TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ THỊ THU HIỀN PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP CHƯƠNG “ GIỚI HẠN”-ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH LỚP11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG BAN NÂNG CAO LUẬN V
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU HIỀN
PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP CHƯƠNG “ GIỚI HẠN”-ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH
LỚP11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ( BAN NÂNG CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
HÀ NỘI- 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ THỊ THU HIỀN
PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THÔNG QUA BÀI TẬP CHƯƠNG “ GIỚI HẠN”-ĐẠI SỐ VÀ GIẢI TÍCH
LỚP11 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ( BAN NÂNG CAO)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học
(Bộ môn Toán học)
Mã số: 601410
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Châu
HÀ NỘI- 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Giáo dục Đại học Quốc Gia Hà Nội đã giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài này
Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của GS.TS Nguyễn Hữu Châu Tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới thầy
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các
em học sinh Trường THPT Hoàng Văn Thụ, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hải Dương đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả hoàn thành bản luận văn này
Lời cảm ơn chân thành của tác giả cũng xin được dành cho người thân, gia đình và bạn bè, đặc biệt là lớp Cao học Lý luận và Phương pháp dạy học (bộ môn Toán) K4 trường Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, vì trong suốt thời gian qua đã cổ vũ động viên, tiếp thêm sức mạnh cho tác giả hoàn thành nhiệm vụ của mình
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong được lượng thứ và rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Hà Nội, tháng 11 năm 2010
Tác giả
Lê Thị Thu Hiền
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
3 Khách thể nghiên cứu
4 Giả thuyết nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Cấu trúc luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
1.1 Tư duy
1.2 Tư duy sáng tạo
1.3 Một số yếu tố cụ thể của tư duy sáng tạo
1.4 Dạy tư duy sáng tạo cho học sinh
1.5 Phương hướng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua dạy học môn toán
1.6 Học hợp tác trong lớp học
1.7 Hệ thống câu hỏi, bài tập chương “Giới hạn”- Đại số và Giải tích 11( ban nâng cao) - Tiềm năng phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
1.8 Kết luận chương 1
Chương 2: Thực tiễn dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở một số trường THPT hiện nay
2.1.Quá trình điều tra thực tiễn
2.1.1 Mục đích điều tra
2.1.2 Mẫu điều tra
2.1.3 Phương pháp điều tra
2.1.4 Công cụ điều tra
Trang
1
4
4
4
4
4
5
5
6
7
10
13
15
18
19
20
21
21
21
21
21
Trang 52.1.5 Mô tả quá trình điều tra
2.1.6 Một số nhận định
2.2 Kết luận chương 2
Chương 3: Một số biện pháp nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho
học sinh qua bài tập chương “ Giới hạn” Đại số và Giải tích lớp
11(ban nâng cao)
3.1 Một số biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh 3.1.1 Biện pháp 1: Xây dựng hệ thống bài tập chương “ Giới hạn” - Đại số và Giải tích 11(ban nâng cao) theo hướng bồi dưỡng những yếu
tố cụ thể của tư duy sáng tạo
3.1.2.Biện pháp 2: Giúp học sinh tăng cường vận dụng các thao tác trí tuệ như tương tự, đặc biệt hóa, khái quát hóa trong quá trình giải toán
3.1.3 Biện pháp 3: Giao đề tài cho học sinh theo nhóm
3.2 Thực nghiệm sư phạm
3.2.1 Mục đích thực nghiệm
3.2.2 Nội dung thực nghiệm
3.2.3 Tổ chức thực nghiệm
3.2.4 Đánh giá kết quả thực nghiệm
3.3 Kết luận chương 3
KẾT LUẬN TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC
22
33
36
37
37
77
86
99
99
99
107
107
110
111
112
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGK
SGKBT
Nxb
GV
HS
THPT
THCS
TC
VD
đpcm
: Sách giáo khoa
: Sách giáo khoa bài tập : Nhà xuất bản
: Giáo viên
: Học sinh : Trung học phổ thông : Trung học cơ sở : Tự chọn
: Ví dụ : Điều phải chứng minh
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu:
1.1 Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh là một nhiệm vụ quan trọng của nhà trường phổ thông
1.1.1 Trong nghị quyết Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ( khoá VII, 1993) về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào
tạo đã nhận định: “ Con người được đào tạo thường thiếu năng động, chậm thích
nghi với nền kinh tế xã hội đang đổi mới”, từ đó đã chỉ rõ một trong những quan
điểm chỉ đạo để đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo là phải: “ Phát triển giáo
dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu CNXH, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai”
Khi đề ra các chủ trương chính sách và các biện pháp lớn, nghị quyết trên đã
dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Chú ý bồi dưỡng những học sinh có năng khiếu” [20]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ II Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam ( khoá VIII, 1997) tiếp tục khẳng định: “ Phải đổi mới phương pháp giáo
dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học [1, tr.87]
Các quan điểm đổi mới về phương pháp dạy học nói trên đã được pháp chế hoá trong luật giáo dục Luật giáo dục nước ta ban hành năm 2005, trong chương I,
điều 5 quy định rằng: “ Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, chủ
động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Trang 8Trong giai đoạn đổi mới hiện nay, trước những thời cơ và thử thách to lớn,
để tránh nguy cơ bị tụt hậu, việc rèn luyện khả năng sáng tạo cho thế hệ trẻ càng cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết
1.1.2 Các nhà lý luận dạy học ngày nay đã tổng kết các thành phần của nội dung học vấn phổ thông và chức năng của từng thành phần đối với hoạt động tương lai của thế hệ trẻ Đó là:
- Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy, kỹ thuật và phương pháp nhận thức giúp học sinh nhận thức thế giới
- Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo giúp học sinh tái tạo thế giới
- Hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo giúp phát triển thế giới
- Thái độ chuẩn mực đối với thế giới và con người giúp học sinh xây dựng và phát triển quan hệ lành mạnh với thế giới xung quanh
Như vậy hoạt động sáng tạo là một trong bốn thành phần không thể thiếu của
1.2 Trong việc rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, môn Toán chiếm vị trí nổi bật
- Từ năm 1960, Đảng và nhà nước đã rất quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu toán học của học sinh trong đó biểu hiện cơ bản là suy nghĩ và vận dụng sáng tạo trong khi học toán
- Do đặc thù của môn Toán, có hệ thống bài tập đa dạng, phong phú mà một trong các chức năng quan trọng của nó là phát triển tư duy cho học sinh trong đó đỉnh cao là tư duy sáng tạo
- Tuy nhiên, theo tác giả Nguyễn Bá Kim, trong tình trạng hiện nay, phương pháp dạy học nói chung và dạy Toán nói riêng, ở nước ta còn có nhược điểm là: “
Thiên về dạy, yếu về học, thiếu hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo của người học”[15, tr.114] Còn có tình trạng quá thiên về rèn kỹ năng giải toán “ nhồi nhét cho học sinh hàng ngàn bài tập đủ các loại” [12], nặng về tăng cường độ lao động
mà nhẹ về rèn tư duy nhất là tư duy sáng tạo Học sinh luôn ở trong tình trạng “ quá tải”, học toán theo kiểu “ sôi kinh nấu sử” hoặc học theo kiểu “ứng thi” Cách dạy
và học đó làm học sinh học tập thụ động, trí thông minh ít có điều kiện phát triển,
Trang 9năng lực tư duy độc lập và sáng tạo bị hạn chế, sau này khó có thể tiến xa hơn trên con đường học tập, nghiên cứu khoa học cũng như trong các lĩnh vực khác của cuộc sống Như vậy, thực tế còn hỏi cần phải tìm ra các biện pháp thích hợp trong khi dạy toán để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao
về nguồn nhân lực của xã hội
1.3.Vấn đề phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu
- Trên thế giới, các công trình của nhà tâm lý học Mỹ Giulford và Torrance
đã nghiên cứu sâu về năng lực tư duy sáng tạo, bản chất của sự sáng tạo, khái niệm, cấu trúc, cơ chế và phương pháp chẩn đoán năng lực sáng tạo nói chung trong các lĩnh vực khác nhau
Việc bồi dưỡng năng lực sáng tạo cho học sinh trong nhà trường là chủ đề nhiều tác phẩm của các nhà tâm lý học, giáo dục học phương Tây, Liên Xô (cũ), Nhật Bản và Trung Quốc Đặc biệt trong tác phẩm “ Tâm lý năng lực giải toán của học sinh”, Crutecxki đã nghiên cứu cấu trúc năng lực toán học của học sinh Với tác phẩm “ Sáng tạo toán học” Polya – nhà toán học , tâm lý học- đã nghiên cứu bản chất của quá trình giải toán, quá trình sáng tạo toán học với một hiểu biết uyên bác với những kinh nghiệm giảng dạy của bản thân
- Ở Việt Nam,cũng có không ít các đề tài nghiên cứu về vấn đề này Các tác
giả Nguyễn Cảnh Toàn với cuốn: “ Tập cho học sinh giỏi toán làm quen dần với
nghiên cứu toán học”, Hoàng Chúng với: “ Rèn luyện khả năng sáng tạo toán học ở trường phổ thông”, Phạm Gia Đức và Phạm Văn Hoàn với cuốn: “ Rèn luyện kỹ năng công tác độc lập cho học sinh qua môn toán”, Nguyễn Bá Kim, Vương
Dương Minh và Tôn Thân với cuốn: “ Khuyến khích một số hoạt động trí tuệ của
học sinh qua môn toán ở trường THCS”, Trần Bá Hoành với bài viết đăng trên tạp
chí Nghiên cứu giáo dục: “ Phát triển trí sáng tạo cho học sinh và vai trò của giáo
viên” trong các công trình của mình đã giải quyết nhiều vấn đề về lý luận và thực
tiễn về việc phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Tuy nhiên, việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống lý luận có liên quan tới tư duy sáng tạo vẫn là cần thiết, đặc biệt là vận dụng vào quá trình dạy học các chủ đề cụ thể của chương trình môn Toán ở trường phổ thông
Trang 10Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu là: “Phát triển tư
duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập chương “Giới hạn”- Đại số và Giải tích lớp 11 trung học phổ thông (ban nâng cao)”
2 Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng các biện pháp nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập chương “ Giới hạn” - Đại số và Giải tích 11 trung học phổ thông ( ban nâng cao)
3 Khách thể nghiên cứu
Công tác bồi dưỡng và phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Hải Dương
4 Giả thuyết nghiên cứu:
Trên cơ sở chương trình và sách giáo khoa hiện hành, nếu xây dựng được hệ thống bài tập theo hướng phát triển tư duy sáng tạo và có phương pháp sử dụng thích hợp sẽ góp phần nâng cao chất lượng học tập của học sinh
5 Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu các biện pháp nhằm phát triển một số yếu tố cụ thể của tư duy
sáng tạo qua bài tập chương “ Giới hạn” - Đại số và giải tích lớp 11- chương trình nâng cao
- Thời gian: năm học 2008 - 2010
6 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống lại và làm sâu sắc thêm các vấn đề lý luận có liên quan tới khái niệm tư duy, tư duy sáng tạo, đặc biệt là một số yếu tố cụ thể của tư duy sáng tạo
- Điều tra thực trạng dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở một số trường THPT tại Hải Dương, qua đó đề xuất một số biện pháp để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
- Khai thác hệ thống bài tập chương “ Giới hạn” - Đại số và Giải tích 11 (ban nâng cao) nhằm bồi dưỡng một số yếu tố cụ thể của tư duy sáng tạo, đề xuất các phương pháp dạy học thích hợp để sử dụng hiệu quả hệ thống bài tập đó nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính khả thi và tính hiệu quả của đề tài
Trang 117 Phương pháp nghiên cứu:
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Nghiên cứu chương trình SGK đại số và giải tích 11 , sách toán tham khảo liên quan đến chương “ Giới hạn”, tài liệu bồi dưỡng giáo viên lớp 11
- Nghiên cứu các tài liệu về tâm lý học dạy học, giáo dục học và lý luận dạy học môn toán
- Nghiên cứu tìm hiểu và phân tích các sách báo, tài liệu và các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài
7.2.Phương pháp điều tra xã hội học:
- Quan sát tiến trình dạy học, thái độ học tập của các em trong những giờ dạy thực nghiệm và không thực nghiệm
- Phỏng vấn, điều tra bằng phiếu hỏi đối với giáo viên tổ toán và học sinh khối 11 về thực trạng dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh và những khó khăn trong khi dạy và học chương “Giới hạn” trong chương trình toán trung học phổ thông
- Mẫu khảo sát: Các lớp 11A1, 11A2 trường THPT Hoàng Văn Thụ, lớp
Dương Giáo viên tổ toán trường THPT Hoàng Văn Thụ- TH Hải Dương và một số giáo viên giàu kinh nghiệm ở một số trường lân cận
7.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:
- Dạy thực nghiệm, kiểm tra kết quả trước và sau khi thực nghiệm của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng
- Xử lý số liệu điều tra, số liệu thu được từ các bài kiểm tra trong quá trình thực nghiệm nhằm bước đầu kiểm chứng tính khả thi và tính hiệu quả của giả thuyết nghiên cứu
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục, tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
- Chương 2: Thực tiễn dạy học phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh ở một
số trường THPT hiện nay
- Chương 3: Một số biện pháp nhằm phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh thông qua bài tập chương “ Giới hạn”- Đại số và Giải tích lớp 11( ban nâng cao)
Trang 12CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tư duy
Theo từ điển triết học: “ Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận Tư duy xuất hiện trong quá trình sản xuất
xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật Tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hóa, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chúng, việc đề xuất những giảt thiết, những ý niệm…Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó”
Ngoài ra tư duy còn được rất nhiều các nhà tâm lý học nghiên cứu, một trong những nghiên cứu đầy đủ nhất của tư duy đã được trình bày trong công trình của X.L Rubinstêin Theo ông thì “ Tư duy- đó là sự khôi phục trong ý nghĩ cuả chủ thể với khách thể với mức độ đầy đủ hơn, toàn diện hơn so với các tư liệu cảm tính xuất hiện do tác động của khách thể” Còn theo “ Tâm lý học đại cương” của Nguyễn Quang Cẩn thì tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật hiện tượng bằng những hình thức như cảm giác, tri giác, biểu tượng, phán đoán, suy luận
Từ những quan điểm trên, ta có thể rút ra các đặc điểm nổi bật của tư duy:
-Tư duy là sản phẩm của bộ não con người, là một quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan
- Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ và được thể hiện qua ngôn ngữ
- Bản chất của của tư duy là sự phân biệt, sự tồn tại độc lập của đối tượng được phản ánh với hình ảnh nhận thức được qua khả năng nhận thức của con người nhằm phản ánh đối tượng