CÁC TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ VỀ BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH THỰC VẬT TIÊU CHUẨN SỐ 9 HƯỚNG DẪN CHƯƠNG TRÌNH LOẠI TRỪ DỊCH HẠI 1998 Ban Thư ký Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vât ©Bộ Nông nghiệp v
Trang 1CÁC TIÊU CHUẨN QUỐC TẾ
VỀ BIỆN PHÁP KIỂM DỊCH THỰC VẬT
TIÊU CHUẨN SỐ 9
HƯỚNG DẪN CHƯƠNG TRÌNH LOẠI TRỪ DỊCH HẠI
(1998)
Ban Thư ký Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vât
©Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2012 (bản tiếng Việt)
©FAO, 1996 - 2012 (bản tiếng Anh) Bản tiếng Việt được dị ch bởi Cục Bảo vệ thực vật, Bộ Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn
Trang 2Lịch sử xuất bản
Đây không phải là phần chính thức của Tiêu chuẩn
1995-09 TC-RPPOs bổ sung thêm nội dung Loại trừ dịch hại (1995-001)
1996-05 CEPM-3 thêm Chương trình Lọai trừ dịch hại
1996- 12 EWG xây dựng dự thảo
1997-10 CEPM-4 chỉnh sửa dự thảo để gửi lên MC phê chuẩn
1998 gửi cho MC
1998-05 CEPM-5 soát xét để trình duyệt thông qua
1998-11 ICPM-1 thôn g qua các tiêu chuẩn
Trang 3Lịch sử xuất bản: Chỉnh sửa lần cuối tháng 8, 2011
Trang 4MỤC LỤC
Phạm vi áp dụng 6
Tài liệu viện dẫn 6
Thuật ngữ và định nghĩa 6
Khái quát yêu cầu 7
Yêu cầu chung đối với chương trình diệt trừ dịch hại 7
1 Thông tin chung và quy trình lập kế hoạch 8
1.1 Đánh giá các báo cáo về dịch hại 8
1.2 Kế hoạch dự phòng 8
1.3 Yêu cầu thông báo và chia sẻ thông tin 8
2 Quyết định thực hiện chương trình diệt trừ dịch hại 9
2.1 Khởi đầu ………9
2.2 Giám định…… 9
2.3 Đánh giá hiện trạng và tiềm năng phân bố dịch hại 9
2.3.1 Điều tra ban đầu 10
2.3.2 Điều tra diện phân bố 11
2.3.3 Dự đoán sự lan rộng 11
2.4 Tính khả thi của chương trình diệt trừ dịch hại 11
2.4.1 Thông tin sinh học và kinh tế 11
2.4.2 Phân tích hiệu quả chi phí của chương trình diệt trừ dịch hại 12
3 Quá trình loại trừ dịch hại 12
3.1 Thành lập nhóm quản lý 13
3.2 Thực hiện chương trình diệt trừ 13
3.2.1 Giám sát……… 13
3.2.2 Khoanh vùng… 14
3.2.3 Các biện pháp xử lý và phòng trừ dịch hại 14
3.3 Thẩm định việc diệt trừ dịch hại 15
3.4 Hồ sơ tài liệu 15
3.5 Công bố dịch hại bị diệt trừ 15
4 Soát xét chương trình 16
Trang 6Phạm vi áp dụng
Tiêu chuẩn này quy định nội dung chương trình diệt trừ dịch hại nhằm hình thành hoặc tái thiết vùng không nhiễm dịch hại
Tài liệu viện dẫn
• Công ước Quốc tế về Bảo vệ thực vật, FAO, Rome, 1997
• ISPM số 1 Các nguyên tắc KDTV liên quan đến thương mại quốc
tế, FAO, Rome, 2006
• ISPM số 2 Hướng dẫn phân tích nguy cơ dịch hại, FAO, Rome,
2007
• ISPM số 4 yêu cầu để thiết lập các vùng không nhiễm dịch hại,
FAO, Rome, 1996
• ISPM số 5 Thuật ngữ Kiểm dịch thực vật (KDTV), FAO, Rome
• ISPM số 6 Hướng dẫn giám sát dịch hại, FAO, Rome, 1998
• Tiêu chuẩn quốc tế (ISPM) số 8 Xác định tình trạng dịch hại trong một vùng, FAO, Rome, 1999
Thuật ngữ và đị nh nghĩa
Định nghĩa các thuật ngữ kiểm dịch thực vật (KDTV) được nêu tại ISPM 5
(Thuật ngữ và định nghĩa về kiểm dịch thực vật) Thuật ngữ và định nghĩa
dưới đây đã được phê chuẩn cho ISPM này nhưng lại được sửa đổi sau khi thông qua tiêu chuẩn Định nghĩa mới của thuật ngữ này không còn phù
hợp với ISPM trên tuy nhiên vẫn được giữ lại trong tiêu chuẩn cho đến khi được sửa đổi
Ổ dịch một quần thể dịch hại đơn lẻ, được phát hiện gần đây
và dự báo là sẽ tồn tại trong tương lai gần
Trang 7Khái quát yêu cầu
Chương trình diệt trừ dịch hại do NPPO xây dựng như:
• Biện pháp khẩn cấp nhằm ngăn chặn sự thiết lập quần thể và lan rộng của dịch hại mới du nhập (tái thiết lập vùng không nhiễm dịch hại PFA), hoặc
• Biện pháp nhằm loại trừ một loài dịch hại đã thiết lập quần thể (thiết lập PFA)
Sau khi điều tra sơ bộ bao gồm xem xét dữ liệu thu thập tại các địa điểm xuất hiên dịch hại, phạm vi nhiễm dịch, đặc tính sinh học, khả năng tác động về kinh tế, nguồn lực và công nghệ hiện có để diệt trừ dịch hại, cần tiến hành phân tích hiệu quả kinh tế của chương trình diệt trừ dịch hại Nếu
có thể, nên tập hợp thông tin liên quan đến nguồn gốc địa lý và con đường
du nhập của dịch hại Phân tích nguy cơ dịch hại (PRA) chính là cơ sở khoa học để quyết định các biện pháp KDTV (xem ISPM 2 :1995) Từ những nghiên cứu, các nhà quản lý chính sách cần có một số phương án lựa chọn Tuy nhiên, trong tình huống khẩn cấp, lợi ích đem lại từ việc nhanh chóng ngăn chặn sự lan rộng của dịch hại có thể lớn hơn nhiều so với lợi ích đạt được thông qua các biện pháp theo hệ thống đã vạch sẵn Quá trình diệt trừ bao gồm ba hoạt động chính: giám sát, khoanh vùng và
xử lý hoặc kiểm soát
Khi hoàn thành chương trình diệt trừ, cần phúc tra lại tình trạng không có mặt dịch hại Quy trình phúc tra nên sử dụng các tiêu chí đã được thiết lập khi bắt đầu chương trình, kèm theo báo cáo đầy đủ về kết quả hoạt động của chương trình Giai đoạn thẩm định gắn liền với nội dung chương trình,
có thể tiến hành phân tích độc lập nếu như đối tác thương mại đề nghị có
sự đảm bảo này NPPO có trách nhiệm công bố dịch hại đã được diệt trừ khi chương trình thành công Ngược lại, cần rà soát lại mọi khía cạnh của chương trình, kể cả hiệu quả kinh tế của chương trình và đặc điểm sinh học của dịch hại nếu có thông tin mới
Yêu cầu chung đối với chương trình diệt trừ dịch hại
Tiêu chuẩn này hướng dẫn xây dựng chương trình diệt trừ dịch hại và rà soát lại các quy trình diệt trừ hiện tại Trong hầu hết các trường hợp, dịch hại thuộc đối tượng của chương trình này là những loài mới xâm nhập vào trong vùng và cần phải áp dụng biện pháp diệt trừ Tuy nhiên, các chương trình diệt trừ cũng có thể
Trang 8nhằm vào các đối tượng là dịch hại ngoại lai đã thiết lập quần thể hoặc dịch hại bản địa có trên một diện tích nhất định
1 Thông tin chung và quy trình lập kế hoạch
1.1 Đánh giá các báo cáo về dịch hại
NPPO cần đánh giá hệ thống các báo cáo dịch hại và tác động của chúng
để xem xét có cần phải diệt trừ hay không Quá trình đánh giá bao gồm thông báo tới đầu mối chính thức và đánh giá của các chuyên gia về tầm quan trọng của dịch hại và các biện pháp khuyến nghị
1.2 Kế hoạch dự phòng
Đối với những dịch hại hoặc nhóm dịch hại có nhiều khả năng xâm nhập, cần xây dựng kế hoạch dự phòng để đối phó trước khi phát hiện thấy chúng trong vùng, với điều kiện là kế hoạch diệt trừ phải khả thi và cần thiết Việc xây dựng kế hoạch này có ưu điểm là bổ sung thêm thời gian cho quá trình xem xét, đánh giá và nghiên cứu nhằm đảm bảo chương trình diệt trừ được thiết kế phù hợp, thực hiện nhanh chóng và hiệu quả Trong trường hợp chương trình diệt trừ có sự phối hợp của nhiều bên thì
kế hoạch dự phòng càng có ý nghĩa hơn bởi nó cho phép các bên tham gia thống nhất nội dung hoạt động cụ thể trước khi triển khai chương trình Kinh nghiệm thu được từ các chương trình diệt trừ dịch hại trước đây có tác dụng lớn trong việc lập kế hoạch dự phòng cũng như đánh giá tính khả thi của chương trình diệt trừ Kế hoạch dự phòng còn giúp đảm bảo hành động nhanh chóng khi thực hiện các biện pháp diệt trừ khẩn cấp
Thực tế cho thấy đặc tính sinh học của dịch hại cũng như các biện pháp kỹ thuật diệt trừ dịch hại luôn luôn thay đổi Vì vậy, không phải tất cả các yếu
tố nêu trong tiêu chuẩn đều có giá trị đối với việc lập kế hoạch của mỗi chương trình diệt trừ dịch hại
1.3 Yêu cầu thông báo và chia sẻ thông tin
Theo nội dung IPPC, việc xác minh sự xuất hiện của một loài dịch hại mới
và có tiềm năng gây hại là bước đầu tiên của quy trình thông báo các yêu cầu cho NPPO (Điều VII.2 (j) và Điều VIII.1 (a) và VIII.1 (c)) và được thể
hiện trong ISPM số 8:1998
Trước khi thực hiện chương trình diệt trừ dịch hại, cần tiến hành công tác thông tin tuyên truyền cho công chúng như người dân và chính quyền địa
Trang 92 Quyết đị nh thực hiện chương trình diệt trừ dị ch hại
Quyết định triển khai chương trình diệt trừ dịch hại xuất phát từ kết quả phát hiện và giám định dịch hại, đánh giá nguy cơ, ước tính hiện trạng và tiềm năng phân bố dịch hại cũng như đánh giá tính khả thi chương trình diệt trừ dịch hại Về cơ bản, đây là phương thức tốt cho phép cân nhắc thấu đáo mọi yếu tố liên quan Tuy nhiên, phương pháp này ít được sử dụng trong thực tế do không đủ số liệu và nguồn lực Đặc biệt, trong trường hợp khẩn cấp phải diệt trừ sớm (ví dụ: dịch hại mới xâm nhập và có khả năng lan rộng nhanh) thì việc hành động nhanh chóng là cần thiết và mang lại lợi ích lớn hơn so với việc phân tích và lập kế hoạch chi tiết
2.1 Khởi đầu
Chương trình diệt trừ dịch hại có thể bắt đầu từ việc phát hiện ra một loài dịch hại mới nhờ quá trình điều tra cụ thể hoặc giám sát tổng thể (xem ISPM số 6:1997) Trong trường hợp dịch hại đã thiết lập được quần thể, chương trình diệt trừ sẽ bắt đầu bằng việc xem xét chính sách (ví dụ: quy định áp dụng để thiết lập PFA)
2.2 Giám định
Giám định chính xác dịch hại là cơ sở để chọn lựa các biện pháp diệt trừ dịch hại thích hợp NPPO cần tiến hành quy trình giám định một cách chặt chẽ nhằm đảm bảo đứng vững trước những ý kiến khiếu nại về khoa học
và pháp lý có thể nảy sinh Vì vậy kết quả giám định nên có sự xác nhận của các chuyên gia độc lập
Có thể khẳng định nhanh chóng kết quả giám định trong trường hợp dịch hại được NPPO nhận dạng dễ dàng
Có nhiều phương pháp giám định từ đơn giản như dựa vào đặc điểm hình thái, đến phức tạp như phân tích sinh học, hoá học và di truyền Phương pháp giám định do NPPO quyết định sẽ tuỳ thuộc vào loại sinh vật và biện pháp giám định phổ biến nhất
Trong trường hợp không có ngay kết luận giám định, thì việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch có thể dựa trên các yếu tố khác như mức độ gây hại đối với cây ký chủ Khi đó, cần bảo quản mẫu dịch hại để phân tích sau này
2.3 Đánh giá hiện trạng và tiềm năng phân bố dịch hại
Việc đánh giá hiện trạng phân bố của dịch hại là cần thiết ngay cả với dịch hại đã thiết lập quần thể và dịch hại mới du nhập Thông thường, đánh giá
Trang 10tiềm năng phân bố có ý nghĩa quan trọng hơn với các dịch hại mới nhưng cũng có tác dụng nhất định đối với những dịch hại đã thiết lập quần thể Các số liệu của điều tra ban đầu trên dịch hại mới không cần chi tiết như đối với chương trình đánh giá dịch hại đã thiết lập quần thể
2.3.1 Điều tra ban đầu
Cần tập hợp và rà soát dữ liệu về việc phát hiện dịch hại mới, nguồn gốc địa lý và đường lan truyền của dịch hại Thông tin này không chỉ hữu ích cho việc đề ra các biện pháp liên quan đến việc diệt trừ dịch hại, mà còn có tác dụng xác định và khắc phục các điểm yếu trong hệ thống phòng trừ dịch hại mà qua đó dịch hại có thể xâm nhập
2.3.1.1 Dữ liệu tập hợp tại địa điểm phát hiện hoặc xuất hiện dịch hại
Thu thập thông tin về dịch hại và các điều kiện tại nơi phát hiện hoặc xuất hiện dịch hại, bao gồm:
• Vị trí địa lý;
• Địa điểm ký chủ bị nhiễm dịch;
• Phạm vi, tác động và mức độ phổ biến của dịch hại;
• Cách thức dịch hại được phát hiện và giám định;
• Thực vật và sản phẩm thực vật nhập khẩu gần đây;
• Lịch sử của dịch hại tại địa điểm phát hiện;
• Di chuyển của người, hàng hóa, thiết bị và phương tiện;
• Cơ chế lan truyền trong vùng;
• Điều kiện khí hậu và đất đai;
• Điều kiện của thực vật nhiễm dịch;
• Tập quán canh tác
2.3.1.2 Nguồn gốc địa lý
Trong điều kiện có thể, cần thu thập thông tin về quốc gia hoặc vùng có khả năng là nơi xuất xứ của dịch hại Khi tìm hiểu nguồn gốc và đường lan truyền, nên chú ý xem xét cả thông tin về quốc gia tái xuất hoặc quá cảnh hàng hóa
Trang 11Trong điều kiện có thể, NPPO cần xác định đường lan truyền mà dịch hại
có thể xâm nhập và lan rộng để đảm bảo ngăn chặn không cho dịch hại tiếp tục xâm nhập và xác định các biện pháp phòng trừ Thông tin về đường lan truyền bao gồm xác định hàng hóa hoặc vật thể có khả năng mang dịch hại cũng như các phương thức vận chuyển Trong trường hợp dịch hại có khả năng liên quan đến thực vật hoặc sản phẩm thực vật mới nhập khẩu, cần xác định và kiểm tra cả những vật thể này
2.3.2 Điều tra diện phân bố
Cần thu thập thông tin sơ bộ để đánh giá xem có cần điều tra hay không Các hình thức điều tra bao gồm:
• Điều tra khoanh vùng tại mỗi ổ dịch;
• Điều tra trên cơ sở nghiên cứu về đường lan truyền;
• Điều tra có mục tiêu khác
Các cuộc điều tra này cần được thiết kế và thực hiện sao cho đảm bảo số liệu thống kê có độ tin cậy cần thiết để kết quả đưa ra có ý nghĩa đối với công tác quản lý
Trong trường hợp dữ liệu điều tra là cơ sở cung cấp bằng chứng cho việc thiết lập PFA với mục đích xuất khẩu, cần thảo luận với đối tác thương mại
để thống nhất số lượng và chất lượng dữ liệu cần thiết để đáp ứng các yêu cầu KDTV
2.3.3 Dự đoán sự lan rộng
Dữ liệu thu thập từ điều tra sơ bộ sẽ được sử dụng để đánh giá khả năng lan rộng, ước tính tốc độ lan rộng và xác định những vùng có nguy cơ
2.4 Tính khả thi của chương trình diệt trừ dịch hại
Để đánh giá tính khả thi của chương trình diệt trừ dịch hại, cần đánh giá tác động và mức độ nhiễm dịch, khả năng và tốc độ lan rộng của dịch hại (xem ISPM số 2:1995) Cần xem xét cả các phương án diệt trừ và yếu tố hiệu quả kinh tế
2.4.1 Thông tin sinh học và kinh tế
Cần thu thập những thông tin về:
• Đặc điểm sinh học của dịch hại;
Trang 12• Ký chủ tiềm tàng;
• Khả năng và tốc độ lan rộng dự tính;
• Chiến lược diệt trừ dịch hại:
o Chi phí tài chính và nguồn lực;
o Công nghệ, kỹ thuật diệt trừ;
o Khó khăn về hoạt động và hậu cần
• Tác động đến ngành sản xuất và môi trường:
o Trong trường hợp không diệt trừ;
o Với mỗi phương án diệt trừ xác định
2.4.2 Phân tích hiệu quả chi phí của chương trình diệt trừ dịch hại
Trước hết, cần lên danh mục các biện pháp kỹ thuật diệt trừ dịch hại có tính khả thi nhất Ước tính tổng chi phí và tỉ suất chi phí - lợi ích cho mỗi chiến lược nên được xét trên khía cạnh dài hạn và ngắn hạn Cần xem xét đến cả phương án không can thiệp, phương án quản lý dịch hại cũng như phương án diệt trừ dịch hại
Cần trình bày và thảo luận tất cả những phương án khả thi với các nhà hoạch định chính sách, trong đó dự kiến cụ thể những thuận lợi và khó khăn, phân tích hiệu quả chi phí Có thể đưa ra một hoặc một số phương
án để lựa chọn quyết định cuối cùng trên cơ sở xem xét các giải pháp kỹ thuật, hiệu quả chi phí, nguồn lực sẵn có và các yếu tố chính trị - kinh tế -
xã hội
3 Quá trình diệt trừ dị ch hại
Quá trình diệt trừ dịch hại đòi hỏi phải thành lập một nhóm quản lý, sau đó thực hiện chương trình diệt trừ dịch hại theo kế hoạch đã vạch ra Ba hoạt động chính của chương trình đó là:
• Giám sát: điều tra đầy đủ phân bố của dịch hại;
• Khoanh vùng: ngăn chặn dịch hại lây lan;
• Xử lý: diệt trừ khi phát hiện thấy dịch hại
Cơ quan quản lý (thông thường là NPPO) chịu trách nhiệm chỉ đạo và điều
Trang 13cũng như quản lý hồ sơ tài liệu về quy trình kiểm soát để cung cấp kết quả NPPO cần thảo luận với các đối tác thương mại về một số nội dung của quy trình diệt trừ dịch hại
3.1 Thành lập nhóm quản lý
Khi có quyết định thực hiện chương trình diệt trừ, cần thành lập nhóm quản
lý để chỉ đạo và điều phối các hoạt động Quy mô nhóm quản lý tuỳ thuộc vào phạm vi chương trình và nguồn lực của NPPO Các chương trình lớn đòi hỏi phải thành lập ban chỉ đạo hoặc nhóm tư vấn gồm đại diện của các nhóm bị ảnh hưởng lợi ích Khi chương trình thực hiện ở nhiều quốc gia thì cần xem xét thành lập ban chỉ đạo cấp vùng
Nhóm quản lý có tránh nhiệm:
• Đảm bảo chương trình thỏa mãn các tiêu chí đạt hiệu quả diệt trừ dịch hại;
• Xây dựng, thực hiện và điều chỉnh kế hoạch diệt trừ dịch hại khi cần thiết;
• Đảm bảo những người thực hiện chương trình có đủ thẩm quyền
và trình độ để đảm nhiệm công việc;
• Quản lý tài chính và nguồn lực;
• Đề xuất và quy định nhiệm vụ cho những người thực hiện, đảm bảo phân định cụ thể tránh nhiệm;
• Quản lý công tác truyền thông, kể cả chương trình quan hệ công chúng;
• Duy trì mối liên hệ với các bên bị ảnh hưởng như nông dân, doanh nghiệp, các cơ quan Chính phủ và tổ chức phi Chính phủ;
• Triển khai hệ thống quản lý thông tin bao gồm các tài liệu chương trình và hồ sơ lưu trữ;
• Quản lý hoạt động hằng ngày của chương trình;
• Liên tục giám sát và đánh giá các nội dung cơ bản;
• Định kỳ rà soát tổng thể chương trình
3.2 Thực hiện chương trình diệt trừ
3.2.1 Giám sát