Đánh giá chung: Nhìn chung, môi trường kinh tế - xã hội Việt Nam ổn định, hoạt động đầu tư tăng mạnh, tiêu dùng trong nước gia tăng, là điều kiện để phát triển sản xuất.. Tác động của m
Trang 1BÁO CÁO
Kinh tế: tăng trưởng cao, lạm
phát cao: lo ngại trong ngắn hạn nhưng khả quan trong dài hạn
Ngành thủy sản: Nhu cầu trên
thế giới tăng cao, cung không đáp ứng đủ cầu
Những rủi ro: tranh chấp thương
mại, những quy định về vệ sinh
an toàn thực phẩm, vấn đề về thương hiệu
Trụ sở chính:
Tầng 5, tòa nhà HANESC
152 Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội Chi nhánh HCM:
193-203 Trần Hưng Đạo, Quận 1
Phone: (84-4) 7280921 Fax: (84-4) 7280920 E-mail: info@tvsi.com.vn
Contact person:
Hoàng Xuân Quyến
Phòng Nghiên Cứu và Tư Vấn Đầu Tư
T A N V I E T
S E C U R I T I E S
Tháng 8 ,2007
Các qui định của nhà nước
đối với ngành thủy sản
3
Khái quát về thị trường
ngành thủy sản
4
Dự báo sự phát triển và
những rủi ro
6
Các doanh nghiệp hàng
đầu trong ngành thủy sản
8 MỤC LỤC
Trang 2Chỉ tiêu % so cùng kỳ 2006
Vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN thực hiện (so với kế hoạch 43,8
Nguồn: Tổng cục thống kê
Một số chỉ tiêu chủ yếu đạt được 6 tháng đầu năm 2007
Tăng trưởng GDP
7.20% 7.40% 7.80%
8.20% 7.70% 7.90% 8.50% 9.00%
Quí 1 06 Quí 2 06 Quí 3 06 Quí 4 06 Quí 1 07 Quí 2 07 Quí 3.
07(F)
Quí 4 07(F)
TỔNG QUAN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng ở mức cao khoảng 8% mỗi năm và được hứa hẹn sẽ giữ vững trong một thời gian dài Năm 2007, năm đầu tiên thực hiện chính sách kinh tế theo cam kết với tư cách là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đánh dấu viễn cảnh tươi sáng của nền kinh tế Việt Nam trong tương lai gần Trải qua 6 tháng đầu năm, nền kinh tế Việt Nam bước đầu đạt được những kết quả khả quan Tốc độ tăng trưởng GDP 6 tháng đầu năm 2007 của Việt Nam khả quan, đạt mức 7,87% so với kế hoạch năm là 8,2%-8,5% Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn cần khắc phục trong thời gian đầu hội nhập với nền kinh tế thế giới Lạm phát ngoài mong đợi vẫn
là điều đáng lo ngại Số liệu thống kê gần đây nhất cho thấy tỷ lệ lạm phát trong năm 2007
sẽ vào khoảng từ 7% đến 8% cao hơn dự đoán 1% đến 2%
Tỷ lệ lạm phát trong năm
2007 sẽ vào khoảng từ
7% đến 8% cao hơn dự
đoán 1% đến 2%
Trang 3THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Thị trường chứng khoán Việt Nam 6 tháng đầu năm 2007 đánh dấu sự tăng trưởng mạnh về giá trị giao dịch, số lượng và giá trị các đợt IPOs, số lượng nhà đầu tư và các công ty chứng khoán
Nếu tính đến cuối năm 2006, cả nước có 106.393 tài khoản giao dịch chứng khoán, tăng 191,49% so với năm 2005, thì chỉ trong 6 tháng đầu năm 2007 đã có thêm hơn 140.000 tài khoản được mở, đặc biệt là trong quý I/2007 Bên cạnh đó, chúng ta lại chứng kiến sự ra đời và đi vào hoạt động của hàng loạt các công ty chứng khoán, từ chỉ có 22 công ty chính thức đi vào hoạt động vào cuối năm 2006 thì tính đến cuối tháng 6/2007, tổng số công ty chứng khoán đã hoạt động hiện nay lên đến hơn 50 công ty
Nếu tính đến cuối năm 2006, tổng giá trị vốn hóa thị trường khoảng 217 nghìn tỷ đồng, bằng 22,7% GDP; thì đến nay, mức tổng vốn hóa này đã đạt 309 nghìn tỷ đồng (tương đương 31,73% GDP) Bên cạnh đó, vốn hóa của thị trường trái phiếu đạt hơn 80 nghìn tỷ đồng (tương đương 8% GDP), vượt dự kiến của UBCKNN là tổng giá trị vốn hóa thị trường đạt 30% GDP đến năm 2010
Đánh giá chung:
Nhìn chung, môi trường kinh tế - xã hội Việt Nam ổn định, hoạt động đầu tư tăng mạnh, tiêu dùng trong nước gia tăng, là điều kiện để phát triển sản xuất Việt Nam là quốc gia có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển về nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản Trong những năm qua, tốc độ phát triển của ngành tăng khá tốt trong đó thủy sản có tốc độ tăng cao nhất, kế đến là nông sản và lâm sản So với 6 tháng đầu năm 2006, nhóm ngành kinh tế Nông-Lâm nghiệp và Thủy sản tăng 2,67 %; đóng góp 20,7% vào GDP
Tác động của môi trường đầu tư đối với ngành thuỷ sản: Ngành thuỷ sản là ngành kinh tế xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, trong những năm qua ngành thuỷ sản có sự tăng trưởng mạnh mẽ Trong quá trình tham gia hội nhập kinh tế, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp khuyến khích và tạo sự thông thoáng cho hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp, đây là cơ hội để ngành thuỷ sản phát triển Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích đầu tư và huy động các nguồn lực trong nền kinh tế đầu tư vào ngành thuỷ sản, quyết tâm đưa ngành thuỷ sản thành một ngành xuất khẩu hàng đầu của nền kinh tế
CÁC QUI ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGÀNH THỦY SẢN
• thuế xuất khẩu cho mặt hàng thủy sản là 0%
• thuế giá trị gia tăng cho kinh doanh thủy sản là 5% - 10%
• đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản, mức thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng là 28%
• khi tham gia WTO, Bộ Thủy sản dự kiến lộ trình và mức thuế cam kết với WTO như sau:
Nhóm hàng 2006 (%) 2010 (%)
Gia nhập WTO, mặt
hàng
thủy sản được giảm thuế
nhiều nhất Tổng kim
ngạch xuất khẩu tăng
15,5% so với cùng kỳ
2006
Trang 4KHÁI QUÁT VỀ THỊ TRƯỜNG NGÀNH THỦY SẢN
Ngành Thủy sản Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào nền kinh tế quốc dân
và mục tiêu phát triển của đất nước thông qua những ảnh hưởng của ngành về sản xuất thực phẩm, tạo việc làm và xuất khẩu Thủy sản đã chiếm hơn 4% GDP của nền kinh tế quốc dân Xuất khẩu thủy sản đứng vị trí thứ 4 (sau dầu hỏa, may mặc và giày da) là một trong các lĩnh vực xuất khẩu thu về nguồn ngoại tệ chủ yếu cho Việt Nam Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu thủy sản bình quân giai đoạn 2001 – 2006 là 12%/năm
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của bộ thủy sản
Từ năm 2002 cho đến nay, Việt Nam đã có tên trong tốp 10 nhà Xuất Khẩu Thủy Sản (XKTS) đứng đầu thế giới Năm 2006 được xem là năm bắt đầu cho một nhịp sóng tăng trưởng mới của XKTS Mặc dù thị trường Mỹ bị thu hẹp nhưng Việt Nam lại tìm
ra thêm nhiều thị trường mới đầy tiềm năng ở các nước Ðông Âu, Trung Ðông, Châu Phi
Về cơ bản, xuất khẩu thuỷ sản trong năm 2006 vừa được mùa vừa được giá và kết quả
là năm 2006 Việt Nam đã xuất khẩu 821.680 tấn sản phẩm với giá trị 3,358 tỷ USD, tăng 30,16% về khối lượng và 23,09% về giá trị so với năm 2005
Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của Bộ Thủy Sản
SẢN LƯỢNG THỦY SẢN CỦA VIỆT NAM 1997 - 2006
0.0 500.0 1000.0 1500.0 2000.0 2500.0
1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006
NĂM
0.0 500.0 1000.0 1500.0 2000.0 2500.0 3000.0 3500.0 4000.0
Sản lượng khai thác Sản lượng nuôi trồng Tổng sản lượng
Việt Nam có tên trong
tốp 10 nhà xuất khẩu
thủy sản đứng đầu thế
giới
Trang 5Sản phẩm thuỷ sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, đứng chân vững chắc trên các thị trường truyền thống và dần trở nên quen thuộc trên các thị trường mới Cơ cấu thị trường chuyển biến theo hướng tích cực Dẫn đầu vẫn là thị trường Nhật Bản (842,6 triệu USD) chiếm tỷ trọng 25,09% Thị trường EU (723,5 triệu USD) đã vượt lên vị trí thứ hai, chiếm 21,55% thị phần; Mỹ (664,3 triệu USD) lùi xuống vị trí thứ ba với
tỷ trọng 19,78% Các thị trường lớn tiếp theo phải kể đến là Hàn Quốc (210,3 triệu USD), Ôxtrâylia (126,5 triệu USD), Nga (126,4 triệu USD)
Trong các sản phẩm thủy sản xuất khẩu của Việt Nam, tôm vẫn là mặt hàng chủ lực, chiếm 42,59% về giá trị, tiếp đến là cá đông lạnh 31,86% Năm 2006 đã trở thành một năm thành công của mặt hàng cá Tra, Basa Sản phẩm này đã được xuất khẩu đến hơn 40 thị trường với mức tăng trưởng nhanh, gấp 2 lần so với năm 2005, sản lượng xuất khẩu đạt 286.600 tấn, giá trị 736,9 triệu USD, trong đó EU chiếm gần 50% thị phần Ðặc biệt, đây
là mặt hàng được tiêu thụ mạnh cả ở thị trường đã bắt đầu trở thành truyền thống là EU lẫn các thị trường mới ở châu Á, châu Ðại Dương, châu Mỹ
ĐÁNH GIÁ FIVE FORCES
Khả năng mặc cả của nhà cung cấp
Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản của các hộ nông dân vẫn còn mang tính tự phát, nhỏ lẻ, manh múm Các doanh nghiệp hiện nay vẫn tách rời hoạt động sản xuất với hoạt động chế biến và tiêu thụ hàng hoá Đây chính là 2 nguyên nhân cơ bản nhất dẫn đến tình trạng mất cân đối giữa sản lượng và thị trường
Khi nguồn cá nguyên liệu khan hiếm, các doanh nghiệp phải chấp nhận mua với giá rất cao dẫn tới lợi nhuận thấp Khả năng mặc cả của nhà cung cấp rất mạnh
Khả năng mặc cả của người mua
Hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các sản phẩm thủy sản chế biến ngày càng đa dạng hơn Người tiêu dùng có nhiều lựa chọn giữa các mặt hàng đến từ các quốc gia xuất khẩu khác nhau Do vậy, khả năng mặc cả của người mua là rất cao
Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện hữu
Các mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam phải cạnh tranh với các đối thủ chính từ châu Á là Thái Lan, Trung Quốc và Indonexia trên các thị trường truyền thống của Việt Nam là Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU,các nước châu Á khác và ngay chính ở thị trường nội địa
Sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện hữu rất lớn
Rào cản gia nhập thị trường
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam phải cam kết giảm thuế nhập khẩu đối với mặt hàng thủy sản Như vậy, ngày càng có nhiều sản phẩm của các quốc gia xuất khẩu khác trên thị trường nội địa Thêm vào đó, nhà nước phải bãi bỏ các ưu đãi cho các doanh nghiệp thủy
Dịch cúm gia cầm bùng
phát ở nhiều khu vực
trên thế giới nên người
tiêu dung có khuynh
hướng ưa chuộng các
sản phẩm từ thủy sản
Trang 6Sản Việt Nam khi xuất khẩu sang các quốc gia khác Rào cản gia nhập thị trường ngày càng giảm
Mối đe dọa từ các sản phẩm thay thế
Các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm thực phẩm thuỷ sản là các loại thịt và các chế phẩm từ thịt Hiện nay, do dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiều khu vực trên thế giới nên người tiêu dung có khuynh hướng ưa chuộng các sản phẩm từ thủy sản
hơn Mối đe dọa từ các sản phẩm thay thế rất ít
Kết luận
Ngành thủy sản Việt Nam đang có những điều kiện thuận lợi để phát triển do nhu cấu thủy sản thế giới tăng cao Tuy nhiên, các doanh nghiệp thủy sản sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa cũng như thị trường xuất khẩu Thêm vào
đó, do không chủ động được nguồn nguyên liệu đầu vào, ngành thủy sản đang gặp khó khăn về việc kiểm soát chất lượng và giá thành
DỰ BÁO SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH
Dự báo nhu cầu tiêu thụ của thủy sản thế giới:
Nhu cầu tiêu thụ bình quân: mức tiêu thụ thủy sản bình quân đầu người vào năm
2020 từ 14.2 kg/người/năm đến 19 kg/người/năm
Tăng trường nhu cầu tiêu thụ thủy sản hằng năm: từ 2006 – 2020 từ 2% đến 3.9% Theo dự báo đến năm 2010, mức tiêu thụ thủy sản nội địa là 26 kg/người Thi trường nội địa sẽ có những bước phát triển mới, đạt mức tăng từ 20-30%/năm
Dự báo nguồn cung thủy sản thế giới:
Khai thác: phần lớn các nghề khai thác đã đạt hoặc gần đạt mức giới hạn tối đa với sản lượng là 100 triệu tấn
Nuôi trồng: tăng trưởng trung bình hằng năm giai đoạn 2006 – 2020 của toàn thế giới khoảng 4.5% (theo dự báo của FAO và IFPRI)
Như vậy khả năng cung không đáp ứng đủ cầu là rất cao Vì tính chung lại, sản lượng cung cấp chỉ tăng từ 1.35 – 1.5%/năm trong khi nhu cầu tăng từ 2 – 3.9%/ năm
Từ mức dự báo về cung cầu thủy sản thế giới như trên, chúng ta có thể thấy rằng ngành thủy sản Việt Nam có tiềm năng phát triển mạnh Dự báo một vài chỉ tiêu cơ bản của ngành thủy sản Việt Nam như sau:
Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010
Sản lượng thủy sản (triệu
Tốc độ tăng trưởng sản
Sản lượng thủy sản khai
Tốc độ tăng trưởng sản
Sản lượng thủy sản nuôi
Tốc độ tăng trưởng sản
Kim ngạch xuất khẩu
Tốc độ tăng trưởngkim
Nhu cầu thủy sản thế giới:
cung không đáp ứng đủ
cầu
Sản lượng cung cấp tăng
từ 1.35-1.5% trong khi
nhu cầu tăng 2-3.9%/năm
Trang 7Ngành thủy sản đang trong thời kỳ tăng trưởng nên có nhiều thuận lợi để đạt và vượt kế hoạch và đạt được mức dự báo như trên
NHỮNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THỦY SẢN
Thị trường xuất khẩu
Thị trường thủy sản thế giới (Mỹ, Nhật, EU,…) ngày càng đòi hỏi khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm Những tiêu chuẩn này có thể thay đổi theo từng thời kỳ, thường là bổ sung hoạt chất cấm sử dụng hoặc quy định mức tối thiểu về dư chất kháng sinh Ví dụ điển hình như Nhật Bản tiến hành kiểm tra dư lượng AOZ đối với 100% mặt hàng tôm có xuất xứ từ Việt Nam ,…
Thủy sản Việt Nam đang phải ngày càng đối mặt với các vụ kiện thương mại liên quan đến bán phá giá Trong vụ kiện bán phá giá tôm với Mỹ, mức thuế cuối cùng
áp cho Việt Nam là 26% - áp dụng với toàn ngành Nhưng mức thuế riêng đối với doanh nghiệp có đủ điều kiện, trung bình chỉ là khoảng 5% Từ vụ kiện các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa Việt Nam bị kiện bởi Hiệp hội các nhà nuôi cá da trơn của Mỹ (CFA) cho thấy các vụ kiện chống bán phá giá sẽ còn tiếp tục diễn ra
Nguyên liệu đầu vào
- Hiện nay, khối lượng thủy sản xuất khẩu tăng cao khiến nguồn nguyên liệu ngày càng khan hiếm Thông tin từ Hiệp hội Thuỷ sản cho biết, nhiều DN đã phải nhập khẩu nguyên liệu Tình trạng thiếu hụt nguyên liệu và đặc biệt là con giống (cá giống, tôm giống) đang gây một áp lực không nhỏ lên các doanh nghiệp thủy sản Tình trạng thiếu hụt này còn dẫn đến giá nguyên liệu đầu vào tăng cao, nên một số doanh nghiệp trong ngành tuy có doanh thu lớn nhưng lợi nhuận đạt thấp
Cạnh tranh trên thị trường nội địa
Với việc gia nhập vào WTO, Việt Nam phải từng bước cắt giảm thuế suất nhập khẩu thủy sản Điều này đồng nghĩa với việc bảo hộ của Nhà Nuớc dành cho các doanh nghiệp thủy sản sẽ giảm đi Các doanh nghiệp thủy sản trong nước sẽ phải cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa
Vấn đề về thương hiệu
Phần lớn xuất khẩu thủy sản của các doanh nghiệp là thông qua trung gian và được phân phối ra thị trường thế giới dưới nhiều nhãn hiệu khác nhau Điều này
đã hạn chế sự quảng bá thương hiệu của thủy sản Việt Nam và có thể dẫn đến những vụ tranh chấp thương hiệu
KẾT LUẬN CHUNG
Với những dự báo khả quan về sự phát triển của nghành thủy sản Việt Nam như trên (tốc độ tăng trưởng khoảng 10%/năm), cùng với tiến trình hội nhập WTO và
sự phát triển của thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp thủy sản trong nước đang có những điều kiện hết sức thuận lợi trong việc quảng bá thương hiệu, nâng cao năng lực tài chính, hiện đại hóa trang thiết bị sản xuất từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng các điều kiện về vệ sinh an toàn thực phẩm của thị trường thế giới…Tuy nhiên, các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam cũng gặp khó khăn không ít trong việc hội nhập với môi trường thương mại quốc tế: tranh chấp thương mại, những quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm, vấn đề về thương hiệu,
…đồng thời phải ổn định nguồn nguyên liệu đầu vào về giá và cả số lượng lẫn chất lượng
Từ đầu năm đến nay,
sản phẩm cá tra, cá
basa của 4 công ty của
Việt Nam đã tạm thời
bị cấm nhập khẩp vào
Nga, còn các sản phẩm
tôm của Việt Nam khi
nhập khẩu vào thị
trường Nhật Bản cũng
bị kiểm tra 100%
Trang 8CÁC CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ DOANH NGHIỆP THỦY SẢN
THÔNG TIN VỀ GIÁ CỔ PHIẾU
CHỈ TIÊU TÀI CHÍNH CƠ BẢN (NĂM 2006)
TÊN CÔNG TY ABT AGF ICF FMC MPC TS4 Hiệu quả kinh doanh
Tỷ suất lợi nhuận gộp
17.57
12.07
14.69
8.55
10.70
13.38 Lãi trên tổng tài sản
21.29 9.95 4.34 14.50 7.56 7.11
Lãi trên vốn chủ sở hữu
34.76
15.52
9.08
27.85
11.20
12.18 Khả năng thanh toán & an toàn vốn
Khả năng thanh toán ngắn hạn
1.94 1.65 1.05 1.33 2.74 2.05
Khả năng thanh toán nhanh
1.47 1.07 0.37 0.50 2.30 1.54
Nợ trên vốn chủ sở hữu
0.63
0.56
1.09
0.92
0.48
0.71 Tỷ suất nợ
0.39 0.36 0.52 0.48 0.32 0.42
Hiệu quả sử dụng tài sản
Vòng quay hàng tồn kho
15.60
12.33
3.27
10.62
9.65
9.77 Hiệu suất sử dụng tài sản
2.81 2.54 1.09 4.25 1.31 1.61
TÊN CÔNG TY AGF ABT FMC ICF TS4 MPC Giá cổ phiếu (10/8/2007)
98,000 107,000 54,000 28,600 43,000 53,700
Giá thấp nhất trong 52 tuần
54,500 90,000 66,000 26,000 18,000 50,000
Giá cao nhất trong 52 tuần
162,000 157,000 120,000 65,800 67,000 95,000
Vốn hoá thị trường (tỷ đồng) 844 363 411 379 93 3,407
P/E 15.24 17.39 12.47 16.17 16.23 41.78 EPS
6,430 6,150 4,330 1,786 2,650 1,285 Cổ tức (2006) 20% 20% 10%
Trang 91 Công ty Cổ phần Nam Việt
Thị trường xuất khẩu lớn nhất của Navico là EU và Nga (6 tháng đầu năm 2006 chiếm 58% tổng doanh thu), tiếp đến là Châu Á, Châu Úc, Châu Mỹ,…
Cơ cấu cổ đông (tại 6/10/2006)
Doãn Tới 49,92%
91.24%
0.36%
Cá tra Cá basa Khác
Những điểm chính về Nam Việt
- Navico là doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa hàng đầu của Việt Nam hiện nay Trong năm 2006, Navico dẫn đầu trong số các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, cá basa với tổng khối lượng xuất khẩu đạt 49.192 tấn, kim ngạch đạt 110 triệu đôla Trong 4 tháng đầu năm 2007, Navico tiếp tục là doanh nghiệp dẫn đầu với 31.271 tấn cá xuất khẩu, đạt xấp xỉ 69 triệu đôla
- Với 2 nhà máy sản xuất chính là nhà máy Nam Việt và Thái Bình Dương, công ty còn đầu tư 3 nhà máy hỗ trợ là nhà máy bao bì, nhà máy PP và nhà máy nước đá nhằm khép kín quy trình sản xuất
- Navico có lợi thế là sở hữu hệ thống máy móc sản xuất đồng bộ, hiện đại và có công suất lớn so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành
- Công ty hiện có đại lý độc quyền phân phối sản phẩm tại thị trường tiêu thụ chính EU
Định hướng phát triển
- tìm kiếm đối tác phân phối độc quyền sản phẩm của Nam Việt vào thị trường Đông Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản)
- phát triển các loại sản phẩm giá trị gia tăng đã qua khâu sơ chế với chất lượng cao, giá cả phù hợp
- triển khai sản xuất dầu diesel chiết xuất từ mỡ cá tra và cá basa, dự kiến sản phẩm này đem lại nguồn lợi rất cao do đây là sản phẩm năng lượng sạch, rất được ưa chuộng ở các nước phát triển trên thế giới
Chỉ tiêu hoạt động các năm tới
Chỉ tiêu Giá trị % tăng
giảm so với năm trước
giảm so với năm trước
giảm so với năm trước
Trang 102 Công ty Cổ phần Xuất Nhập khẩu Thủy sản An Giang
Cơ cấu thị trường xuất khẩu năm 2006
Cơ cấu cổ đông (tại ngày 31/3/2007)
Cổ đông trong nước 41.18%
Cơ cấu doanh thu
Theo BCTC Quý 1/2007, doanh thu thành phẩm chiếm 86,7%, doanh thu hàng hóa chiếm 13,3% Doanh thu từ xuất khẩu chiếm 75,2% tổng doanh thu
65%
11%
10%
13% 1%
Tây Âu Đông Âu Châu Úc Châu Á và TT khác Mỹ+Canada
Những điểm chính về AGF
- Agifish là doanh nghiệp xuất khẩu cá Tra và cá Basa fillet đông lạnh đứng hàng thứ 2 trong năm 2006 (19.212 tấn)
- Agifish đã thành lập Liên hợp sản xuất cá sạch APPU, áp dụng mô hình sản xuất kinh doanh khép kín từ khâu sản xuất cá giống, phát triển sinh sản nhân tạo nuôi cá bè đến chế biến thuỷ sản đông lạnh xuất khẩu
- Lợi thế cạnh tranh của Agifish là ổn định được nguồn nguyên liệu đầu vào, có trang thiết bị máy móc hiện đại, và đã tạo được mối quan hệ đối tác với nhiều khách hàng lớn ở các thị trường nhập khẩu
- Ở thị trường trong nước công ty có trên 50 mặt hàng được chế biến từ cá Tra và cá Basa và mạng lưới phân phối, tiêu thụ rộng khắp
cả nước
Định hướng phát triển
- Nguyên vật liệu: phát triển liên hợp cá sạch APPU
- Đầu tư nâng cấp đổi mới công nghệ, thiết bị nhằm tăng năng suất sản xuất
- Thực hiện chiến lược đa dạng hoá sản phẩm, bằng cách tiếp cận nguồn nguyên liệu tại chỗ và các vùng nguyên liệu lân cận khác
- Củng cố phát triển sản phẩm vào thị trường Mỹ, châu Á, châu Âu và có sự quan tâm phát triển thị trường nội địa
- Đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh: xây dựng và lắp đặt các công trình công nghiệp, dân dụng, điện nước; kinh doanh bất động sản và các hoạt động có liên quan đến bất động sản Đặc biệt là các hoạt động đầu tư tài chính
Chỉ tiêu hoạt động năm 2007
Năm 2007 doanh thu AGF dự kiến đạt 1.500 tỷ đồng, tăng 25.4% so với năm 2006 Lợi nhuận sau thuế dự kiến đạt 50 tỷ đồng, tăng 10% so với năm 2006 Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu dự kiến ổn định ở mức thấp trong cả 2 năm 2007 và 2008, đạt khoảng 3.3% mỗi năm
Tình hình giao dịch cổ phiếu
- Cổ phiếu AGF có độ rủi ro bêta là 0.9, khối lượng giao dịch trung bình mỗi phiên khoảng 27,400 cổ phiếu
- AGF là cổ phiếu có tính thanh khoản cao và là sự lựa chọn của nhiều nhà đầu tư chuyên nghiệp