1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA HÀNH VI ĐI DU LỊCH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG SAU DỊCH COVID 19

27 103 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 184,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAMTRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG BÁO CÁO CUỐI KÌ MÔN:CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG DU LỊCH ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA HÀNH VI ĐI DU LỊCH C

Trang 1

TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG

BÁO CÁO CUỐI KÌ MÔN:CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG DU LỊCH

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CỦA HÀNH VI ĐI

DU LỊCH CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG SAU DỊCH

COVID 19

Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Minh Huân

Sinh viên thực hiện: Mai Nguyễn Khánh Nghi

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 6 năm 2021

Trang 2

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Các khái niệm cơ bản liên quan:

1.1.1Du lịch là gì?

Là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trúthường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu thamquan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mụcđích hợp pháp khác

1.1.4 Nhu cầu là gì?

Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọngcủa con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhậnthức, môi trường sống, những đặc điểm tâm sinh lý, mỗi người có những nhu cầu khácnhau Nhu cầu là cảm giác thiếu hụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhucầu là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động Nhu cầu càng cấp bách thì khả năng chi

Trang 3

phối con người càng cao Về mặt quản lý, kiểm soát được nhu cầu đồng nghĩa với việc

có thể kiểm soát được cá nhân (trong trường hợp này, nhận thức có sự chi phối nhấtđịnh: nhận thức cao sẽ có khả năng kiềm chế sự thoả mãn nhu cầu)

Nhu cầu là tính chất của cơ thể sống, biểu hiện trạng thái thiếu hụt hay mất cân bằngcủa chính cá thể đó và do đó phân biệt nó với môi trường sống Nhu cầu tối thiểu haycòn gọi là nhu yếu đã được lập trình qua quá trình rất lâu dài tồn tại, phát triển và tiếnhóa

1.1.5 Mong muốn là gì?

Mong muốn lại hoàn toàn khác với nhu cầu Mong muốn (wants) không phải lúc nàocũng có và nó thay đổi thường xuyên Thời gian thay đổi, con người và vị trí địa lí thayđổi Khi đó mong muốn cũng thay đổi theo Mong muốn không phải là điều bắt buộccho sự tồn tại của con người, nhưng nó có liên quan đến nhu cầu Ví dụ, nếu chúng taluôn cố gắng đáp ứng một mong muốn nào đó của mình, nó sẽ biến thành nhu cầu

1.1.6 Nhu cầu đi du lịch là gì?

Là những mong muốn của con người được đến một nơi khác so với nơi ở thườngxuyên của mình (nơi thường trú) để được tận hưởng, trải nghiệm những cảm giác mới

lạ ở những địa điểm đó Sau những chuyến đi du lịch như vậy giúp họ giải tỏa được áplực cuộc sống, hồi phục sức khỏe để phục vụ cho công việc mới Về cơ bản, nhu cầu dulịch chia thành 3 nhóm: nhu cầu thực tế, nhu cầu bị kiềm chế, loại nhu cầu không cónhu cầu du lịch

Mặc khác, khi nghiên cứu nhu cầu của khách du lịch có liên quan đến yếu tố dịch vụtrong chuyến đi, ta có thể chia thành các nhu cầu sau: nhu cầu thiết yếu, nhu cầu bổsung, nhu cầu, nhu cầu đặc trưng

Trang 4

1.2 Lý thuyết về hành vi cá nhân (TIB)

Harry Triandis (1980) nhận ra vai trò quan trọng của các yếu tố thái độ, xã hội và cảmxúc trong việc định hình ý định Ông cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của hành vitrong quá khứ đối với hiện tại, cũng như các điều kiện thuận lợi để thực hiện hành vi.Trên cơ sở những quan sát này ông đã đề xuất Lý thuyết về Hành vi cá nhân, trong đó

ý định là tiền thân của hành vi Và cả hai ảnh hưởng này được điều chỉnh bằng bốicảnh, các điều kiện thuận lợi để hành vi xảy ra

Trên cơ sở nghiên cứu hành vi đi du lịch của sinh viên Đại Học Tôn Đức Thắng saumùa dịch covid-19 đề tài này chọn lý thuyết về hành vi TIB làm lý thuyết vì lý thuyết

về hành vi cá nhân (TIB) (Triandis, 1977, 1980) rất giống với lý thuyết hành động hợp

lý TRA, với ý định đó là tiền đề để dẫn đến hành vi Tuy nhiên, ý định trong mô hìnhnày bị ảnh hưởng bởi thái độ, các yếu tố xã hội và các yếu tố cảm xúc Thái độ trong

Trang 5

mô hình này cũng giống như trong mô hình TRA và TPB.Các yếu tố xã hội bao gồmcác chuẩn chủ quan, vai trò xã hội và tự ý thức về bản thân.Các yếu tố cảm xúc là phảnứng cảm xúc đối với hành vi Ngoài các yếu tố quyết định của ý định, Mô hình TIBcho thấy rằng thói quen, những hành vi trong quá khứ cũng sẽ có tác động đến hành vihiện tại, ngoài ra bối cảnh hoặc những điều kiện thuận lợi cũng ảnh hưởng đến ý định

và thói quen.Từ mô hình này chúng tôi thấy được được các yếu tố ảnh hưởng đến hành

vi đi đi du lịch của sinh viên Đại Học Tôn Đức Thắng như ý định đi du lịch của sinhviên còn phụ thuộc vào các yếu tố tố như xã hội, cảm xúc,hành vi trong quá khứ,điềukiện hiện tại,ví dụ như sinh viên Đại Học Tôn Đức Thắng mỗi người đều sống trongnhững gia đình khách nhau,điều kiện kinh tế khác nhau do đó họ là những cá thể cócảm xúc khác nhau và hành vi trong quá khứ của họ cũng có sự khác biệt.Nên hành viquyết định đi du lịch của họ phụ thuộc vào các yếu tố trên.Qua đó mô hình này gópphần củng cố và hoàn thiện hơn việc vận dụng lý thuyết TIB vào giải thích các nhân tốảnh hưởng đến hành vi đi du lịch của sinh viên Đại Học Tôn Đức Thắng sau dịch covid19

CHƯƠNG 2 : CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH HÀNH VI ĐI DU LỊCH

CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG

Trước khi dịch covid bùng phát, du lịch Việt Nam trên đà phát triển khá mạnh mẽ, đóng góp GDP rất lớn cho nước ta Theo kết quả khảo sát của Tổng Cục Du Lịch Việt Nam thì năm 2019 riêng ngành công nghiệp du lịch đã đóng góp vào GDP 9,2% Có thế thấy rằng trước khi dịch covid bùng phát mọi người có nhu cầu đi du lịch khá cao

Bảng 2.1: Thống kê sô lần đi du lịch của sinh viên trước dịch covid-19

Trang 6

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Qua kết quả phân tích có thể thấy trước khi dịch covid 19 bùng phát, tần suất đi du lịchcủa sinh viên đại học Tôn Đức Thắng cũng nằm ở mức trung bình phần lớn rơi vào khoảng từ 2-3 lần trong năm ( 38% ) và những lựa chọn còn lại cũng chênh lệch không nhiều Từ 1-2 lần (25%) kế đến là từ 3-4 lần chiếm 23% và cuối cùng trên 4 lần là 14%

Bảng 2.2: So sánh số lần đi du lịch trước dịch covid 19 giữa sinh

Từ 2-3lần

Từ 3-4lần

Trên 4lần

Trang 7

Theo kết quả của bảng phân tích sinh viên năm 1 thường di du lịch từ 1-2 lần, có thể hiểu rằng do các bạn sinh viên vừa bắt đầu môi trường học tập mới do đó chưa dành thời gian nhiều cho việc đi du lịch Đối với sinh viên năm 2 và năm 3 có điểm chung làthường đi du lịch từ 2-3 lần trong một năm, đây là lựa chọn của phần lớn sinh viên được khảo sát Đối với sinh viên năm 4 số lần đi du lịch rơi vào khoảng từ 3-4 lần Nhìn chung có thể thấy số lần đi du lịch của sinh viên có xu hướng tăng lên qua các năm học Nhìn chung trước khi dịch covid 19 bùng phát nhu cầu đi du lịch của sinh viên khá cao và có xu hướng tăng.

2.1 Thu nhập

Thu nhập là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến ý định hành vi đi du lịch của sinh viên, như chúng ta đã biết dịch covid 19 ảnh hưởng rất nhiều đến nền kinhtế

Bảng 2.3: Thống kê tần số ảnh hưởng của thu nhập đến sinh viên

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Qua kết quả phân tích, có đến 88% sinh viên cho rằng yếu tố thu nhập ảnh hưởng đến ýđịnh hành vi đi du lịch của sinh viên Tôn Đức Thắng sau dịch covid 19, số lượng sinh viên cho rằng thu nhập không ảnh hưởng chỉ chiểm 12%

Trang 8

Bảng 2.4: Mối quan hệ giữa thu nhập và hình thức đi du lịch

Mức thu nhập của sinh viên

Hình thức đi du lịch

Tổng

Tự túc Trọn góiDưới 3

triệu

Từ 3-5 triệu

Từ 5-10 triệu

Trên 10 triệu

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Kết quả phân tích từ bảng trên có thể thấy phần lớn sinh viên có mức thu nhập từ 3-5 triệu chiếm 44%, trong đó có đến 35% chọn du lịch tự túc và 9% lựa chọn hình thức dulịch trọn gói Thấp nhất là sinh viên có mức thu nhập trên 10 triệu chiếm 7% trong đó thì có 5% sinh viên lựa chọn hình thức du lịch tự túc và 2% lựa chọn hình thức du lịch trọn gói Còn đối với sinh viên có mức thu nhập dưới 3 triệu và mức thu nhập từ 5- 10 triệu cũng lựa chọn hình thức du lịch tự túc lần lượt là 22% và 17% trên tổng số người lựa chọn là 44 người ở mức dưới 3 triệu và 23 người ở mức 5 – 10 triệu

Chúng tôi đã tiến hành phân tích và kết quả Chi – square là 1,103 với bậc tự do là 3 và giá trị sig= 0,776 > 0,05 do đó có thể kết luận rằng giữa mức thu nhập của sinh viên và việc lựa chọn hình thức đi du lịch không có mối quan hệ với nhau Do đó mức thu nhậpcủa sinh viên cao hay thấp thì cũng không ảnh hưởng đến sự lựa chọn hình thức đi du lịch

2.2 Rủi ro

Trang 9

Bảng 2.5: Đánh giá mức độ nhận thức rủi ro đi du lịch sau dịch covid 19 của sinh viên

N

Điểmtrungbình

Độ lệchchuẩn

Khi xem các thông tin về Covid, bạn trở nên hồi

hợp và căng thẳng khi tính đến việc đi du lịch

Bạn cảm thấy không an toàn trước tình hình dịch

100

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Qua khảo sát đánh giá về mức độ nhận thức về rủi ro sau khi đi du lịch sau dịch covid

19 của sinh viên, hầu hết mức độ đánh giá đều từ 4 trở lên có nghĩa từ đồng ý cho đến rất đồng ý Về việc covid 19 làm bạn sinh viên khá lo lắng về cách thức đi du lịch trướcđây, điểm trung bình= 4,18 Chắc chắn rằng cách thức đi du lịch sẽ khác trước đây, thay vì lựa chọn những điểm đến đông đúc thì mọi người có xu hướng chọn những nơi yên tĩnh hơn, bên cạnh đó thì vẫn phải tuân thủ việc đeo khẩu trang đến nơi đông người

Về việc covid 19 khiến sinh viên không an tâm khi lên kế hoạch đi du lịch được khá nhiều bạn sinh viên đồng ý với điểm trung bình= 4,51 cao nhất trong những rủi ro được

Trang 10

đề cập Dịch covid diễn biến khá phức tạp, do đó không thể biết được dịch sẽ bùng khi nào, chính vì vậy việc lên kế hoạch đi du lịch có thể sẽ bị hoãn lại nếu dịch bệnh chưa được dập tắt hoàn toàn.

Các thôngg tin về dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến tâm lí đi du lịch của các bạn sinh viênvới điểm trung bình= 4,42 Các thông tin về dịch bệnh khiên tâm lí sinh viên lo lắng khi lên kế hoạch cho chuyến đi, việc cung cấp và theo dõi các nguồn thông tin chính xác rất quan trọng

Việc dịch bệnh covid 19 xảy ra ảnh hưởng rất nhiều đến tâm lí du khách, sự lo lắng về yếu tố an toàn dẫn đến việc khá e ngại khi đi du lịch trở lại bởi yếu tố an toàn là quan trọng nhất, với điểm trung bình= 4,40, các bạn sinh viên cũng rất đồng ý với yếu tố rủi

ro về vấn đề an toàn Do đó cần có các biện pháp đảm bảo việc đi du lịch sẽ diễn ra an toàn sau dịch covid -19

2.3 Niềm tin vào nhà nước

Trước tình hình dịch bệnh covid thì chính phủ đóng vai trò quan trọng trong việc đưa

ra các nguồn thông tin chính xác và đặc biệt là đưa ra các biện pháp phòng chống dịch

để người dân thực hiện

Bảng 2.6: Đánh giá sự tin tưởng của sinh viên về việc kiểm soát dịch của chính phủ

N

Điểmtrungbình

Độ lệchchuẩnChính phủ đã triển khai các biện pháp

Trang 11

Chính phủ đã thông tin rõ ràng, minh bạch

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Từ bảng thống kê có thể thấy rằng giá trị trung bình Mean rơi vào 4.37 đến 4.51, điều này có thể thấy rằng tầm quan trọng của nhà nước trong việc kiểm soát dịch covid-19 ảnh hưởng đến ý định hành vi đi du lịch của sinh viên, ở tất cả sinh viên được khảo sát,hầu hết mọi người đều đồng ý hoặc rất đồng ý trước những biện pháp của nhà nước, việc nhà nước thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng chống dịch giúp sinh viên an tâm

và tâm lí thoải mái hơn khi lựa chọn đi du lịch sau khi dịch covid đã được kiểm soát

Giá trị kiểm định Anova

Năm 1 (N=18)

Năm 2 (N=24)

Năm 3 (N=36)

Năm 4 (N=22 )

Trang 12

Sau khi dịch bệnh

được kiểm soát,

bạn tin việc đi du

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Để so sánh sự khác nhau về thái độ đi du lịch sau dịch covid giữa sinh viên các năm, tôi đã tiến hành sử dụng hình thức kiểm định Anova Theo số liệu từ bảng thống kê, có

100 sinh viên tham gia khảo sát, trong đó có 18 sinh viên năm nhất, 24 sinh viên năm

2, đối tượng nhiều nhất là sinh viên năm 3 với số lượng là 36, sinh viên năm 4 là 22 sinh viên

Có thể thấy rằng không có sự chênh lệch nhiều về thái độ của sinh viên các năm về việc đi du lịch sau khi dịch covid kết thúc Qua kết quả phân tích được, sinh viên các năm đều có mức độ lựa chọn từ 4 – 5 có nghĩa là từ đồng ý cho đế rất đồng ý về việc đi

du lịch vẫn là ý hay, các bạn sinh viên cảm thấy hào hứng và mong ước được đi du lịchtrở lại sau dịch covid 19, hầu hết mọi người đều mong muốn đi du lịch trở lại sau khi

đã trải qua một kì nghỉ dài Từ kết quả ANOVA giá trị F và giá trị sig đều lớn hơn

Trang 13

0,05, do đó có thể kết luận rằng không có sự khác biệt giữa sinh viên các năm về thái

độ đi du lịch sau dịch covid 19 Nhu cầu đi du lịch của sinh viên Tôn Đức Thắng sau khi dịch covid 19 kết thúc vẫn rất cao

2.5 Giới tính

Bảng 2.8: Mối quan hệ giữa giới tính và hình thức đi

du lịchHình thức đi du lịch

12,0% 9,0% 21,0%

53,0% 47,0% 100,0%

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Theo kết quả phân tích được có thể thấy rằng ở giới tính năm chọn hình thức du lịch tự túc là 41% trên tổng số người là 53 người, đối với giới tính nữ thì % lựa chọn tự túc là 38% trong khi số người lựa chọn trọn gói chỉ là 9% Bên cạnh đó khi phân tích mối quan hệ Chi bình phương thì giá trị sig=0,669 > 0.05 do đó việc lựa chọn hình thức đi

du lịch và giới tính không có mối quan hệ với nhau Có thể dễ dàng nhận thấy được rằng ở cả giới tính nam hay nữ thì phần lớn đều lựa chọn hình thức đi du lịch tự túc

2.6 Các chương trình ưu đãi

Bảng 2.9: Thống kê tần số lựa chon chương trình ưu đãi của sinh viên

Trang 14

Nguồn: Kết quả xử lí spss của tác giả

Theo như bảng tần số chúng tôi thu thập được thì có thể thấy rằng trong có 59% số

người được khảo sát có quan tâm và theo dõi đến các chương trình khuyến mãi của cáccông ty du lịch còn lại 41% không theo dõi các chương trình khuyến mãi này, có thể thấy rằng các chương trình khuyến mãi cũng có ảnh hưởng một phần đến sự lựa chọn các chương trình du lịch của sinh viên

Bảng 2.10: Mối quan hệ giữa giới tính và hình thức ưu đãi

Hình thức ưu đãi

Tổng

Giảmgiá

Khách sạn có xeđưa đón

Miễn phí vé máy bay khứ hồi

Phiếu quàtặng Khác

Trang 15

Qua kết quả phân tích của bảng, có thể thấy rằng ở giới tính nam lựa chọn hình thức giảm giá nhiều nhất là 53% và có sự chênh lệch không nhiều đối với hình thức khách sạn có xe đưa đón 47% và miễn phí vé máy bay khứ hồi 44% trong khi hình thức ưu đãi phiếu quà tặng chỉ chiếm 29% và các hình thức khác chiếm 6% Điều này cũng tương tự đối với giới tính nữ, sự lựa chọn nhiều nhất vẫn là hình thức giảm giá 47% kếtđến là khách sạn có xe đưa đón 36%, miễn phí vé máy bay khứ hồi là 29%, mặt khác hình thức phiếu quà tặng chỉ chiếm 14% và các hình thức khác là không đáng kể 2%

Có thể thấy rằng giữa giới tính nam và giới tính nữ không có sự khác biệt trong việc lựa chọn các hình thức ưu đãi, có sự tương đồng với nhau Việc áp dụng các hình thức giảm giá có thể thực tế hơn, góp phần giải quyết vấn đề tài chính của sinh viên, bên cạnh đó yếu tố khách sạn có xe đưa đón và vé máy bay khứ hồi giúp chuyến đi thuận tiện hơn, dựa vào thống kê trên giúp các doanh nghiệp có thể thiết kế những chương trình ưu đãi phù hợp với nhu cầu của các bạn sinh viên

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP

Dịch covid-19 đã gây ảnh hưởng ngiêm trọng đến ngành du lịch thế giới nói chung và

du lịch ở Việt Nam nói riêng Theo số liệu thống kê từ Tổng cục du lịch, từ khi dịch covid-19 bùng phát, Việt Nam phải đối mặt với những khủng hoảng trầm trọng, lượt khách quốc tế giảm 78,7%, đối với các địa phương có nguồn thu chính từ việc kinh doanh du lịch phải chịu thiệt hại nặng nề như Khánh Hoà giảm 81,5%; Quảng Nam 78,7%; Đà Nẵng 73,3%; Vũng Tàu giảm 64,3% so với cùng kì năm trước Với những phân tích số liệu trên từ việc khảo sát sinh viên Đại học Tôn Đức Thắng, dịch covid còn ảnh hưởng đến tâm lí sinh viên lo lắng về vấn đề an toàn khi đi du lịch trở lại, bên cạnh đó dịch bệnh ảnh đến kinh tế, làm giảm thu nhập, ảnh hưởng đến chất

Ngày đăng: 25/09/2021, 08:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w