Thuận và Bình Thuận
- Chăn nuôi dê
+ Dê cũng là loại gia súc nhỏ và dễ tính như cừu được nuôi để lấy thịt vàsữa tại những vùng khô hạn, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt hoặc trong các thung
Trang 12lũng của vùng núi đá vôi Đối với người nông dân ở châu Á (Ấn Độ, Pakixtan,Bănglađét, Apganixtan), châu Phi (Êtiôpi, Nigiêria, Xu Đăng ), dê là nguồn đạmđộng vật quan trọng vì thịt nạc mà không xác, mỡ mà không béo Dê còn đượccoi là “con bò sữa của người nghèo”.
+ Đàn dê trên thế giới ngày một đông hơn đã bổ sung nguồn thịt và sữa chongười nông dân nghèo của các nước đang phát triển
Đàn dê tập trung nhiều ở các nước đang phát triển thuộc châu Á và châu Phinhư Trung Quốc (161,5 triệu con năm 2002), Ấn Độ (123,5 triệu con), Pakixtan(50,9 triệu con), Xu Đăng (40,0 triệu con), Bănglađet (34,1 triệu con), Nigiêria(26,0 triệu con), Iran (25,8 triệu con)
+ Ở Việt Nam, dê được nuôi nhiều tại vùng núi đá vôi Hoà Bình, Ninh Bình,Thanh Hoá, Nghệ An với trên 600 nghìn con (năm 2002)
c Chăn nuôi gia cầm
Trong vài thập niên trở lại đây, ngành chăn nuôi gia cầm trên thế giới pháttriển mạnh về cả số lượng và chất lượng Đó là kết quả của việc áp dụng nhữngthành tựu di truyền chọn giống kết hợp với các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng
có cơ sở khoa học Năm 1999 (theo FAO), tổng đàn gia cầm trên thế giới khoảng
10 tỷ con, trong đó 96,7% gà, 1,8% vịt, còn lại là các gia cầm khác Tổng đàn gàtrên thế giới cũng tăng theo thời gian, cụ thể là năm 2000:14.831,9 triệu con; năm2001: 15.526,26 triệu con; năm 2002: 16.373,16 triệu con; năm 2004:16.605,13triệu con
Tại Việt Nam, số lượng đàn gia cầm cũng tăng lên đáng kể, các đà gia cầmphân bố rải rác trên lãnh thổ, tập trung nhiều ở Đồng bằng sông Cửu Long vàđồng bằng sông Hồng
II Ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, thời tiết đến vật nuôi
Chúng ta đều biết hiệu quả chăn nuôi phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện khíhậu, thời tiết, khả năng thuần hóa khí hậu của một số giống, loài nhập nội có năngsuất, chất lượng cao Tác động của khí hậu có thể được thể hiện trực tiếp qua cácquá trình chuyển hóa trong bản thân con vật nuôi, gia súc hoặc gián tiếp quanguồn thức ăn, qua tình hình dịch bệnh
Trang 13Cũng như cây cối, con người và nhiều loài sinh vật hoang dã khác, bức xạ,ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm và các chuyển động của không khí có ảnh hưởng không
ít đến sức khỏe, tốc độ tăng trưởng , sự hình thành năng suất và phẩm chất củasản phẩm chăn nuôi
II.1 Nhu cầu về bức xạ, ánh sáng
Tác nhân quan trọng nhất của khí hậu thời tiết đối với ngành chăn nuôi giasúc, gia cầm ở nước ta là điều kiện ánh sáng Thiếu bức xạ Mặt Trời, vật nuôithường mắc bệnh thiếu máu, rối loạn trao đổi chất, có thể mắc bệnh còi xương dorối loạn trao đổi photpho và canxi trong cơ thể vật nuôi, làm cho chúng chậm lớn,sinh sản giảm, lượng sữa ít, rối loạn chức năng sinh lý
Tia hồng ngoại trong bức xạ Mặt Trời làm tăng nhiệt độ không khí, sưởi ấm
da và lớp mô dưới da của vật nuôi, tăng lượng máu ngoại biên, chống lạnh tốt chovật nuôi Nhờ đó các tế bào tăng tính hoạt hóa sinh học, số nhân tế bào và các hệenzim trong cơ thể được hoạt hóa nhiều hơn
Thuận lợi có thể thấy rõ của nền bức xạ nhiệt đới gió mùa Việt Nam là sựgiàu có về thành phần bức xạ siêu tím, cũng như sự phân bố khá điều hòa trongsuốt năm Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên này súc vật nuôi ở nước ta cũng maulớn, hệ số chuyển hóa cao, nguồn thức ăn ở xứ xở nhiệt đới này cũng rất dồi dào,nhiều chất dinh dưỡng Ngay việc chúng ta có thể lợi dụng được một phần lớnnguồn thức ăn tự nhiên cũng chứng tỏ ưu thế của điều kiện sinh khí hậu nước tatrong chưn nuôi gia súc, gia cầm
Mặt ít thuận lợi của khí hậu nước ta, đặc biệt là khí hậu miền Bắc, là sựthiếu ánh sáng trong các tháng mùa đông Đó là lý do khiến cho gà đẻ trứng íthơn hẳn trong mùa đông và súc vật thì chậm lớn trong thời kì này Về mùa hè,đặc biệt là nhiều khu vực của miền Nam, cường độ ánh sáng lại quá cao, gây tácđộng nhiệt mạnh mẽ cho gia súc, dẫn tới những bất lợi về mặt sinh lý trong đờisống của vật nuôi Gà thịt cũng đòi hỏi nhu cầu về ánh sáng và độ chiếu sáng kháđặc biệt Đối với chuồng hở ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên Mùa hè, ngàynóng gà ít ăn, vì vậy cần chiếu sáng ban đêm để cho gà ăn nhiều hơn 3-4 tuần
Trang 14đầu cường độ chiếu sáng là 3-4 W/m2 chuồng Sau đó giảm dần và duy trì ở mức1-2 W/m2 Tuy nhiên cường độ ánh sáng mờ như vậy chỉ đủ cho gà hoạt động và
ăn uống ở mức không nhiều, vẫn cần duy trì chế độ bật sáng hơn vào một số thờiđiểm để kích thích cả đàn cùng ăn và ăn nhiều hơn Sau 20 - 30 phút khi gà đã ănxong lại tắt đèn sáng duy trì chế độ đèn mờ Để cho gà đẻ thương phẩm: đối với
gà con trong hai tuần đầu cần duy trì thời gian chiếu sáng tối đa 24/24 giờ vớicường độ 3-4 W/m2 ; từ cuối tuần thứ 2 cho đến gia đoạn gà giò (tuần 16-18 tùygiống) chỉ cần 8 giờ chiếu sáng, cường độ 1 W/m2 ; từ tuần 17 -19 cần tăngcường độ chiếu sáng lên 3-4 W/m2 với thời gian tăng dần đến lúc gà đẻ đạt 16giờ/ngày và duy trì ở mức này trong suốt thời gian gà đẻ
Chính vì lí do đó việc tổ chức chăn nuôi ở nước ta cần phải được phân mùa
và chọn vùng cho thích hợp, bên cạnh đó cũng cần có những biện pháp bảo vệ,phòng tránh những bất lợi về điều kiện bức xạ, ánh sáng cho gia súc
Trong việc nhập nội, thuần hóa gia súc, gia cầm với điều kiện bức xạ vùngnhiệt đới cũng phải chú ý tới một số giống nhậy cảm với điều kiện chu kì ánhsáng Ví dụ, gà chỉ đẻ trứng trong những trường hợp có chu kì ánh sáng thíchhợp Việc đưa các giống ngoại lai vào nước ta, hoặc việc xây dựng chuồng trạithiếu ánh sáng sẽ làm giảm sút khả năng đẻ trứng Ngoài điều kiện ánh sáng,những đặc điểm khí hậu khác như: nóng, lạnh, mưa, gió, sương muối, sương giá,
độ ẩm đất (nếu gia cầm, gia súc cần chăn thả), độ ẩm và chất lượng khôngkhí cũng đều tham gia tích cực trong các quá trình sinh lí, sinh hóa diễn ra trongvật nuôi, góp phần hình thành nên năng suất, chất lượng của sản phẩm chăn nuôi
II.2 Nhu cầu về nhiệt độ và độ ẩm
Súc vật thường có độ nhảy cảm cao đối với nhiệt độ, lớp da và lông không
đủ bảo vệ gia súc, gia cầm chống lại những thay đổi, dao động quá lớn Khí hậunóng có thể khiến cho cơ thể vật nuôi phải tự điều tiết, duy trì hoạt động bìnhthường của các cơ chế chuyển hóa
Vật nuôi đang ở trong trạng thái "thoải mái'' về nhiệt độ là khi nó khôngphải dùng đến các cơ chế điều hòa nhiệt, như co các mạch máu dưới da, dựng
Trang 15lông, run và các cách tăng sinh nhiệt khác nhằm chống đỡ môi trường , hoặc dãn
nở các mạch máu dưới da, thở gấp, tiết mồ hôi và có thể giảm sinh nhiệt để chốngnóng Ở trong môi trường nhiệt độ thích hợp dễ chịu con vật tiêu hao năng lượngmưc thâp nhất, dành năng lượng đồng hóa được cho quá trình sinh trưởng và sinhsản
lợi dung cơ chế khi nhiệt độ môi trường giản kích thích nhóm động vật nuôi
că phải được ăn nhiều hơn để lấy năng lương từ thức ăn bổ trợ vào, người ta coinhiệt độ lạnh là tác nhân kích thích vật nuôi cần ăn và ăn nhiều Và trong điềukiện vừa đủ những "kích thích nhẹ " đó có thể vẫn cần thiết
Nhiệt độ môi trường ở mức thấp đến độ vật nuôi phải huy động nhiệt lượngsinh ra để chống lạnh gọi là nhiệt độ tới hạn dưới Khi nhiệt độ môi trường vượtquá giới hạn này cân bằng nhiệt của vật nuôi bị phá vỡ nó không còn khả năng đểchống lạnh nếu không có sự can thiệp chủ động của chúng ta vật nuôi sẽ chết.Hiện tượng trâu, bò ngã đổ trong mùa đông rá rét ở miền Bắc nước ta cũng donhững đợt rét kéo dài quá giới hạn mà con vật nuôi có thể chịu được Ngược lạivới quá trình trên, khi nhiệt độ môi trường cao vượt quá sức chịu đựng của vậtnuôi được gọi là nhiệt độ tới hạn trên Khoảng cách giữa hai giới hạn nhiệt độnày được gọi là miền trung hòa nhiệt- miền nhiệt thích hợp cho vật nuôi sinhsống bình thường Sống trong điều kiện này con vật ở trạng thái thoải mái, vượtkhỏi miền ttrung hòa nhiệt, dù ở nhiệt độ tới hạn dưới hay tới hạn trên vật nuôiphải có những phản ứng về sinh lí, hóa sinh để chống chịu, sức sinh trưởng, sinhsản và sức khỏe của chúng bị giảm sút, năng suất và hiệu quả kinh tế của chănnuôi giảm đi rõ rệt
Trong kinh tế chăn nuôi điều kiện sinh khí hậu tất quan trong, ví dụ: chỉriêng nhiệt độ để nuôi gà thịt trong từng giai đoạn cũng rất khác nhau (Bảng 1) vàviệc đảm bảo nhu cầu về nhiệt độ môi trường nghiêm ngặt như vậy sẽ tạo điềukiện tốt để gà hấp thu được thức ăn và phát triển tốt
Bảng 1: Nhiệt độ cho gà nuôi thịt
Tuổi gà Nhiệt độ chuồng (0C) Nhiệt độ dưới chụp úm (0C)
Trang 16- Giai đoạn gà con, yêu cầu tương tự như nuôi gà thịt.
- Giai đoạn gà giò, nhiệt độ môi trường thích hợp 18-21 0C (hoặc 15-25 0Ctrong một số tài liệu công bố khác)
trong chăn nuôi lợn, một số điều đáng lưu ý là chúng ta thường nhập nhữnggiống cao sản phần lớn ở vùng khí hậu lạnh và khô ráo hơn khí hậu nước ta, do
đó nhiệt độ và độ ẩm ảnh hưởng nhiều đến hiệu suất chăn nuôi Lợn là loài vậtnuôi có lớp da hầu như không có tuyến mồ hôi, dưới da lại có lớp mỡ dày, do đólợn dễ bị "bấc nóng", độ ẩm cao ngăn cản sự thoát hơi qua hệ thống hô hấp củalợn làm thân nhiệt trung tâm tăng, thông thường ở nhiệt độ 30 0C chúng vấn sốngbình thường dù thân nhiệt của nó có tăng thêm 1 0C nhưng nếu nhiệt độ bên ngoàităng, con vật sẽ mệt lả, kém ăn, ăn không ngon, ảnh hưởng đến tăng trọng khinhiệt độ tăng từ 23 lên 330C, tăng trọng của lợn sẽ giảm đi 1/3 trong khi hệ sốtiêu tốn thức ăn vẫn không đổi, nhiệt độ tăng quá nhanh lợn có thể bị sốc mạnhhoặc chết; nếu nhiệt độ là 350C con vật có thể chết trong vòng 6 giờ, ở 40 0C chếttrong 3 giờ
Một số loài vật nuôi như lợn, cừu và có thể cả bò có xu thế điều hòa thânnhiệt chung môi trường cộng đồng- cả đàn khi gặp lạnh chúng quây quần lại vớinhau sống xen xít, lợn thường nằm sát bên nhau Biểu hiện phản ứng mang tínhquần thể này có tác dụng làm giảm đáng kể diện tích tỏa nhiệt của cá thể, tiếtkiệm lượng nhiệt thoát ra ngoài, giữ được ấm chung cho cả đàn
Nhìn chung chăn nuôi trong điều kiện khí hậu nóng ở nước ta, các gia súc,vật nuôi ăn thịt thường có lớp da mỏng, lông thưa, ít mỡ, khả năng sinh dục củachúng cũng giảm đi Còn trong điều kiện nhiệt độ cao và khô (như ở những khuvực thường có gió khô nóng hoạt động mạnh), cơ thể gia súc, vật nuôi thườngphải chịu đựng tác động điều tiết nhiệt độ quá lớn hao tổn năng lương, tốc độ
Trang 17tăng trưởng bị hạn chế Trâu, bò sữa chăn nuôi trong điều kiện như vậy thườngnhanh bị cạn kiệt nguồn sữa Ngược lại trong điều kiện nhiệt độ thấp, độ ẩm cao,hiệu quả chuyển hóa cũng bị giảm sút, thêm vào đo dịch bệnh càng có điều kiệnphát triển ảnh hưởng đến hiệu suất chăn nuôi.
Một số kết quả thực nghiệm cho thây, mốc chuẩn của nhiệt độ lạnh làmgiảm năng suất và sản lượng sữa của các giống bò sữa khác nhau không giốngnhau Khi nhiệt độ môi trường quá cao, vật nuôi thường chán ăn, không ăn,nhưng đối với lợn thì không hoàn toàn như vậy Khi nhiệt độ cơ thể lợn tăng, lợnthường đòi ăn nhiều, tuy vậy nhưng trong môi trường nóng trọng lượng lợn cũnggiảm đi rõ rêt Tóm lại các gia súc khác nhau, cũng như cùng một loại gia súcnhưng giống khác nhau cũng phản ứng không giống nhau với điều kiện môitrường Chính vì lí do đó, vấn đề chọn giống gia cầm, gia súc, để nhập nội thuầnhóa là vô cùng quan trọng
Những điều kiện ẩm của môi trường cũng ảnh hưởng nhiều đến năng suấtchăn nuôi, ví dụ như gà, chúng rất nhạy cảm với độ ẩm của không khí, và của lớpđộn chuồng Khi độ ẩm cao gà có biểu hiện khó thở dễ bị bệnh đường hô hấp, độ
ẩm cao làm môi trường thuận lợi cho sự phát triển của nhiều loiaj nấm môc, kísinh trùng, độ ẩm quá thấp cũng làm cho da gà bị khô, ngứa ngáy, chuồng bụibặm gà hay mổ nhau, độ ẩm thích hợp của chuồng là 65-70%
Do tính chất khí hậu miền Bắc nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh trâu bònuôi để tận dụng sức kéo cũng cần biện pháp chống nóng, lạnh thích hợp Vụmùa thời tiết thường quá nóng bức, nên bố trí cho trâu bò làm việc vào thời điểmmát mẻ trong ngày, cho trâu đằm, tắm thường xuyên Trâu bò có tầm vóc nhỏ,màu da sáng có khả nawg chống chịu nóng tốt hơn Trong vụ chiêm xuân, thờitiết lại quá lạnh cần chống rét bằng cách đảm bảo để chuồng ấm áp khô ráo,không bị gió lùa, những ngày đại hàn cần có áo chống rét cho trâu, bò, khi làmviệc không sử dụng trâu bò quá sức, không đi làm quá sớm, thêm khẩu phần và
bổ sung thành phần dinh dưỡng cho chúng
Phân tích điều kiện sinh khí hậu vật nuôi ở Việt Nam chúng ta thấy: để chochăn nuôi đại gia súc, các vùng cao nguyên và vùng núi thấp là có nhiều điều
Trang 18kiện thuận lợi hơn cả Ở độ cao đó mùa hạ không quá nóng, độ ẩm thấp hơn ởvùng đồng bằng và tương đối điều hòa, ánh sáng vừa phải giúp cho đàn gia súctăng trọng nhanh, sinh sản tốt.
Với cùng một chế độ nuôi dưỡng và cùng loại giống, người ta nhận thấynuôi trong điều kiện khí hậu cao nguyên (700-800m)gia súc có khả năng tăngtrọng và sinh sản nhanh hơn ở đồng bằng từ 10 đến 25%
Tuy nhiên, một số tài liệu nghiên cứu nước ngoài lại cho thấy, ở các nơi quácao, không khí loãng do nồng độ ôxi thấp , chức năng điều hòa hô hấp của vậtnuôi có thể bị rối loạn, ví dụ bò có biểu hiện triệu chứng "say núi cao" chiếm tới10% số đàn vật nuôi ở một vài vùng núi cao thuộc miền Tây Hoa Kì, vật nuôivùng đồng bằng được đưa lên vùng núi cao có hiện tượng sản lượng sữa giảm đi
rõ rệt Chính vì thế việc khai thác tiềm năng của các cánh đồng cỏ vùng núi caovào mục đích chăn nuôi đại gia súc ở nước ta còn là vấn đề cần phải được nghiêncứu kĩ lưỡng hơn
Các kết quả nghiên cứu chỉ tiêu sinh lí khí hậu trong chăn nuôi gia súc ởViệt Nam đã được một số tác giả tổng kết, và nêu lên trong bảng 2:
Bảng 2: Chỉ tiêu tổng hợp đánh giá điều kiện thời tiết đối với sức khỏe, điều dưỡng
Bảng 3: Một số chỉ tiêu sinh khí hậu của gia súc
Trang 19Gia súc Nhiệt độ tối
thích (oC)
Độ ẩm tốithích (oC)
Giới hạncảm ứnglạnh (oC)
Giới hạncảm ứngnóng (oC)
Giới hạntác hại
đó đã làm giảm sức đề kháng bệnh tật của gia súc, gia cầm Riêng yếu tố nhiệt,gió có thể hạn chế được phần nào nếu chúng ta có những thiết kế chuồng trạihợp lý
Bên cạnh nhiệt và ẩm, gia súc, gia cầm còn phải chịu ảnh hưởng của trườngđiện từ, tia tử ngoại, hồng ngoại Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu về vấn đềnày hiện chưa nhiều, tuy nhiên căn cứ vào tài liệu nghiên cứu của các nước cónền chăn nuôi công nghiệp tiên tiến có thể nhận xét xơ bộ như sau:
- Bức xạ, trường điện từ, sóng siêu âm có thể có tác động đến "tính bảo thủ"
di truyền của vật nuôi Các phân tử protit hấp thu sóng điện từ và thay đổi sựphân bố các proton trong phân tử Sóng siêu âm làm thay đổi hoạt tính sinh lí của
tế bào, thay đổi điện sinh học và hàm lượng oxi trong tế bào Với liều lượngkhông lớn các tác nhân này có tác dụng kích thích, gây hưng phấn hệ thần kinhtrung ương, còn với liều lượng lớn thì có tác dụng ức chế thần kinh của vật nuôi
- Vai trò của tia tử ngoại đối với vật nuôi được nghiên cứu nhiều hơn, nó cótác động ảnh hưởng đến tốc độ quang hóa của axit nucleic, làm thay đổi hàmlượng các sản phẩm phong hóa Tia tử ngoại với các bước sóng khác nhau gâynhiều biến dị di truyền ở trong và ngoài nhân các tế bào nấm men, điều này đãgợi ý cho chúng ta gây những biến dị và đột biến có lợi cho kinh tế chăn nuôi.Nhìn chung tia tử ngoại rất cầm thiết để tạo thành vitamin A và để cho vật nuôiphát triển bình thường
Trang 20- Một đặc điểm khác biệt nữa, rất đáng quan tâm là súc vật thường cảm ứngrất mạnh mẽ với các điều kiện khí quyển và những thay đổi vi lượng trong khôngkhí Những hoạt động khác thường của gia súc, gia cầm và côn trùng trước nhữngkhi dông bão, biến động thời tiết hẳn phải có liên quan đến những phản ứng này.
Do đặc thù của khí hậu nhiệt đới gió mùa Việt Nam, đặc biệt là ở khu vựcmiền Bắc, thời tiết khí hậu ở nước ta có tính biến động rất lớn, rất đột ngột vàđiều này đã ảnh hưởng không ít đến vật nuôi Cơ chế điều tiết của vật nuôithường kém linh hoạt, cho nên những dao động quá lớn về nhiệt độ, độ ẩm, gió (ví dụ như biến động thời tiết do gió mùa đông bắc tràn về, thời tiết bão, áp thấpnhiệt đới, gió khô nóng, dông ) đều có thể gây nên những dối lạn sinh học cóhại Chính trong bối cảnh đó chăn nuôi gia súc, gia cầm cần phải được nghiêncứu, tổ chức, nuôi thử nghiệm kĩ lưỡng trước khi đem ra áp dụng rộng rãi
CHƯƠNG II: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU (BĐKH) VÀ NHỮNG
THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH CHĂN NUÔI
I Khái quát chung về BĐKH
I.1 Khái niệm BĐKH
Biến đổi khí hậu trái đất là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển,thuỷ quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tương lai bởi các nguyênnhân tự nhiên và nhân tạo"
Môi trường trước đây Môi trường hiện tại
“Biến đổi khí hậu là “những ảnh hưởng có hại của biến đổi khí hậu”, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc sinh học gây ra những ảnh hưởng có