E.R.Rêmizôva đã gắn kết các môn học nhập môn của VKHUTEMAS và Bauhaus với các phương pháp tạo khối trong các bài tập bố cục [ ]164 khi cố gắng chứng minh rằng ở thời đại chúng ta đã hình
Trang 1Đ.L MÊLÔĐINSKI
KIẾN TRÚC NHẬP MÔN
NGƯỜI HIỆU ĐÍNH: PGS.TS NGÔ THU THANH
EĐITÔRIAL URSS * MOXKVA * 2000
Trang 2MELÔĐINSKI Đ.L KIẾN TRÚC NHẬP MÔN
(LỊCH SỬ, LÝ THUYẾT, THỰC HÀNH) M: EĐITÔRIAL URSS, 2000
Lần đầu tiên bức tranh tổng thể về quá trình phát triển và giai đoạn hiện nay của kiến trúc nhập môn được giới thiệu là cơ sở mang tính nghề nghiệp trong sáng tạo kiến trúc, phù hợp với thực tế của thế kỷ XX Nêu lên lịch sử hình thành môn học, làm rõ nội dung khái niệm phương pháp luận của môn học này Chỉ rõ đóng góp xuất sắc của trường phái Nga: Ladôvski - Krinski trong việc hình thành cơ sở bố cục kiến trúc và ảnh hưởng của nó đến văn hoá nghệ thuật hiện đại Khái quát kinh nghiệm phương pháp thực hành bố cục ở trong nước và
ở nước ngoài, giải quyết những bài tập về hình khối, xử lý mối quan hệ giữa bố cục hình khối - không gian với học thiết kế kiến trúc Sách được sử dụng cho các giảng viên và sinh viên các trường đại học và khoa kiến trúc, các trường có đào tạo nghệ thuật, cho các giáo viên tại các xưởng luyện cho học sinh trước khi vào trường đại học
Những người nhận xét đánh giá:
Viện Nghiên cứu Lý thuyết Kiến trúc và Quy hoạch Đô thị (NIITAG): Viện sĩ RAASN, tiến sĩ nghiên cứu nghệ thuật S.O.Khan - Magômeđôv, cố vấn RAASN, phó tiến sĩ kiến trúc Iu.P.Vôltrôk
MARKHI: Viện sĩ thông tấn RAASN, giáo sư A.V Stênanôv, giáo sư, Phó tiến sĩ kiến trúc G.Iu.Orôv
Bản viết tay đã đệ trình Bộ Giáo dục và Đào tạo CHLB Nga thông qua
Trình bày, mô hình, sửa bản in thử - Đ.Melôđinski
Lời chú được trình bày trong hiệu đính của tác giả
ISBN5 - 8360 - 0012 - 3 © Đ.L.Melôđinski, 2000
© Eđitorial URSS, 2000
Trang 3MỤC LỤC
1.3 Cuộc tranh luận về đổi mới đào tạo nghệ thuật - kiến trúc ở Pháp do sự tiến
1.4 Những xu hướng mới trong các trường mỹ thuật công nghiệp ở phương
1.5 Những nguồn gốc và nguyên nhân khủng hoảng đào tạo nghệ thuật - kiến
Chương 2: Khái niệm nhập môn trong chương trình giảng dậy nghệ thuật ở
2.1 Chương trình giáo dục nghệ thuật của Grôpius, được thực hiện ở Bauhaus 62
2.4 Đóng góp của Albers trong việc hình thành bài giảng nhập môn ở Bauhaus 77 2.5 Vai trò của Bauhaus trong phát triển ý tưởng nhập môn nghệ thuật 80
3.1 Vai trò của VKHUTEMAS trong việc hình thành trường nghệ thuật mới
Chương 4: Sự phát triển các ý tưởng về kiến trúc nhập môn tại các trường
4.1 Những đặc điểm của tài liệu thông tin về kinh nghiệm của nước ngoài
Trang 44.3 Các bài giảng bố cục ở các trường kiến trúc của Bỉ, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển,
4.4 Các trường đại học ở Đức (Các bài giảng của Lederbogien, Rimer, Iust, Kiun 134 4.5 Các bài tập bố cục đặc sắc tại các trường khác nhau ở nước ngoài 140 4.6 Những xu hướng chung hình thành kiến trúc nhập môn ở các trường học
5.1 Hoàn cảnh khôi phục bài giảng nhập môn ở MARKHI đầu những năm 60 147 5.2 Vai trò của Krinski trong luận cứ lý thuyết và đảm bảo phương pháp tổ
5.3 Phát triển ý tưởng phương pháp giảng dậy khoa học của trường phái nhập
5.4 Kiến trúc nhập môn trong các trường kiến trúc ở các khu vực của nước Nga 163
6.2 Ngôn ngữ kiến trúc là phương tiện hoạt động thiết kế kiến trúc 179
6.5 Vai trò của yếu tố không gian trong việc thay đổi các nguyên tắc tạo hình của bố cục 199
7.1 Kiến trúc nhập môn dưới ánh sáng của các nguyên tắc giảng dậy hiện đại 228 7.2 Vai trò của các hình mẫu trực quan trong chuyển tải kinh nghiệm bố
Chương 8: Kiến trúc nhập môn và học thiết kế
8.1 Mối liên hệ giữa BHK với thiết kế kiến trúc là vấn đề phương pháp giảng 262
Trang 5dậy
8.2 Kinh nghiệm của bộ môn Cơ sở Thiết kế Kiến trúc của MARKHI trong
8.3 Các ví dụ về giải pháp thực tế cho vấn đề “tiếp nối” BHK với thiết kế kiến trúc trong chương trìng của các tác giả A.Kôrôtrôvski, S.Malakhôv, E.Prônhin, N.Kôstrikin, A.Đembitr v.v…
276
Chương 9: Vấn đề giáo dục nghệ thuật trước khi vào đại học dưới ánh sáng
9.1 Những thiếu xót của việc giáo dục nghệ thuật truyền thống trước khi vào
9.2 Giáo dục văn hoá quan sát bằng thị giác - yêu cầu chính của việc giáo dục
9.3 Các thành phần của kiến trúc nhập môn trong giáo dục nghệ thuật trước khi
9.4 Các chương trình giáo dục nghệ thuật trước khi vào trường đại học của các tác giả có định hướng kiến trúc nhập môn (EĐAS, START, trường giành cho kiến trúc sư thiếu niên ở Êkatêrinburg)
294
9.5 Vấn đề trắc nghiệm năng lực nghệ thuật của thí sinh thi vào các trường kiến trúc 301
Chương 10: Tác động của các phương tiện kiến trúc nhập môn đến quá trình
10.1 Các phương tiện và phương pháp về kiến trúc nhập môn với tư cách là
10.2 Các thử nghiệm về hình thức của đội ngũ tiên phong trong kiến trúc Xô Viết 313
11.1 Nội dung và cơ sở nghệ thuật chuyên ngành của kiến trúc liệu có thay đổi
11.2 Liệu các khuynh hướng sáng tạo mới trong kiến trúc có làm thay đổi hệ
11.3 Liệu sự đe doạ của chủ nghĩa hình thức có bắt nguồn từ kiến trúc nhập
Trang 6Kết luận 343
Tài liệu tham khảo
Các bảng biểu và minh hoạ
Năm 1999 Trường Đại học Kiến trúc Moskva tròn 250 năm.Trong những năm tháng giàu truyền thống Trường luôn đứng tiên phong trong phát triển ý tưởng giáo dục nghệ thuật sáng tạo, có ảnh hưởng đến nhiều trường đại học đào tạo kiến trúc sư và hoạ sĩ ngành trang trí Trong khoảng phần lớn thời gian của thế kỷ XX lĩnh vực tạo hình kiến trúc - lĩnh vực thuộc trường phái mới trong tạo khối và bố cục phù hợp với thực tế thời đại, là một trong những định hướng quan trọng mà những người kế tục truyền thống tốt đẹp nhất là VKHUTEMAS và sau đó là Trường Đại học Kiến trúc Moskva, đã thể hiện đặc biệt hiệu quả
Tác giả xin hiến dâng quyển sách này cho Trường Đại học Kiến trúc Moskva với mong muốn củng cố di sản nghệ thuật sư phạm mà Trường Đại học hàng đầu của nước Nga có quyền thừa hưởng
Tác giả
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
Quyển sách này nói về tài sản văn hoá nghệ thuật của thế kỷ XX đã được
công nhận - đó là kiến trúc nhập môn Phải chăng trong ý nghĩa xuất phát của nó
nhập môn là giai đoạn đầu của việc học tập, phản ánh một phần rất hẹp nội dung khoa học chỉ liên quan đến giáo dục cả không chứa đựng sự đánh giá tương ứng Nhưng trong mối liên quan đến lĩnh vực rộng lớn và quan trọng như vậy, hoạt động của kiến trúc là gì, vị trí đang thay đổi cơ bản như thế nào Kiến trúc và hoạt động của kiến trúc tịu trung là một trong những điều kiện tồn tại của con người trên trái đất và là phần quan trọng nhất của văn hoá nghệ thuật, tiền đề tái sản xuất hình thái của mình và chuyển chúng vào quá trình lịch sử
Suốt chiều dài nhiều thế kỷ, trong kiến trúc đã hình thành các giải pháp ổn định về tạo khối và hình dáng dưới dạng các phong cách truyền thống và định hướng phù hợp với nhận thức giáo dục về kiến trúc, từ đó hình thành thực tiễn việc đào tạo các thế hệ mới những người thiết kế Tuy nhiên thế kỷ 20 đã có bước ngoặt tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và những thay đổi chung của xã hội đã làm tổn hại đến các nguyên tắc thẩm mỹ nghệ thuật được lựa chọn
từ nhiều thế kỷ trước bao gồm văn hoá cổ điển, trung cổ, cận đại và các định hướng phong cách của thế kỷ XIX Bắt đầu hình thành về nguyên tắc nền kiến trúc khác - kiến trúc của thời đại có tính đến những trạng thái biến đổi
Bởi vì cốt lõi của nghề kiến trúc tập trung ở nhập môn, là cơ sở việc học tập, nó rơi vào sự chồng chéo với thực hành sáng tạo tiến bộ đang tìm kiếm những nguyên tắc mới cho tạo hình khối và những phương pháp học tập chuyên ngành hướng đến nội dung đổi mới Như vậy kiến trúc nhập môn xuất hiện và hình thành như là lĩnh vực nhận thức về kiến trúc trong những điều kiện phá vỡ các tiêu chuẩn mà trước hết là do kinh nghiệm của chủ nghĩa cổ điển và chủ nghĩa kinh viện đem đến - đó là một hướng và hoạt động phân tích - thực nghiệm tích cực liên hệ với những tìm tòi các nguyên tắc mới về tạo khối - đó là
Trang 9hướng thứ hai Vì vậy nhập môn đã vượt ra khỏi giới hạn những mục đích giáo dục và bằng cách này hay cách khác đã trở thành trung tâm của các yếu tố nghề nghiệp kiến trúc thế kỷ qua, để lại sự đóng góp quý báu nhất về mặt nghệ thuật
và ít nhiều góp phần xác định các xu hướng trong tương lai
Viễn cảnh phát triển kiến trúc ở thế kỷ XXI cần đáp ứng các nhu cầu về mặt nội dung tinh thần và vật chất cao của xã hội văn minh, đồng thời phụ thuộc trực tiếp vào trình độ nghề nghiệp của các kiến trúc sư tương lai Kiến trúc nhập môn vì vậy nằm trong lĩnh vực trách nhiệm vĩ đại nhất bởi vì nó đặt cơ sở để từ
đó toàn bộ kho tàng kiến thức và hiểu biết về nghề nghiệp được vun đắp, kho tàng này cần thiết cho từng kiến trúc sư khi hành nghề Đấy vì sao cần đảm bảo
về mặt lí thuyết phương pháp giáo dục cho môn học quan trọng nhất, nghĩa là môn học cốt tủ ở một trường kiến trúc trình độ cao
Mặc dù các nhân tố thực dụng - thực hành rất quan trọng trong xử lý các nhiệm vụ thiết kế kiến trúc, nhưng trong học tập chúng luôn dễ dàng thoát ra khỏi sự hiểu biết thấu đáo bởi vì các yếu tố này dựa trên kinh nghiệm trong khi làm việc và được gọi là những hiểu biết khách quan và đồng nghĩa với việc hình thành những phương pháp khoa học Trong phần nghệ thuật vẫn có nhiều vấn đề phức tập và không thể xác định được bởi vì ở đây còn có tác động của những yếu tố chủ quan lôi cuốn vào những vấn đề không đơn giản mang tính cá thể riêng và việc hoà nhập tính cá thể vào nền văn hoá chung của xã hội Tuy nhiên
cơ cấu bên trong của những tác động như vậy rất không rõ ràng không những đối với khái niệm bình thường mà cả đối với những người hoạt động sáng tạo được đào tạo tốt về nghề nghiệp Điều này đặc biệt rõ ràng khi quan sát những người mới vào trường đại học kiến trúc khi họ được làm quen với môn học kiến trúc
Rất nhiều cuộc thực nghiệm, phân tích các đồ án đầu tiên của sinh viên, các bài làm của học sinh phổ thông trong các cuộc thi Ôlimpix đã chứng minh:
Trang 10hình Ngôn ngữ phức tạp của hình khối - không gian, bản chất đặc biệt hấp dẫn
có tính liên tưởng của nó vẫn còn ẩn giấu đối với những người mới vào nghề Trong vấn đề này những thiếu sót trong việc giáo dục thẩm mỹ sớm cho học sinh không đóng vai trò quyết định bởi vì toàn bộ nền văn hoá nghệ thuật dựa trên trực quan được quen dần qua từ gọi là “IZO” nghĩa là phạm vi chủ yếu của các nghệ thuật mang tính đại chúng: Âm nhạc, vẽ hình, hội hoạ, nhà hát, văn học
- nói chung người học cảm nhận được “những màu khởi điểm của bảng màu”, nhưng đối với kiến trúc không hề có điều này
Sư phạm kiến trúc đứng trước vấn đề khó khăn nhất lôi cuốn mạnh người học vào thế giới nghệ thuật của kiến trúc, từ những khái niệm sai lầm thường nhật được chuyển tải vào môi trường nghề nghiệp đến những từ ngữ có tính địa phương hoặc phường hội cũng như các phương tiện hoạt động rất hạn hẹp
Cần làm rõ vấn đề hoàn cảnh thúc đẩy việc bắt tay vào công việc hiện tại Tồn tại ý kiến cho rằng bàn luận nói chung không có ý nghĩa gì: và thế là tất cả gần như đã rõ ràng Còn tất cả các triết lý, lý thuyết chỉ làm cho công việc rắc rối Sự nhạy bén về nghệ thuật và trực giác, tất cả được phân bố tuỳ theo vị trí của chúng Bác bỏ quan điểm này đặc biệt khó, bởi vì không thể đẩy nó ra khỏi trạng thái suy nghĩ, cách lập luận nghiêm chỉnh bằng giải pháp tranh cãi Đơn giản là không thể giả định những ý kiến chống lại
Tuy nhiên kinh nghiệm chỉ ra rằng chủ nghĩa chủ quan như thế đã làm mất
đi vị trí của mình Trường học đại chúng và những quyền lợi chung của nhà nước đã dự đoán trước được hậu quả, đồng thời phương pháp luận như vậy cũng không thể đảm bảo kết quả Ở thời đại chúng ta việc công nhận phương pháp sư phạm là một khoa học trí năng phát triển đã trở thành yếu tố khách quan
Lịch sử hình thành và phát triển của kiến trúc nhập môn và phương pháp học tập thiết kế kiến trúc nói chung, các phương pháp thâm nhập vào nghề nghiệp trình độ cao đã trở thành diễn đàn của những cuộc thảo luận và tranh cãi nóng bỏng Kết quả của những tìm tòi khoa học, việc dựa trên các số liệu khách
Trang 11quan, căn cứ không chỉ vào đối tượng kiến trúc mà cả vào tất cả các môn học có mối liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với kiến trúc nhập môn đã trở thành luận
cứ trong các cuộc tranh cãi như vậy Trong thời gian gần đây nhận thấy vấn đề
đã đi vào các tầng lớp trên, đại diện cho giới triết học, phương pháp giảng dạy, văn hoá - xã hội Ngành kiến trúc dự định rọi các tia sáng mạnh mẽ hướng ra thế giới bên ngoài Trước đây nhiều vấn đề được giải quyết trong ngành kiến trúc và chỉ cho những kết quả mang tính chuyên ngành hạn hẹp, cục bộ Những cách làm chung này được vận dụng khi xảy ra tình thế biến động, các phương pháp trước đó không thể giúp cho việc nhìn thấy thậm chí viễn cảnh trước mắt, tuy nhiên cảm nhận về những biến đổi trong tương lai không gây nên những hoài nghi Kiến trúc nhập môn nảy sinh và hình thành chính là trong các điều kiện như vậy và tương lai của nó cũng phụ thuộc vào cách giải quyết những khái niệm có tính nguyên tắc chung là sự phát triển của kiến trúc sẽ trải qua con đường nào trong thời đại tiến bộ mạnh mẽ của khoa học xây dựng và văn hoá Như thế nhập môn là ngôn ngữ chìa khoá được đưa vào tên của cuốn sách này và là chủ đề chính của nội dung cuốn sách
Trong văn phong kiến trúc khái niệm trở nên khác nhau vào khoảng từ những năm 60 của thế kỷ XX Trong thời gian ngự trị của các Viện hàn lâm nghệ thuật thế kỷ trước chúng ta không gặp phải điều này Trong thời kỳ hoạt động của Bauhaus khái niệm nhập môn đã thấy trong các tác phẩm khi thảo luận
về cải cách giáo dục nghệ thuật (V.Gropius và những người khác) Ở INKHUK
và VKHUTEMAS thì tốn công sức vào các định nghĩa và từ ngữ khác Khái niệm đã được tiếp nhận từ lĩnh vực quen thuộc - Đizai Ở nước ta đây là thời gian hình thành mạnh mẽ cấu trúc nghệ thuật với hình khối hiện đại, triển khai thực tiễn sâu rộng và tạo lập được việc giáo dục nghệ thuật phù hợp với chuyên ngành Trình độ lý thuyết - phương pháp giáo dục đảm bảo hợp lý về mặt khoa học của đizai thời hiện đại là rất cao và không thể phủ nhận đã góp phần tác
Trang 12ham hiểu biết, có tinh thần chủ động, khát khao tìm tòi một cách sáng tạo, khoa học và thực tiễn nhưng lại không có được sự hiểu thấu họ trong các cơ quan hoạt động kiến trúc, đứng đầu là những người thi hành đường lối tư tưởng bảo thủ, ủng hộ quan niệm truyền thống về kiến trúc
Để trong tương lai loại bỏ những dị bản, cần làm chính xác chính khái niệm “Nhập môn” Trong đó cần phân biệt ý nghĩa sư phạm va ý nghĩa - triết học Trong từ điển Bách Khoa về triết học (năm 1989) định nghĩa như sau:
“Bước đầu của việc học, đào tạo; những bài học chuẩn bị; nhập môn khoa học Nhập môn theo Platôn - những bài học chuẩn bị cho việc nghiên cứu phép biện chứng Là một thể loại văn phẩm triết học, nhập môn - tài liệu vào đề, cơ bản, hệ thống hoá và trình bày bài học một cách ngắn gọn (thí dụ, “Triết” “Nhập môn”
do Hêgel viết cho các học sinh trung học ở TP Nuremberge) Trong tài liệu sư phạm, nhập môn có nghĩa là bất kỳ việc học bước đầu nào cũng không đơn giản, ngược lại có sự hạn chế đáng kể Nó bắt buộc phải đưa ra cách trình bày sự vật một cách có hệ thống dưới dạng cô đọng và cơ bản, đem đến sự hiểu biết về nhập môn một cách đầy đủ Khái niệm được sử dụng rộng rãi đối với các trường trung học trong hệ thống giáo dục của xã hội Như thế theo hệ thống nhập môn, việc dạy vật lý được tổ chức theo 2 giai đoạn, giai đoạn đầu - nhập môn cho học sinh đến lớp 5 -6, cung cấp những khái niệm cơ bản và bức tranh toàn cảnh về thế giới Sau đó trên cơ sở này bước thứ hai tiến hành khoá học cơ bản Như vậy
ý nghĩa của nhập môn được làm rõ là việc mở đầu cho sự hiểu biết nào đấy Nhưng có thể nào nói về nhập môn theo lối liên hệ với việc học truyền thống nghề thủ công và được coi là cơ sở có tính phản xạ đối với kinh nghiệm hoạt động? Chắc là không Trong quá trình này điều chủ yếu nằm trong việc tiếp nhận các hoạt động theo tuần tự bề ngoài như vậy không có hình thức thống nhất và cũng không có nguyên tắc trong giải quyết các hạng mục nhiệm vụ nhất định nào Nguyên tắc này chỉ có thể được phân ra giai đoạn sau khi làm quen với hàng loạt các ví dụ cụ thể Còn việc rút ra nguyên tắc chung đánh dấu việc
Trang 13chuyển sang trìu tượng hoá, nghĩa là hoạt động lý thuyết Tổng hợp hoạt động lý thuyết, chuyển nó thành chuyên môn hoá có nghĩa là tự khẳng định vai trò khoa học mà mục đích là đạt được sự hiểu biết Như vậy xuất hiện với những khái niệm là hình thức đặc biệt và phương pháp giảng dạy một môn khoa học bằng giải pháp nhất định, tổng hợp những kiến thức được sử dụng như là giai đoạn thứ nhất, bước đầu làm quen với đối tượng trong toàn bộ hệ thống giảng dậy Nói về phương pháp nhập môn ở các viện hàn lâm, các trường nghệ thuật, nơi
mà kinh nghiệm nghệ thuật được kế thừa giống như sự sáng tạo thủ công được duy trì và phương pháp học tập thể hiện chủ yếu bằng việc phô bày các hình mẫu hoạt động theo nguyên tắc “ Hành động theo tôi”, “Hãy tuân theo sự chỉ đạo, phác hoạ và chỉ dẫn của tôi” - không phù hợp
Trong các tác phẩm của các nhà phương pháp luận sư phạm kiến trúc , nhập môn thường bị giới hạn bởi nghĩa chính xác Trong đó vấn đề các giải pháp
và phương thức bố cục hình khối - không gian (BHK) được đặt vào vị trí cơ sở nghề nghiệp của nghệ thuật kiến trúc và phương pháp luận thiết kế kiến trúc thuộc giai đoạn đầu của việc học tập Như viện sĩ kiến trúc A.V.Stepanôv đã viết: “Cần nhấn mạnh rằng khái niệm “bố cục hình khối - không gian” theo nội dung của từ này đã là khái niệm “bố cục kiến trúc” Bố cục Kiến trúc bao gồm lời giải đáp về nghệ thuật - gợi cảm đối với toàn bộ các yếu tố - xã hội, công năng, kinh tế, kết cấu v.v… Các mục tiêu của bố cục hình khối - không gian khá khiêm tốn - nó được dựa trên đặc điểm tiếp nhận bằng thị giác của con người và những dữ liệu về tâm sinh lý đã được nghiên cứu và khám phá, nghĩa
là trên cơ sở những biến đổi về lượng của các hình khối không gian và sự kết hợp giữa chúng với nhau (độ lớn, trọng lượng, khối lượng, vị trí không gian, tỉ lệ v.v…) để có thể thu nhận được bố cục - hình khối - không gian đầy xúc cảm - lôi cuốn và thoả mãn nội dung đã xác định.[180 tr , 7]
Tuy nhiên ở một phương án khác, kiến trúc nhập môn được nhìn nhận (và
Trang 14(trường phái Lađôvski) hoặc về đại thể với tư cách là công cụ nền tảng sáng tạo trong nghiên cứu phong cách kiến trúc thời đại mới Trong trường hợp như vậy kiến trúc nhập môn được xác định là toàn bộ kho tàng các phương tiện bố cục nghệ thuật có thể sử dụng ở mức độ là khái niệm văn hoá - xã hội và những đánh giá nó
S.O.Khan - Magômeđôv viết - phương pháp phân tích tâm lý của Lađovskia không đúng ở mức độ nào đó đối với những cơ sở hình thành môn học tạo hình “không gian” Kết quả là không đánh giá hết toàn bộ quan niệm của phương pháp này - phương pháp thực chất được coi là bộ khung của chủ nghĩa hợp lý hoá trong sáng tạo [1194 tr, 62]
E.R.Rêmizôva đã gắn kết các môn học nhập môn của VKHUTEMAS và Bauhaus với các phương pháp tạo khối trong các bài tập bố cục [ ]164 khi cố gắng chứng minh rằng ở thời đại chúng ta đã hình thành thể loại mới trong tư duy bố cục - thể loại liên tưởng - lịch sử, sử dụng cả những kỹ thuật khác để dựng bố cục (dạng chuyển dịch, kịch - sân khấu, tháo lắp), rõ ràng bà cho rằng điều này sẽ dẫn đến sự thay đổi những yếu tố cơ sở của bố cục kiến trúc Ở đây chúng ta cũng nhận thấy nhập môn bị lôi cuốn mạnh mẽ ra sao vào lịch sử thể hiện khái niệm về phong cách học kiến trúc và được xem xét ở mức độ của từ này
Cũng với góc độ đó A.V.Ikônnikôv đã giải thích về nhập môn khi nhận thấy trong đó có việc thể hiện khái niệm nghệ thuật cụ thể của kiến trúc thực dụng vào những năm 20 (thế kỷ XX) [ ]71 Về khả năng làm thay đổi khái niệm nhập môn thể hiện mối quan hệ chủ quan khác nhau trong quan niệm về hình thức nghệ thuật kiến trúc đã được A.G.Rapaport thể hiện một cách thuyết phục
[ ]160
Mặc dù trong sách chúng tôi sẽ xem xét kiến trúc nhập môn ở góc độ hẹp nhất - ứng dụng vào mục tiêu bước đầu giảng dạy thực hành ở trong trường kiến trúc Tuy nhiên sẽ không tránh khỏi dẫn đến việc bước lên tầm hiểu biết cao hơn
Trang 15liên quan đến việc bàn luận truyền tải các phương pháp thiết kế bố cục kiến trúc
có tính đến nguyên cớ tư duy về nội dung, nghĩa là đụng chạm đến phương diện logic văn hoá tạo hình
Kiến trúc nhập môn duy nhất chỉ có một con đường - xây dựng theo quy luật tiến hoá cho toàn bộ quá trình học tập để nắm vững nghề kiến trúc Những người ủng hộ phương pháp này cho rằng có khả năng ngay lập tức đưa học sinh vào môi trường hoạt động cụ thể của kiến trúc ở mọi chuyên ngành, tạo nên sự chuyển biến từ đơn giản đến phức tạp
Cuộc đấu tranh của hai khái niệm - nhập môn và một con đường, thực tế đã
bị xới tung lên kéo dài cả thế kỷ trong các trường kiến trúc, không những ở nước
ta mà cả trên toàn thế giới Trong cuốn sách này xác lập vị thế của kiến trúc nhập môn Nhưng liệu những kết luận của chúng tôi có được các phản biện nghe theo không? Nhanh chóng là không thể, họ sẽ tập trung phê phán khi hiểu rằng
sẽ không tồn tại cơ chế rõ ràng, tuyệt đối, có liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật Nếu trong những tìm tòi về mặt sư phạm những phương pháp học tập và phát triển tối ưu: chúng ta sẽ nói là toán học, vật lý hoặc tiếng Nga, có thể với tư cách là bằng chứng dẫn đến những thử nghiệm về mặt sư phạm và trên cơ sở những so sánh đã được kiểm chứng để đưa ra kết luận duy nhất (2 x 2 = 4) rằng việc đánh giá giải pháp kiến trúc sẽ luôn luôn chứa đựng hợp phần của vị giác, chủ quan, loại bỏ những từ đại loại “trăm người trăm tính”! Sự phê phán chân thực là thời gian, đã thế lại không thường xuyên Nghĩa là theo nguyên tắc giải pháp thực tế thường được áp dụng trên cơ sở các yếu tố có đặc tính khác: Tính thuyết phục với các luận cứ gây xúc cảm, uy tín và sự kiên trì của những người soạn thảo ra phương pháp giảng dậy, vị trí về mặt chính quyền của họ trong trường đại học và các tình tiết khác có khả năng áp chế những người cạnh tranh Như vậy kiến trúc nhập môn- đây là vấn đề có tầm ảnh hưởng nhưng là một trong các cách xử lý phương pháp giảng dạy khả thi Cách xử lý này từ đầu
Trang 16các lý lẽ, tích luỹ kinh nghiệm, mài sắc luận cứ trong các cuộc tranh cãi, cố gắng dựa trên cơ sở khoa học của các môn học liên quan để có các kết luận có tính khách quan
Liên quan đến vấn đề này cần lưu ý nghĩa rộng của khái niệm “Thực nghiệm” trong phương pháp sư phạm kiếm trúc Rộng khắp và liên tục nghe thấy trong môi trường giảng dậy: “Ở chúng thực nghiệm, thực nghiệm chỉ ra, thực nghiệm chứng minh rằng như thế tốt hơn so với….” v.v… Trong trường hợp như vậy “thực nghiệm” là sự sáng tạo phương pháp giảng dậy nào đấy của một thầy giáo, bằng cách thức tự nhiên muốn đổi mới bài tập này hay bài tập khác hoặc cách thức giảng dậy và chỉ có thế Liệu có thể tìm kiếm những bằng chứng khách quan về tính ưu việt của việc áp dụng những điều mới này chống lại những cái cũ theo quan điểm khoa học một cách không đúng đắn
Thứ nhất, trong thực hành sáng tạo kiến trúc khám phá ra sự dịch chuyển cảm nhận được ngay lập tức - phi tự nhiên Chúng có thể tự biểu lộ nhưng phải
có thời gian - không thể có phép màu nhiệm
Thứ hai, phương pháp luận thực nghiệm là chứng cớ khoa học được nghiên cứu rất sâu trong phương pháp sư phạm nếu không dựa vào nó có nghĩa là thể hiện việc làm hết sức hời hợt Điều này đòi hỏi nhất thiết phải có mặt của các nhóm kiểm định So sánh các kết quả khi đối chiếu số phần trăm sai lệch thống
kê được trong các điều kiện khác nhau Còn phải tính đến hàng loạt các yếu tố Nếu chỉ theo mức độ thường xuyên vượt ra khỏi ranh giới các tham số đã xác định có thể chỉ có một kết luận duy nhất được đưa ra
Chúng tôi xin nhắc lại: Đặc tính của nghệ thuật phủ nhận hoàn toàn việc sử dụng thực nghiệm sư phạm với tư cách là luận cứ xác đáng ở dạng như nó được luận bàn trong tài liệu tâm lý sư phạm
Quyển sách chủ yếu hướng đến những người có liên quan trực tiếp với hoạt động trong các trường kiến trúc và đizai - những thầy giáo, học viên của khoa nâng cao nghề nghiệp các thầy giáo, các thực tập sinh và sinh viên có ý
Trang 17thức chủ động thể hiện sự quan tâm thiết tha, sâu sắc nhất đối với công việc mà
họ mong muốn gắn bó đời mình, nhìn thấy ý nghĩa khi nhận được những thông tin sâu rộng nhất về vấn đề nêu trên Đồng thời quyển sách có thể hữu ích trong phạm vi rộng lớn những người làm việc trong lĩnh vực văn hoá nghệ thuật và
mỹ thuật
Thêm nữa quyển sách này không phải sách giáo khoa và cũng không phải
là tài liệu giảng dậy đưa ra một cách hệ thống vị thế về mặt lý thuyết nào đó của
bố cục kiến trúc Người nào quan tâm đến vấn đề này cần chú ý đến các nguồn
khác Ở đây cũng thảo luận một loạt vấn đề phát sinh với việc đưa vào thực tế
bài giảng bố cục kiến trúc, những vấn đề nảy sinh suốt cả thế kỷ tranh cãi và
thảo luận quyết liệt:
• Nội dung của môn học
• Ý nghĩa và vai trò của nó trong việc học nghề kiến trúc
• Các phương pháp tiến hành thực nghiệm bố cục, chính là vấn đề xác định hoàn cảnh truyền tải một cách có hiệu quả nền văn hoá trong bất kỳ dạng hoạt động nào
Nói một cách khác là tiến hành phân định rõ giữa lý thuyết bố cục kiến trúc
và phương pháp giảng dậy Về bản chất nhiệm vụ của phương pháp giảng dậy không nằm trong việc tìm tòi vị trí về mặt lý thuyết của thiết kế kiến trúc, các nguyên tắc bố cục, cấu trúc hình thức ngôn ngữ của kiến trúc v.v….Đây là đối tượng của ngành khoa học kiến trúc Nhiệm vụ lý thuyết và thực hành của phương pháp giảng dậy là lựa chọn chất liệu, truyền cho nó hình thái nội dung học tập, nghĩa là cân nhắc đến khả năng của người học nắm bắt nó, lựa chọn những hình thức tổ chức quá trình này Trong chính đối tượng khoa học, chúng không có ở dạng trực tiếp Hơn nữa chúng có thể làm mất lòng tin ở khả năng cá nhân làm chủ chuyên môn đã lựa chọn, nếu như không tính đến những điều kiện tâm lý sư phạm, hoặc kìm hãm quá trình học tập, hoặc thậm chí đem đến tác hại
Trang 18không thể sửa chữa được khi rút những người có khả năng hoạt động thiết kế kiến trúc khỏi môi trường này
Như sẽ viện dẫn dưới đây, việc xuất hiện khái niệm nhập môn trong học kiến trúc không phải là tình cờ Quá trình phát triển phức tạp văn hoá của loài người, trí năng nhận thức của cộng đồng được thực hiện trong một dòng chảy cùng với tiến bộ của khoa học và kỹ thuật, phát triển của xã hội Mỗi một thế hệ con người mới khi tiếp thu kinh nghiệm của những người đi trước mình trở nên phong phú hơn về mặt tinh thần, được rọi sáng bởi vốn tri thức và hiểu biết rộng lớn hơn, có khả năng đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ phức tạp hơn
Hướng nghiên cứu phản ánh trong nội dung cuốn sách được xác định bởi giả thiết rằng sự thay đổi gốc rễ trong kiến trúc tạo nên bởi trí năng của xã hội hiện đại bao gồm tất cả các lĩnh vực hoạt động và tái sản xuất Xu hướng này nói riêng sẽ sinh ra mâu thuẫn giữa trí năng được biểu lộ rõ ràng của nhận thức
về nghề nghiệp kiến trúc và các hình thức truyền thống trong thực hành nghệ thuật theo lối thủ công Chính trong cuộc vận động giải quyết mâu thuẫn này mà kiến trúc nhập môn đã lên tiếng Vì vậy khái niệm mở rộng của xu hướng có thể được quan niệm chỉ là sự phản ánh tổng hợp những điều kiện thay đổi sâu sắc và các yếu tố có liên quan:
- Đối với nội dung học tập (hình thành bảng hình thái tạo hình mới)
- Đối với cấu trúc biến đổi (xảy ra sự thay đổi có tính lịch sử về chuẩn mực hoạt động thiết kế)
- Đối với các phương thức phát triển nhận thức nghề nghiệp của học viên (đưa vào các phương pháp hiện đại để phát triển việc học tập)
Kết hợp các thành phần này sẽ tạo nên văn hoá nghề nghiệp mới trong lĩnh vực tạo hình không gian - vật thể, lĩnh vực đã trở thành cơ sở trong việc làm chủ hoạt động thiết kế kiến trúc theo hệ thống nhập môn
Tất nhiên nhập môn ở giai đoạn đầu của cải cách tạo hình nghệ thuật, trong lĩnh vực các ngành mỹ thuật trực quan, được hình thành là một hướng duy nhất
Trang 19mang đến toàn bộ sự đa dạng của chúng - như là kiến trúc, tranh mỹ thuật, điêu khắc, các loại hình trang trí - mỹ nghệ v.v… Tuy nhiên cùng với thời gian bắt đầu xuất hiện những xu hướng ly tâm, cố gắng lựa chọn và hiểu sâu sắc những đặc tính của các phương tiện biểu cảm thuộc riêng từng cá thể Đặc biệt điều này bắt đầu xuất hiện ở VKHUTEMAS Thí dụ ở phần chủ yếu của môn học
“Không gian” đã tập trung chú ý đến nội dung hướng vào kiến trúc
Đúng là trong nhập môn phản ánh sự khác biệt về phương tiện của kiến trúc
và đizai, mặc dù chúng cùng có bản chất chung của nghệ thuật trực quan Tuy nhiên cũng tồn tại sự khác biệt: trong kiến trúc các hình khối có tỉ lệ lớn, con người hoạt động trong đó, con người ở trong thế giới hiện thực chứ không phải trong thế giới hư ảo (như trong nghệ thuật tạo hình, đồ hoạ công nghiệp, quảng cáo v.v…) Mặt khác nhập môn đizai hướng vào thiết kế những vật được ấn hành Chính trong vấn đề này đã khám phá ra đặc thù riêng Nó đặc biệt xuất hiện cả trong mối liên quan đến vật liệu Bởi vì trong đizai nhập môn được sinh
ra là sự phủ nhận việc học tập trong các thể loại gần gũi như: gỗ, kim loại, da, phalê v.v…và việc xử lý các nhiệm vụ tạo khối cho mục đích tiêu dùng
Vì vậy chúng tôi tập trung chú ý chủ yếu đến kiến trúc nhập môn, nhưng hiểu một cách ước lệ và xê xích giới hạn, cũng như ý nghĩa của những cơ sở về
lý thuyết phương pháp luận giảng dậy chung, tuỳ theo khả năng chúng tôi sẽ thu thập các tài liệu từ chính lĩnh vực đizai
Trong quyển sách không đề cập trực tiếp đến vấn đề màu sắc Điều này liên quan đến truyền thống của MARKHI Việc xem xét vấn đề màu sắc một cách cặn kẽ, chi tiết trong quá trình nhiều năm thuộc sự điều hành của bộ môn chuyên ngành “Mỹ thuật” Bộ môn đã biên soạn chương trình giảng dậy môn học này trong đó có cả phần bố cục, những phương pháp phân tích về mặt hình khối Những kinh nghiệm mà bộ môn tích luỹ được đã nhiều lần xuất bản thành sách giáo khoa chuyên ngành và tài liệu về phương pháp giảng dậy(1)
Trang 20Quan tâm đến đề tài “Kiến trúc nhập môn” niềm khát khao tự nhiên đã thôi thúc tôi hiểu sâu sắc môn học mà tôi đã gắn bó cả phần cuộc sống nghề nghiệp sáng tạo của mình Việc xác định ý thức về nghề nghiệp đòi hỏi kiên trì tìm tòi lời giải đối với nhiều vấn đề hiện tại và chung như đã nói ở phần trên
Từ năm 1962 (thời gian khôi phục bài giảng BHK - bố cục hình khối - không gian) cho đến nay tôi làm việc ở bộ môn cơ sở Thiết kế Kiến trúc của MARKHI Trải qua lớp học đầu tiên về kiến trúc nhập môn của GS V.Ph.Krinski, tôi đã tham gia tích cực vào hoạt động giảng dậy, đồng thời với việc nghiên cứu khoa học theo hướng này Đây là đề tài với tư cách đặc biệt cấp thiết, trong suốt thời gian nhiều năm ở trong danh mục kế hoạch nghiên cứu khoa học được định hướng bởi Bộ Giáo dục Đại học Nga và UMO về đào tạo kiến trúc theo các vấn đề chung: “Những quy luật của tâm lý sư phạm, những nguyên tắc, phương pháp và hình thức học tập và giảng dậy” (số đăng ký quốc gia No 0182.0934531) và “Xây dựng khái niệm lý thuyết phương pháp luận giảng dậy trong đào tạo ở trường kiến trúc”, “Phát triển giáo dục kiến trúc” của MARKHI (Số đăng ký quốc gia No 01910032524) Một trong những trường hợp này là luận án phó tiến sĩ “Những cơ sở đào tạo về bố cục trong trường đại học kiến trúc” Đã xuất bản được 20 bài báo và quyển sách, những soạn thảo về phương pháp giảng dậy khác, các bài giới thiệu các bài tập về BHK Trên 15 năm tôi giảng dậy ở khoa nâng cao chất lượng của giảng viên ở trường MARKHI đọc bài giảng về “Phương pháp giảng dậy BHK”, nơi một vài thế hệ giảng viên các trường đại học của đất nước đã qua lớp học này và hiện nay đang
là những chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực BKH Trong những năm công tác tôi đã tích luỹ được số tài liệu đáng kể về chủ đề này dưới dạng ảnh chụp từ các
mô hình bố cục, các tóm tắt bài giảng của mình và của đồng nghiệp ở bộ môn, các bản nhận xét luận án và các bản thảo viết tay của các tác giả khác Tôi là người đề xướng và tổ chức cuộc hội nghị phương pháp giảng dậy khoa học toàn
Trang 21liên bang lần đầu tiên với chủ đề “Giai đoạn đầu của giảng dậy kiến trúc” (năm 1990), ngày nay hội nghị đã trở thành thường xuyên
Kinh nghiệm của tôi cũng hữu ích cho cả công việc năm năm gián đoạn do
ở nước ngoài, tại hai trường đại học tổng hợp hàng đầu của Angiê - tại thành phố Oran và Annaba Ở khoa kiến trúc trường đại học thứ nhất có bài giảng bố cục nhưng rất yếu về mặt phương pháp giảng dậy và không gây được ảnh hưởng sâu sắc đến xu hướng chung của giáo dục nghề nghiệp Cùng với các đồng nghiệp trong số đó không ít người nước ngoài đã thành công trong việc xây dựng một chương trình học tập thích ứng với điều kiện địa phương Kinh nghiệm làm việc tập thể như vậy giúp cho nhiều người hiểu về hướng tư duy kiến trúc ở phương Tây và về mối quan hệ đối với kiến trúc nhập môn Khả năng làm quen trực tiếp với hàng loạt các trường kiến trúc và những người lãnh đạo của họ, các cuộc tham gia hội thảo quốc tế (Angiêri, BaLan, Đức, Pháp) cũng đã được sử dụng
Như vậy là người tham gia trực tiếp và chứng kiến hoạt động của môn học kiến trúc nhập môn ở MARKHI và ở các trường kiến trúc khác của đất nước, cũng như vậy có khả năng so sánh những việc đã được làm ở đây và ở các trường kiến trúc khác của thế giới, tôi có thể rút ra một loạt nhận xét và kết luận
có tính nguyên tắc
Trong chương 4 giới thiệu tổng quan ngắn gọn kinh nghiệm của nước ngoài trong việc hiện thực hoá ý tưởng về kiến trúc nhập môn Phân tích quy mô, toàn diện điều đó là công việc đặc biệt khó khăn bởi cần phải thu thập và hệ thống hoá các tài liệu thích hợp, việc đó không vừa sức một tác giả mà đòi hỏi sự nỗ lực của cả một tập thể Những nguồn thông tin, mức độ xác thực của các tư liệu, tính tản mạn của chúng ( trong một số trường hợp tư liệu chỉ ở dạng bức ảnh về bài tập bố cục, ở trường hợp khác - lời hướng dẫn bài làm, trong trường hợp thứ
ba - những lời nhận xét về phương pháp giảng dạy của các nhà sư phạm v.v.) chưa thể cho những cơ số để có được bảng tổng hợp, mang tính khoa học, đáng
Trang 22chính xác và đáng tin cậy Tất cả những điều này tổng hợp lại tạo nên sự hấp dẫn và bổ ích khi xem xét kiến trúc nhập môn ở các trường của Nga với kiến trúc nhập môn của nước ngoài trong tất cả những nhận xét đã nêu trên Nhờ kinh nghiệm nước ngoài kiến trúc nhập môn ở các trường của Nga có thể bổ xung hàng loạt những điều cụ thể về phương pháp học tập cũng như nêu ra những suy nghĩ bổ ích trong phát triển thực hành bố cục
Mặc dù hoạt động lâu dài, có hiệu quả, kiến trúc nhập môn đồng thời cũng kịp tích tụ cả gánh nặng các vấn đề và mâu thuẫn đòi hỏi những cuộc thảo luận một cách thấu đáo Người đọc sẽ tìm thấy điều này trong các chương tiếp theo của cuốn sách Chúng tôi dự kiến giới thiệu sơ bộ bức tranh chung của ngày hôm nay
Đến nay khi đào tạo đại trà nghề kiến trúc sư, trong nhập môn nghệ thuật đã hình thành các tài liệu về lý thuyết và phương pháp giảng dậy cơ bản, phản ánh kinh nghiệm của nhiều trường học trên thế giới cũng như sự sáng tạo trong sư phạm của các giảng viên Tuy nhiên lịch sử hình thành môn học và tình trạng hiện tại đã không nhận được sự phản ánh tương ứng Thiếu cái nhìn đầy đủ vấn
đề, bao gồm từng phần và tổng quát các khái niệm, nhiều công trình chỉ đề cập đến từng phần, có bài viết nhưng không có tính chất nghiên cứu Kiến trúc nhập môn là môn học về phương pháp giảng dậy thường được hoà trộn vào lĩnh vực
lý thuyết bố cục kiến trúc, làm mất đi đặc tính của mình Không biểu lộ rõ nét, hoạt động của phương pháp giảng dậy chưa đảm bảo chức năng của kiến trúc nhập môn trong trường đại học và những đòi hỏi đối với các học viên
Các tác giả của tập sách chuyên khảo tập thể “Tâm lý học kiến trúc” (năm 1993) đã vẽ lên bức tranh không thú vị tình trạng giai đoạn đầu đào tạo kiến trúc
sư trong các trường kiến trúc, chứng tỏ sự cần thiết xem xét về mặt lý thuyết của vấn đề “Phân tích tâm lý học giai đoạn đầu đào tạo do chúng tôi tiến hành, đã chỉ ra một cách rõ ràng việc thực hành hiện nay trong đào tạo nghề nghiệp, đặc biệt không hình thành mà chuyển biến dần, trong tuyệt đại đa số nó mang đặc tính không đúng là nghề nghiệp và vô thức, đặc biệt không ổn định và không bền vững khi các điều kiện hoạt động thay đổi v.v…., biểu lộ rõ ràng kết quả của việc hiện thực hoá hình thái đầu tiên của việc học tập” (1)(tôi trích dẫn - Đ.Mêlôđinski) Có thể bắt gặp vấn đề hoàn toàn khó chịu trong kiến trúc nhập
Trang 23môn hoặc việc thừa nhận rằng nó đã đánh mất tiềm năng của mình và cần tìm kiếm các giải
(1) Thể loại - thể loại tiềm tàng của học tập, bao gồm kinh nghiệm hoạt động và sự biến đổi theo quy luật của nó được thực hiện thực tế về tổ chức trong quá trình thực thi dự định đạt được một số mục đích quan trọng đối với một chủ thể nhưng rõ ràng không phải mục đích học tập (P.Ia.Galerin) Xem chương 7
pháp sư phạm mới xuất phát từ khát vọng tiên phong trong sáng tạo kiến trúc hiện đại (“Chủ nghĩa Mođéc cấp tiến”, “Chủ nghĩa phi kết cấu”, cách bố cục kiểu sân khấu, kiểu thần thoại và các cách bố cục khác) Tư liệu phương pháp giảng dậy kiến trúc nhập môn (đặc biệt dạng mô hình) bị mất mát không để lại dấu vết do những khó khăn bảo quản chúng, hậu quả là chúng không được khai thác, không được đánh giá đúng mức, không được ghi nhận như là di sản văn hoá nghệ thuật
Mặc dù ứng dụng BHK, nắm vững mục này nhưng nhiều khi lại thực hiện một cách hình thức Phân tích nhiều bài đồ án của học sinh chỉ ra rằng các bài tập về nghệ thuật được đặt ngang tầm nghề nghiệp thường cố gắng giải quyết bằng ngôn ngữ tài tử và các giải pháp của nghệ thuật tạo hình - nhờ hoa văn trang trí, đường bao thể hiện hình dáng, không nhờ đến các phương tiện tạo hình
và không gian (vả chăng họ cũng không biết làm thế nào tái tạo hiệu quả diễn cảm của chúng trong đồ án) Điều này nói lên sự cần thiết đi sâu nghiên cứu phương pháp giảng dậy, giảng giải và truyền bá các nguyên tắc của kiến trúc nhập môn, phổ cập các giải pháp lý luận dậy học thành công
Phát sinh yêu cầu hiển nhiên cần xem xét kiến trúc nhập môn ở dạng tổng quát như là một hiện tượng duy nhất ở trung tâm của vấn đề kiến trúc - nghệ thuật trong vòng 100 năm nay và đi đến trình độ có khái niệm thống nhất về lý thuyết, thiếu điều này không thể thực hiện tiếp toàn bộ hệ thống đào tạo chuyên nghiệp cho các kiến trúc sư tương lai và đặc biệt là mặt nghệ thuật sáng tạo
Trang 24Trước hết trong lịch sử nước ta và thời kỳ hoạt động của VKHUTEMAS, kiến trúc nhập môn xuất phát chỉ là kinh nghiệm thực hiện hàng loạt những nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực tạo hình nghệ thuật (hội hoạ - điêu khắc kiến trúc, INKHUK, phòng thí nghiệm của Lađôvski ở VKHUTEMAS) Tranh cãi chủ yếu xoay quanh những quan niệm tạo hình trong kiến trúc và trong cuộc đấu tranh để xác định phương pháp sáng tác chủ đạo (chủ nghĩa kết cấu, chủ nghĩa công năng, kiến trúc hợp lý, học viện mới, lý thuyết cơ cấu kiến trúc v.v….) Những khái niệm sáng tạo trong tạo hình kiến trúc được rọi sáng vào phương pháp luận làm chủ đề nghề nghiệp, vào lĩnh vực tiến trình giảng dậy Điều này diễn ra chủ yếu theo kinh nghiệm dựa trên cơ sở khái niệm trực giác của các nhà sư phạm hàng đầu, của kinh nghiệm phương pháp giảng dậy, thiếu nghiên cứu tâm lý sư phạm đầy đủ
Nền tảng luận thuyết của kiến trúc hợp lý là cơ sỏ nội dung của kiến trúc nhập môn thuộc trường phái Lađôvski - Kpinski - Docutraev Luận thuyết cơ cấu kiến trúc là hạt nhân của phương pháp giảng dậy kiến trúc của Gôlôsôv Tạo hình kiến trúc theo quan niệm của chủ nghĩa kết cấu được soạn thảo bởi các nhà hoạt động của OSA (tổ chức liên đoàn kiến trúc sư) - Ginzburg, Vesnhin và đồng nghiệp
Về phương diện thực tế của phương pháp luận được phản ánh trong các tư liệu về chương trình giảng dậy của VKHUTEMAS, các ấn phẩm xuất bản thời
kỳ đó là một khối lượng khá lớn các vật thể là tư liệu được thu thập và nghiên cứu bởi các nhà nghiên cứu lịch sử kiến trúc do đội tiền phong trong kiến trúc
Xô Viết sáng tác: S.Khan - Magômeđôv, V.Aphanasiev L.Mars, N Ađakina v.v…, những điều này cho phép không chỉ khẳng định sự đóng góp của VKHUTEMAS vào lịch sử văn hoá nghệ thuật thế giới thế kỷ XX mà còn tạo khả năng phân tích một cách thuyết phục khái niệm kiến trúc nhập môn, làm sáng tỏ bản chất của nó và vai trò của nó trong chiến lược hiện đại giảng dậy chuyên ngành kiến trúc [194−198,122] Ngày nay kinh nghiệm của
Trang 25VKHUTEMAS và các trường khác của thời kỳ đó đã hiện rõ là di sản quý giá và đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện
Khái niệm sáng tạo và phương pháp giảng dậy của N.Lađôvski (S.Khan - Magômeđôv), khái niệm sáng tạo của Gôlôsôv (S.Khan - Magômeđôv, A Sađrin) cần được giới thiệu
Việc thay đổi phương hướng trong cách tiếp cận đối với kiến trúc nhập môn cũng như của một hệ thống những khái niệm về phương pháp giảng dậy chuyên ngành kiến trúc ở các trường đại học trong giai đoạn đầu - giai đoạn quyết định, chắc chắn bắt đầu xuất hiện từ giữa những năm 60 Không cần bàn cãi, ở đây người đề xướng là bộ môn cơ sở thiết kế kiến trúc của MARKHI
Trước đây trong nghiên cứu để làm luận án và trong các ấn phẩm riêng chúng tôi đã trình bày mục đích chính và nhiệm vụ trong góc độ bố cục và chỉ ra vai trò của BHK trong phát triển khái niệm không gian của học sinh [129−132] Phát triển lý thuyết tạo hình kiến trúc được thực hiện đồng thời với việc nghiên cứu các phương pháp làm chủ đề tài hoặc những tình huống khác của bố cục- không gian, hình khối, nhịp điệu v.v…(V.Malgin, A.Nhesterankô, Iu.Kônôvalôv, G.Ignatôv, G.Negai, G.Grêbênhiuc v.v…)
Cơ sở tâm lý sư phạm đã đưa đến các tác phẩm của Iu.Nhêtraev, G.Ivanova, V.Usov, V.Moor v.v…về giảng dậy kiến trúc ở bậc đại học Hoạt động thiết kế của kiến trúc sư được nghiên cứu từ quan điểm các quy luật tâm lý học, điều này
đã tạo cơ sở xác định các điều kiện và nguyên tắc hình thành có hệ thống trong sáng tạo đồ án suốt quá trình đào tạo ở bậc đại học Trong mối liên quan này đã chứng minh tầm quan trọng của việc hình thành với mục đích rõ ràng tư duy về không gian, là cơ sở nền tảng cho khả năng nghề nghiệp của kiến trúc sư, phát triển mạnh mẽ thực hành môn học
Các trường thuộc các địa phương đã biết kết hợp việc áp dụng thực nghiệm kiến trúc nhập môn với nghiên cứu khoa học về cơ sở lý luận phương pháp
Trang 26thuật Ural (V.Iôvlev, S.zaikina, A.Starikôv, N.Truvarkina, A.Barabanôv, V.Smirnôv v.v….), trên cơ sở xu hướng truyền thống, phân tích việc tạo hình
đã tích cực phát triển phương pháp vẽ mẫu với việc đẩy mạnh các hình thức có hiệu quả cao trong hoạt động thiết kế - bố cục Trong phạm vi kiến trúc nhập môn, phương pháp độc đáo gắn hình thức kiến trúc trìu tượng với những đặc điểm nhất định của nhận thức về thời đại lịch sử cụ thể đã thu nhận được những luận cứ về mặt lý thuyết và hình thức phương pháp thể hiện
Đặc biệt cần nêu bật sự đóng góp của người đứng đầu trường kiến trúc này
- GS A.E.Kôrôtkôvski Có thể ông là người đầu tiên đã xem xét kiến trúc nhập môn gắn với những nguyên tắc cơ bản của phương pháp luận giảng dậy lý thuyết kiến trúc một cách có hệ thống (năm 1987) Điều này cho phép thử nghiệm với mục đích rõ ràng phương pháp ký hiệu, nó đem lại bước phát triển quan trọng trong việc làm giàu nội dung cụ thể của khái niệm bố cục kiến trúc Thực chất toàn bộ phương pháp luận giảng dậy môn cơ sở thiết kế kiến trúc ở Êcatêrinburg đang phát triển trên quan điểm này
Về mặt thể thức kiến trúc nhập môn được xem xét ở khía cạnh mối liên hệ với BHK - kiểu dáng hình học của thiết kế kiến trúc (A.Stêpanov, A.Kôrôtkôvski, N.Metlenkôv, A.Kulikôv v.v….Quá trình sáng tạo được hiện thực hoá dưới hình thức vật thể - không gian với chức năng, kết cấu, hình tượng
- gây xúc cảm và những nhu cầu khác của xã hội được thực hiện dưới dạng biến đổi hình học Điều này cho phép nghiên cứu sự sáng tạo bố cục trên cơ sở những
mô hình trìu tượng với tư cách của một thể loại thiết kế kiến trúc và sử dụng nó
từ giai đoạn đầu học tập đến sử dụng những hình khối phức tạp hơn với tất cả phạm vi rộng lớn về nội dung cụ thể của nó
Trong các tác phẩm của V.Glazưrev, S.Malakhôv, V.Usôv, V.Moor, A.Đembitr.v.v….đã nghiên cứu quá trình triển khai việc tìm tòi giải quyết bài tập đồ án - bố cục Khác với những hoạt động của kiến trúc sư có kinh nghiệm khi mà nhiều thủ tục và bước đi đã bị loại bỏ và được thực hiện theo trực giác,
Trang 27các sinh viên lại cần trải qua toàn bộ quãng đường một cách tuần tự với nhận thức ý nghĩa của từng phần Trong mối liên hệ này nhập môn là giai đoạn không mang chức năng nghề nghiệp nhất trên con đường dẫn đến làm chủ phương pháp thiết kế sáng tạo Trong các tác phẩm đã kể trên đã mô tả và nêu bật một vài liệu pháp của qúa trình bố cục và đề xuất những bài tập phù hợp cho việc lĩnh hội một cách tối ưu
Nhiều nhà tâm lý và thực hành kiến trúc nhập môn đã chỉ ra khó khăn đặc biệt khi thực hiện bằng một con đường duy nhất để nắm vững phương pháp dậy thiết kế kiến trúc - từ nhập môn được coi là giai đoạn cơ bản đến việc phân tích tiếp theo toàn bộ các nhân tố cụ thể Từ nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của mối liên quan có tính hệ thống tất cả các phần và bộ phận của thiết kế kiến trúc, đưa vào thực tế là một vấn đề nghiêm túc của phương pháp giảng dậy thường gặp Rất nhiều sinh viên khi trải qua lớp học kiến trúc nhập môn có kết quả lại gặp khó khăn khi chuyển sang thiết kế kiến trúc theo một chủ đề cụ thể Vấn đề mối liên quan trong phương pháp giảng dậy các môn học, xác định thời gian và nội dung của chúng được thể hiện trong các công trình nghiên cứu của A.Stêpanôv, S.Malakhôv, B.Barkhin, N.Blôkhina, T.Slavina, I.Anhisimôva, S.kunôvski, E.Belousôv v.v…BHK bên cạnh vai trò tạo hình còn có chức năng khác không kém phần quan trọng: là ngôn ngữ biểu hiện và hình thành ý tưởng kiến trúc, biểu lộ hình thức tư duy nghề nghiệp (B.Barkhin, A.Stêpanôv, I.Sapilevskaia, E.Rôzenblum, M.Kônhik v.v….)
Quyển sách nhìn chung được xây dựng bằng các tư liệu kiến trúc và phân tích thực tế các trường kiến trúc, tuy nhiên trong việc thể hiện bức tranh hiện trạng khái niệm lý thuyết phương pháp giảng dậy nhập môn nghệ thuật không thể không chú ý đến những tác phẩm đizai
Lịch sử trong nước và phương Tây về vấn đề trên đã được giới thiệu bởi những tác phẩm của V.Arônôv, Đ.Silvestrôv, I.Masa, L.Giađôva, L.Mars,
Trang 28Khi xem xét văn hoá nghệ thuật cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, tình trạng kiến trúc, giáo dục nghệ thuật (A.Nhêkrasôv, A.Gabritrevski, I.Masa, C.Khan - Magômeđôv, V.Khazanôva, E.Kiritrenkô, T.Kagiơđan, E.Bôrisôv, V.Tacalôv, F.Nađiarnưkh, I.Nhikalaev, E.Rêmizôva, E.Bagina v.v ) đã chỉ ra điều kiện tạo nên lịch sử và tính khách quan để khắc phục khi xuất hiện cuộc khủng hoảng nghệ thuật, phá bỏ những giáo lý của trường phái kinh viện, tìm kiếm những nguyên tắc mới cho giáo dục nghệ thuật
Vai trò tiên phong của các kiến trúc sư được khẳng định trong việc tổ chức các trường kiểu mới (Van đe Velđe, I.Olbrikh, P.Berens, V.Gropius, các kiến trúc sư của trường Chicagô ở phương Tây và N.Laôvski, N.Đôkuraev, V.Krinski, I Gôlôsôv, K.Melnhicôv, A và I Vesnhin, M.Ginzburg v.v… ở Nga) Lôgic của các yếu tố không gian kiến trúc được đưa vào cơ sở chương trình chiến lược giảng dậy sáng tạo nghệ thuật trong các điều kiện mới và nhập môn nghệ thuật là giai đoạn mở đầu việc áp dụng vào hiện thực mục đích chủ yếu
Nửa cuối thế kỷ XX với việc mở rộng áp dụng thực tế của đizai và hình thành các trường giảng dậy nghệ thuật ở trong nước, nhập môn nghệ thuật đã gắn bó với chương trình giảng dậy của các trường này và đã có được những luận
cứ đầy đủ (G.Minhervin, F.Đaukantis, M.kônhik, E.Rôzenblum, L.Mars v.v…) Kết quả những hoạt động của họ đã hình thành hệ thống những quan điểm, phương pháp, minh chứng đưa nhập môn lên tầm khái niệm phương pháp giảng dậy khoa học
Những công trình nghiên cứu của V.L.Glazưtrev, B.G.Barkhin, Iu.G.Sômôv, P.V.Kapustin, V.V.Smirnôv v.v….có mối quan hệ trực tiếp đến việc làm sáng tỏ số phận của kiến trúc nhập môn, chuyển sự chú ý trong nghiên cứu bố cục từ kết quả sang hoạt động thực tế Bằng cách giới thiệu cơ cấu của
nó, biến thành hiện thực với các hình thức ngôn ngữ - khái niệm và trực giác, đặc biệt là bằng cách làm nổi bật mức độ chuyên nghiệp dưới dạng các phương
Trang 29tiện tạo hình có liên quan đến khái niệm ngôn ngữ đa năng, khám phá ra khả năng mới hiểu thấu tài liệu nhập môn của BHK được sắp xếp ngay trong phạm
vi đó Từ đây nảy sinh quan điểm biểu hiện của hình thức Quan điểm này có cơ
sở lý luận chung khám phá những thông tin và tín hiệu (Tr.Pirs, F.đe sossiur, Tr.Morris, A.Mol) và những khả năng ứng dụng liên quan với văn hoá và phạm
vi rộng trong nghệ thuật và kiến trúc (Iu.M.Lôtman, B.A.Uspenski, S, Kh.Rappôpôrt, A.V.Ikônnikôv, V.F Markuzon, V.L.Glazưtrev, I.G.Legiava, K.Lekhari, A.V.Bôkôv, I.A.Strautmanhis, K.Norberg - Sulse, U.Êkô, S Khesselgren, B.Đzevi, Tr.Đgienks v.v…
Những thành tựu lý thuyết nghề nghiệp (M.S Kagan, G.P và L.P.Seđrôvitski, V.Ia Đubrôvski, O.I.Genhisareski, V.M.Rôzin v.v…) đã giới thiệu cơ sở phương pháp luận để chuyển đổi chất liệu đặc trưng của các phương tiện nghề nghiệp sáng tạo Thành tựu đó cũng đã mở ra cơ cấu hoạt động, các cơ chế tái sản xuất, trong đó thiết kế và phương pháp giảng dậy cũng được soạn thảo trong quá trình này
Kết quả, chúng ta tin chắc chắn rằng những vấn đề được gắn với việc nghiên cứu các phương pháp để nắm vững một cách sáng tạo những cơ sở của kiến trúc Tất nhiên điều này không mới nhưng chúng chưa mất đi tính cấp thiết, bởi vì đang diễn ra sự phát triển vũ bão của kiến trúc nhập môn, sự biến đổi trong hình thức tư duy về bố cục và quá trình này cần thiết được phản ánh không ngừng trong hoạt động của các trường kiến trúc Vì vậy hôm nay nhiều vấn đề - được giải quyết không giống như đã xảy ra với chúng ở giai đoạn đầu - giai đoạn tiên phong trong hình thành kiến trúc nhập môn Môn học đã được làm giàu không chỉ bằng những thành tựu lý thuyết mới về bố cục kiến trúc mà còn
là kinh nghiệm tiên tiến của các nhà thực hành ở trường kiến trúc
Như vậy ở chính đối tượng kiến trúc nhập môn cũng như trong các lĩnh vực liên quan đến tài liệu quan trọng đã được tích luỹ, cụ thể hoá khái niệm về
Trang 30của BHK, các khả năng lạc quan về quá trình đào tạo trên cơ sở các quy luật tâm
lý sư phạm trong hoạt động của giảng viên và những người do họ đào tạo Theo quan điểm của chúng tôi các căn cứ này xác định cơ sở và tạo điều kiện để hình thành đầy đủ khái niệm lý luận phương pháp giảng dậy kiến trúc nhập môn Ngày nay có đủ khả năng liên kết toàn bộ các vấn đề phức tạp có liên quan đến nền tảng cơ sở để nắm vững nghề nghiệp trong kiến trúc: Lý thuyết bố cục, tâm
lý học, phương pháp sư phạm - điều này quyết định tầm bao quát rộng lớn của vấn đề
Khi thảo luận vấn đề nổi lên là cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
• Phân tích những biến đổi thường xuyên trong nhận thức nghề nghiệp kiến trúc và sự phản ánh của nó trong thực hành ở các trường kiến trúc với mục đích nêu bật những nét còn tồn tại trong kiến trúc nhập môn
• Phản ánh những đặc điểm hiện trạng của kiến trúc nhập môn trong giai đoạn hiện nay khi đã được làm phong phú thêm bởi kinh nghiệm qua lịch sử áp dụng nó vào thực tế tại các trường kiến trúc trong nước, ở nước ngoài và ở các trường mỹ thuật công nghiệp
• Khẳng định phạm vi rộng lớn của tạo hình kiến trúc, làm nổi bật bản chất, nội dung, cấu trúc và các phương pháp giảng dậy của nó, nghĩa là khám phá khái niệm của nó Từ mức độ này có thể nhận ra ý nghĩa của các nhân tố thường xuyên, phương pháp luận, các giải pháp v.v…Giới thiệu ở dạng trực quan những ví dụ đặc sắc nhất trong việc xây dựng các bài tập bố cục và các phương pháp giải nó một cách sáng tạo của học sinh
• Khi so sánh các cơ sở lý thuyết của kiến trúc nhập môn với kinh nghiệm thực hành thực tế cũng như với sự sáng tạo phương pháp giảng dậy của các nhà
sư phạm - kiến trúc, sư cần xem xét các hướng khắc phục những mâu thuẫn có tính biện chứng giữa những nguyên tắc chuẩn mực cho việc hình thành và biểu hiện tự do sáng tạo, phản ánh đặc tính nghệ thuật của hoạt động kiến trúc
Trang 31• Cụ thể hoá những cơ sở của môn học sư phạm, tâm lý học, biện chứng phù hợp với nội dung của kiến trúc nhập môn, các hình thức và phương pháp giảng dậy môn học này
• Chỉ rõ đóng góp xuất sắc nhất của trường phái Nga - Lađôvski và Krinski trong việc hình thành khái niệm kiến trúc nhập môn và ảnh hưởng của nó đối với văn hoá nghệ thuật thế kỷ XX
• Nêu lên tác động của các phương pháp kiến trúc nhập môn đối với quá trình sáng tạo hình khối trong kiến trúc thế kỷ XX, hình thành ý tưởng tạo phong cách mới, tìm tòi những phương pháp mới để diễn đạt bố cục
• Vạch ra những xu hướng, tương lai phát triển của kiến trúc nhập môn, hoàn thiện nội dung từng mặt của việc giảng dậy và đầu tiên là khả năng cung cấp máy tính
Câu trả lời cho những nhiệm vụ trên sẽ được đề cập tỉ mỉ ở các chương tiếp theo trong quyển sách này
Mặc dù đối tượng của tiến trình thực hiện bố cục - sáng tạo bố cục kiến trúc có đặc điểm nghệ thuật khi yếu tố chủ quan là thuộc tính không thể tách rời được, quan điểm của chúng tôi thừa nhận rằng phương pháp giảng dậy nghệ thuật không thể chỉ dựa trên chủ nghĩa kinh nghiệm và gạt bỏ cơ sở khách quan Phương pháp giảng dậy kiến trúc nhập môn cũng giống như môn học nào khác cần phải được nghiên cứu một cách khoa học và được hình thành như là một khái niệm lý luận phương pháp giảng dậy Trong trường hợp này việc nắm vững nghề kiến trúc được thực hiện trong các điều kiện ở các trường học quy mô lớn
là phương pháp tối ưu nhất Liên quan đến vấn đề này người đọc có thể nhận thấy rằng nội dung mong muốn của cuốn sách theo hướng gần với tác phẩm nổi tiếng của GS B.G.Barkhin “ Phương pháp giảng dậy thiết kế kiến trúc” [ ]15 bởi cũng liên quan đến đối tượng phương pháp luận học kiến trúc, nghĩa là môn khoa học đặc biệt tổng hợp thực tế việc dậy và nghiên cứu tính quy luật của việc
Trang 32kiến trúc sư Barkhin tập trung ở chu trình nền tảng chương trình giảng dậy của trường đại học, nơi mà đồ án kiến trúc nổi trội trong toàn bộ tổng thể khối lượng giảng dậy Tuy nhiên giai đoạn đầu - nhập môn chỉ thể hiện ở dạng chung và được xác định là “vấn đề phương pháp giảng dậy quan trọng nhất”
Khi quan tâm đến vấn đề lý thuyết kiến trúc nhập môn tác giả ý muốn
“xây dựng nốt” bức tranh và kết quả là có được lộ tuyến trọn vẹn duy nhất của phương pháp giảng dậy kiến trúc phù hợp với chương trình giảng dậy đầy đủ của các trường đại học và đưa ra khái niệm cũng như cách thức thực hiện mục đích chiến lược giảng dậy nghề kiến trúc bắt đầu từ sinh viên mới vào trường với những khái niệm thông thường về kiến trúc đến những người làm đồ án tốt nghiệp có khả năng độc lập giải quyết các nhiệm vụ phức tạp ở mức độ đòi hỏi của nghề nghiệp
Tác giả tự cho phép báo cáo rằng mặc dù bao quát toàn bộ nội dung của môn học đã ghi trong đề mục của cuốn sách nhưng chưa hẳn đã thành công trong việc giải quyết tất cả các vấn đề có liên quan đến nội dung Hơn nữa nhiều vấn đề trong đó còn mang tính tranh luận và sẽ không nhận được sự đồng tình hoàn toàn Tuy nhiên chính sự trọn vẹn trong cách xem xét kiến trúc nhập môn
là khái niệm cần phù hợp với thời đại ngày nay, hình thành môn học và đảm bảo viễn cảnh của nó trong tương lai Như vậy giả định rằng tài liệu được giới thiệu
là cơ sở để các chuyên gia quan tâm đến vấn đề này thảo luận một cách nghiêm túc, được lôi cuốn vào quỹ đạo các số liệu và chứng cứ mới cụ thể và rõ ràng sẽ đem lại lợi ích cho giảng dậy kiến trúc
Trang 33• Thiết kế kiến trúc là nội dung nghề kiến trúc
• Lý thuyết và thực hành bố cục trong trường kiến trúc kinh viện
• Cuộc đấu tranh của những ý kiến ủng hộ đối với giáo dục nghệ
thuật kiến trúc ở Pháp do tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và văn hoá ở thế kỷ XX
• Những xu hướng mới trong các trường mỹ thuật công nghiệp ở
Tây Âu ở ngưỡng thế kỷ XX
• Những nguồn gốc và nguyên nhân khủng hoảng trong giáo dục
nghệ thuật ở Nga
1 Những tiền đề lịch sử hình thành kiến trúc nhập môn
Trang 34CHƯƠNG I: NHỮNG TIỀN ĐỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH
KIẾN TRÚC NHẬP MÔN
1.1 Thiết kế kiến trúc là nội dung nghề kiến trúc
Sự ưu việt của chúng ta với mong muốn xác định chính xác hơn khái niệm kiến trúc nhập môn so với lần trước đây - thời kỳ làn sóng đầu tiên (Bauhaus - VKHUTEMAS) là chúng ta có trước mắt lịch sử rõ ràng về việc nảy sinh và phát triển kinh nghiệm này suốt chiều dài hàng thế kỷ
Hiện tượng phức tạp như kiến trúc nhập môn có thể được khám phá và hiểu một cách đúng đắn nếu như được làm sáng tỏ trong những điều kiện và hoàn cảnh nào đó xuất hiện, biến đổi ra sao dưới tác động của các yếu tố lịch sử,
và ngày nay nó tỏ rõ bản năng của mình như thế nào Phương pháp logic - Ăngghen nói, thực chất chính là phương pháp lịch sử, chỉ có thể tự giải thoát ra khỏi hình thái lịch sử của nó Vì vậy điều đúng đắn là bắt đầu xem xết kiến trúc nhập môn từ xa xưa
Kiến trúc nhập môn không xuất hiện bất thình lình Lịch sử lâu dài đã xuất hiện trước nó, trong đó kinh nghiệm nghề nghiệp kiến trúc đã được thừa kế nhưng thiếu sự hấp dẫn của nó Nghiên cứu quá trình phát triển của các tình tiết, bên cạnh nó trong cốt lõi của các khái niệm truyền thống dẫn đến việc chuyển sang phương pháp mới giảng dậy kiến trúc cho phép hiểu sâu hơn bản chất của những biến đổi đã xảy ra, hiểu thấu bản chất và nội dung các bài giảng nhập môn hiện đại, nghĩa là đạt đến trình độ lý luận của toàn bộ các vấn đề
Nhu cầu trong tổ chức không gian- vật chất của đời sống - đây là điều kiện khởi thuỷ bản chất tự nhiên của con người Không có mái che trên đầu, không xây dựng nhà ở và tạo các điều kiện để lao động và sinh hoạt loài người không thể tồn tại và phát triển Tuy nhiên chỉ với việc phân công lao động và tách ra thành môi trường hoạt động độc lập gắn liền với việc xây dựng các công trình cần thiết đảm bảo cuộc sống mới có thể nói đến nghề nghiệp của những người xây dựng và sau đó cả kiến trúc sư
Trang 35Từ kiến trúc sư ( apxiτεxτ ωy- arkhitecton) xuất xứ từ Hy Lạp và khởi thuỷ nó có nghĩa là “người xây dựng chính” - người lãnh đạo trên công trường Cùng với sự phát triển của những nền văn minh cổ đại và phức tạp hoá các hình thức quan hệ xã hội, với việc nâng cao vai trò của khoa học và nghệ thuật, xuất hiện nhu cầu thực sự cần phân chia các lĩnh vực hoạt động và đi sâu vào chuyên ngành Điều này liên quan đến cả lĩnh vực quan trọng là hướng nghiệp, không những tạo nên chỉ đơn giản là các công trình thực dụng mà cả hình thức chứa đựng nội dung cảm xúc nghệ thuật
Từ những thời kỳ xa xưa nhất trong phát triển xã hội từ loài người - Ai cập
cổ đại, sau đó là Hy Lạp, La Mã cổ, nghề kiến trúc sư bắt đầu giữ một vị trí quan trọng trong số các nghề khác, bằng những nỗ lực của những người đại diện của nó nhu cầu của cuộc sống trong xã hội được hiện thực hoá trong việc tạo nên môi trường vật chất nhất định để cho loài người tồn tại và phát triển Từ thời điểm đó xuất hiện cả việc cần thiết truyền những kinh nghiệm nghề nghiệp được
mở rộng từ thế hệ này sang thế hệ khác, dậy các kỹ năng và cách thức tiếp thu tinh xảo của nghề nghiệp kiến trúc sư
Phải nói rằng trong việc xác định khái niệm “nghề kiến trúc sư” có những quan điểm khác nhau
Theo I.S Nhicôlaev, nếu căn cứ vào từ ngữ trong quyển sách của ông
“Nghề kiến trúc sư” là nghề - đây là hình thức cao nhất của sự tinh thông nghề nghiệp Vì vậy về nghề kiến trúc sư ông cũng đã đề cập đến, bắt đầu từ Ai Cập
cổ đại và tiếp theo nhận xét về những đặc điểm trong Hy Lạp, La Mã cổ, Bidăngtin và các thời đại muộn hơn Đồng thời trong các tác phẩm về thẩm mỹ, các lý luận nghề nghiệp, lý thuyết kiến trúc người ta thường đối lập nghề nghiệp với thủ công có cùng một hình thức tổng hợp nhận thức, trong khi trong sáng tạo nghệ thuật không tách ra khái niệm sử dụng và cái đẹp A.Rapaport trong quyển
“ Hình thức kiến trúc” đã viết: “Thủ công được xây dựng trên cơ sở tổng hợp
Trang 36đặc biệt lành nghề và trực giác nhạy bén Nghề nghiệp được xây dựng trên cơ sở
tư duy, xoay quanh những khái niệm mang tính lý luận Chuyển từ thủ công sang nghề nghiệp có nghĩa là định hướng lại nghề nghiệp tất cả các thành phần của hoạt động” “[160 tr, 20](1) Trong phân tích về tạo hình kiến trúc, chúng tôi xem xem xét nó dưới góc độ nhãn quan nghề nghiệp kiến trúc với đầy đủ ý nghĩa này
Ngày nay lĩnh vực tái sản xuất của bất kỳ nghề nào, trong số đó có cả kiến trúc đã trở thành đối tượng cần nghiên cứu độc lập và tổ chức hoạt động giảng dậy trên cơ sở khoa học nhằm mục đích hoàn thiện nó Tiến hành khám phá toàn
bộ các vấn đề tạo thành nội dung của nó, các mối liên quan hệ và tương quan tạo được tính hữu hiệu của kết quả trong những điều kiện phát triển của xã hội hiện đại Xem xét sự biến đổi hình thức hoạt động của kiến trúc trên quan điểm lịch
sử và sự phù hợp của các phương pháp tái sản xuất của nghề nghiệp cho phép hiểu sâu hơn bản chất các hiện tượng xảy ra
Từ xa xưa việc tiếp thu kinh nghiệm của kiến trúc được dựa trên hai phương pháp có khả năng thực hiện:
• Qua những hình mẫu ở dạng vật chất (những công trình) bằng con
đường nhận thức các phương tiện và phương pháp tạo ra nó
• Bằng cách trực tiếp tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm sống từ những
hoạt động trong quá trình cùng làm việc giữa giáo viên và người học (thợ thủ công) theo nguyên tắc “hãy làm như tôi”
Mỗi phương pháp trong đó bên cạnh những ưu điểm có các thiếu xót dễ nhận thấy
(1) V.Glazưtrev cũng chia sẻ quan điểm này Ông viết: “Trong thời kỳ cổ đại và toàn bộ thời kỳ đầu của Trung Cổ, kiến trúc - đây không phải là nghề nghiệp mà là công việc Sự khác nhau ở đây không phải ở chất lượng hoạt động, không phải đo được đảm bảo đầy đủ bằng sự thông thạo hoặc hiểu biết đặc biệt Có thể là thế này hoặc thế kia Vấn đề nằm ở sự thiếu vắng nhu cầu thường xuyên với một dung lượng có thể đảm bảo có được hình ảnh hoàn hảo về tái
Trang 37sản xuất không ngừng của kỹ năng, việc chuyển tải không ngừng của hiểu biết trong giới hạn phường hội nghề nghiệp [39]
Trong trường hợp thứ nhất hình mẫu là tác phẩm mẫu mực nhất thường xuyên giữ được hình dáng của mình, cho khái niệm trọn vẹn về nó Việc tăng số lượng hình mẫu đã mở rộng các thông số về khả năng và phương pháp thực hiện nhiệm vụ cụ thể Tuy nhiên sẽ xuất hiện khó khăn khi giải đoán phương pháp hoạt động theo những hình thức giáo điều Mặt khác cần tính đến khả năng hạn chế tiếp thu các đối tượng - hình mẫu dùng để nhận biết bằng trực quan Cần hiểu rằng so với các khả năng hiện nay thì hình mẫu quan sát của hàng ngàn năm trước rất nghèo nàn Nó được lan truyền sang các khu vực lân cận bằng các phương tiện giao thông ở thời kỳ đó và có thể trở thành đối tượng quan tâm của những học sinh ham hiểu biết
Trong trường hợp thứ hai kinh nghiệm của thầy giáo tay nghề cao cũng bị hạn chế bởi khả năng tiếp xúc riêng lẻ Học sinh ít khi đi từ hợp tác xã thủ công này sang hợp tác xã thủ công khác, nhiều năm nếu không nói là cả đời chỉ giao tiếp với một thầy giáo, không có khả năng tiếp thu bài học của những người khác trong đó không ít những người lành nghề có kinh nghiệm Hơn nữa nghề thường được truyền từ đời cha sang đời con như là cuộc thi tiếp sức mang tính
kế thừa được giữ gìn dưới dạng bảo bối gia đình Nhận thấy còn yếu tố nữa: ở hình thức nắm bắt nghề nghiệp như đã nêu lúc đầu là thiếu tính độc lập hoặc ít
ra cũng biểu hiện nó ở mức tối thiểu - học sinh chủ yếu dựa trên sự lặp lại, mô phỏng
Đã đến lúc những nhược điểm này không còn vai trò thực sự và cần thoả mãn những nhu cầu của xã hội đòi hỏi ở kiến trúc cùng mối liên quan giữa số lượng và chất lượng Tuy nhiên cùng với sự phát triển tổ chức nhà nước và sự hoàn thiện các hình thức và phương pháp sản xuất ra vật chất, thương nghiệp, văn hoá và khoa học, tình hình đã thay đổi theo chiều hướng có sự phối hợp chung
Trang 38Cuối thời kỳ trung cổ (thế kỷ XVI) Trong phần lớn các nước phương Tây
đã hình thành nhà nước trung ương mạnh Từ những người nắm chính quyền - tăng lữ, nhà thờ, phong kiến - quý tộc, giai cấp tư sản mới ra đời, các nhà buôn
và thợ thủ công v.v… đã đưa đến các đơn đặt hàng kiểu mẫu mới cho các công trình, đặt ra những nhiệm vụ nghệ thuật phức tạp, quy mô cải tổ ngành xây dựng lớn lên và thêm những đòi hỏi đối với việc hoàn thiện về kết cấu khi xây dựng các công trình Kinh nghiệm trước đây không chứa đựng những tổng kết cô đọng bị coi là không đầy đủ Đến khi bắt đầu xây dựng công trình phức tạp đòi hỏi suy nghĩ hình thức của nó tương đối sâu, so sánh với các công trình khác tương tự công trình - mẫu, cố định ý nghĩ dưới hình thức hình vẽ hoặc mô hình Thực tế dẫn đến chuyên môn hoá hình thức hoạt động này gọi là thiết kế Thay những lời khuyên bằng trực tiếp xây dựng, giành thời gian để hoàn thiện lĩnh vực hẹp hơn - sáng tác đồ án nâng cao chất lượng tạo hình
Nghề kiến trúc được hình thành là một dạng đặc biệt hoạt động của con người với những nét gần với khái niệm ngày này về bản chất của nó Điều chủ
yếu trong đó là người kiến trúc sư đã rời bỏ công trường và hoạt động của anh ta
trở thành hoạt động của người thiết kế, người sáng tác đồ án của công trình
tương lai Trong hoạt động thiết kế tạo được sự rõ ràng rành mạch giống như sự
sắp đặt nó gọi là sáng tạo bố cục, còn với anh ta là phương diện định hướng
trong giáo dục “Khái niệm về bố cục xuất hiện và hình thành rõ ràng trong thời
kỳ Phục hưng, khi nhiệm vụ đặc biệt đứng trước các kiến trúc sư - mô tả kiến trúc trên cơ sở kết cấu cho trước Đây là nhiệm vụ thiết kế các mặt đứng và nội thất, bố cục trang trí kiến trúc và các hình điêu khắc của công trình” [158 tr, 40],
[23 tr, 164]
1.2 Lý thuyết và thực hành bố cục ở trường kiến trúc kinh viện
Đến thời gian này toàn bộ điều quan trọng lớn nhất bắt đầu từ những hiểu biết về kinh nghiệm kiến trúc - những hiểu biết một phần hoặc cô đọng bổ ích cho hoạt động nghề nghiệp có kết quả trong điều kiện mới đã hình thành Giá trị
Trang 39và đặc sắc nhất trong số đó là các trước tác nổi tiếng của Vitruvi, Alberti, Vinhiôla, Pallađiô chứa đựng những khuyến cáo không chỉ về sử dụng các thức cột và các chi tiết của nó mà cả các phương pháp xử lý bố cục các chi tiết kiến trúc, cầu thang, cửa sổ, cửa chính, các chi tiết tường v.v….{bảng 1, minh hoạ 1-5} Trong việc tổ chức học nghề, trong nội dung đổi mới, những tư duy sư phạm tiên tiến đối với thời gian đó được sử dụng, những tư duy này bắt nguồn
từ tiến bộ của văn hoá - khoa học và là kết quả của các thành tựu của nó (Russô,
Kômenski, Lôkk v.v…) Nói về việc đưa vào thực tế giáo dục có tính hệ thống
hoá điều chủ yếu của nó là nguyên tắc không mang tính thủ công, còn nguyên tắc học ở trường là trải qua hệ thống kiến thức nhất định dưới hình thức các môn học
Đối với việc đào tạo kiến trúc sư nói chung, các môn học lý thuyết được đưa vào: toán, vật lý, công việc xây dựng, hình họa v.v…Điều này dẫn đến nơi học tập không phải là công trường mà là lớp học với bàn và các bản vẽ trên đó Nghiên cứu các môn học và học thiết kế được thực hiện chủ yếu bằng tài liệu và phương pháp dậy học, trên cơ sở đó thực hiện việc giảng dậy và đào tạo kiến trúc sư Thực chất việc giảng dậy và đào tạo tồn tại như vậy đến tận ngày nay Trong giai đoạn chuyển từ thực hành ngoài thực tế sang hình thức trường học xa lạ để học nghề kiến trúc, việc lựa chọn các môn học, nội dung của nó và các phương pháp tác động của sư phạm được quyết định bởi các tiêu chí nghệ thuật của quốc gia, sự hiểu biết vai trò của kiến trúc và những đòi hỏi tương ứng đặt ra cho người kiến trúc sư, với các phẩm chất nghề nghiệp của anh ta
Gần ba trăm năm cho đến tận đầu thế kỷ XX học thuyết nghệ thuật kinh
viện đã thống trị ở tất cả các nước Tây Âu Trong chương đầu là những nguyên
tắc của kiến trúc cổ điển, xây dựng bố cục trên cơ sở các quy tắc thức cột Đến thời gian này thức cột đã mất đi nguồn gốc cấu trúc kiến tạo của mình và chủ yếu chỉ mang chức năng trình bày - trang trí Tổng hợp nghệ thuật với mỹ thuật
Trang 40khối, xử lý đường bao, tác động tương hỗ của các trục đối xứng, nhịp điệu các phân đoạn phù hợp với nguyên tắc mặt đứng Kinh nghiệm Cổ điển và Phục hưng tạo nên cơ sở tự nhiên của việc giảng dậy Trình độ đồ hoạ cao tạo nên giá trị không thể tách rời của hệ thống đào tạo này, hấp dẫn trong chừng mực nhất định ngay cả ở thời đại chúng ta
Đồng thời sự phát triển của khoa học và công nghiệp sẽ gặp phải những khó khăn và mâu thuẫn trong giải quyết các nhiệm vụ tạo hình trên cơ sở hợp thành các bản đúc có giá trị thẩm mỹ Học thuyết nghệ thuật kinh viện trở thành đối tượng bị chỉ trích Một số mưu toan khẳng định sẽ biến đổi tình hình, tìm và đề xuất cách giải quyết mới Ở các nước văn minh châu Âu, đặc biệt ở thế kỷ XX cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các ý kiến phát triển ngày càng lớn Cuộc đấu tranh này được phản ánh trong cuộc sống nghệ thuật, trong thực tế ngành kiến trúc và hoạt động của các trường kiến trúc Quá trình rõ ràng hơn cả diễn ra tại Pháp, là nước trong nhiều cách hành xử đã dẫn đầu trong việc tiếp thu những thành tựu khoa học kỹ thuật và phát triển văn hoá, chính vì vậy là mẫu mực trong tổ chức đào tạo kiến trúc nghệ thuật
1.3 Cuộc tranh luận về đổi mới đào tạo nghệ thuật – kiến trúc ở Pháp
do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và văn hoá ở thế kỷ XX
Giáo dục kiến trúc một cách có hệ thống của Pháp bắt đầu từ Viện Hàn lâm Kiến trúc được hình thành năm 1671 và đã giữ vai trò tiên phong trong việc hình thành truyền thống kiến trúc cổ điển cao, có phong cách Pháp tinh tế và những chuẩn mực nhân văn, dễ tiếp thu tiến bộ của khoa học và không phản đối những kinh nghiệm tương đối dũng cảm trong tạo hình, không vượt ra khỏi giới hạn của “ý nghĩ khoẻ mạnh” được xác định bởi phong cách
Nhưng Viện Hàn lâm không ít lần không vượt qua được những nhiệm vụ phức tạp hơn do cuộc sống đặt ra Đòi hỏi ngày càng lớn hơn ở các chuyên gia thuộc các khuynh hướng xây dựng hẹp Thiếu sự thay đổi cơ bản của chính khái niệm đào tạo, Viện Hàn lâm không thể trả lời câu chất vấn đặc biệt này Chính ý