Lý do chọn đề tài Đình làng Lâu Thượng ĐLLT và đình làng Hùng Lô ĐLHL là hai ngôi đình tiêu biểu ở Phú Thọ được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, có nhiều giá
Trang 1VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Cao Thị Vân
NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ ĐÌNH LÀNG LÂU THƢỢNG VÀ ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ
(Thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ)
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Mỹ thuật
Mã số: 9210101
Hà Nội – 2020
Trang 2Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Cương
Phản biện 1:… ……… Phản biện 2:……… Phản biện 3:………
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng đánh giá luận án cấp Viện họp tại: VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM
Số 32, Hào Nam, Ô Chợ Dừa Đống Đa, Hà Nội
Vào hồi… giờ… ngày… tháng ….năm 20…
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đình làng Lâu Thượng (ĐLLT) và đình làng Hùng Lô (ĐLHL)
là hai ngôi đình tiêu biểu ở Phú Thọ được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, có nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa
và nhất là những giá trị cao về nghệ thuật Hai đình làng này vừa mang phong cách trang trí của thời Lê (gắn với sự ra đời của đình), vừa mang phong cách Nguyễn (gắn với quá trình tu bổ lớn) Tuy ĐLLT và ĐLHL đã được một số các tác giả đi trước quan tâm, tìm hiểu nhưng chủ yếu nghiên cứu từ góc độ lịch sử, văn hóa, kiến trúc, điêu khắc, Xuất phát từ tình hình thực tế này, NCS lựa chọn đề tài
Nghệ thuật trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) để làm luận án tiến sĩ, chuyên
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Luận án làm rõ tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận
và khái quát về ĐLLT và ĐLHL
- Luận án khai thác các hiểu hiện của nghệ thuật trang trí ĐLLT
và ĐLHL thông qua các hình thức trang trí, đề tài và đồ án trang trí
- Phân tích chuyên biệt các yếu tố nghệ thuật tạo hình như: bố cục, không gian và màu sắc trang trí ở ĐLLT và ĐLHL
Trang 4- Luận bàn về những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí của ĐLLT và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
3.2.1 Phạm vi không gian: Tại ĐLLT và ĐLHL ở Tp Việt Trì,
tỉnh Phú Thọ, qua hình thức trang trí như: chạm khắc, tượng, đắp nổi vôi vữa, hoành phi, câu đối, tranh vẽ trên ván gỗ cùng một số đồ thờ
3.2.2 Phạm vi thời gian: Dựa vào mốc ra đời của ĐLHL và
ĐLLT cùng thời điểm trùng tu tôn tạo năm 2008 Nên phạm vi nghiên cứu giới hạn từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XXI ở Việt Nam
4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu hiện
như thế nào trong các: hình thức, đề tài, đồ án, bố cục, không gian và màu sắc trang trí?
Câu hỏi 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL mang phong
cách tạo hình dân gian Việt Nam và được tiếp biến từ tạo hình mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ?
Câu hỏi 3: Đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí ĐLLT và
ĐLHL được biểu hiện như thế nào so với các ngôi đình khác trong hệ thống đình làng Việt Nam?
Trang 54.2 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL được biểu
hiện đa dạng trong các hình thức, đề tài, đồ án, bố cục, không gian cùng màu sắc trang trí
Giả thuyết 2: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL mang đậm
phong các tạo hình dân gian cùng mỹ cảm truyền thống dân tộc, mặt khác cũng có sự tiếp biến về tạo hình của mỹ thuật Trung Hoa và Ấn Độ
Giả thuyết 3: Nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL tuy mang nhiều
nét tương đồng so với những ngôi đình khác trong hệ thống đình làng Việt Nam nhưng vẫn có những đặc trưng và giá trị nghệ thuật riêng biệt
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu thứ cấp: thông qua
nghiên cứu sách báo, tạp chí trong và ngoài nước để tìm ra những ý tưởng khoa học mới cần làm sáng tỏ trong luận án
Phương pháp điền dã: thông qua các chuyến điền dã thực tế nhằm
giúp người viết thu thập, xác minh các dữ liệu phục vụ nghiên cứu
Phương pháp thống kê, so sánh: luận án thống kê các số liệu,
so sánh đối chiếu để tìm ra phong cách nghệ thuật trang trí điển hình của đối tượng nghiên cứu.
Phương pháp liên ngành: luận án dựa vào thành tựu nghiên
cứu của các ngành có liên quan tới luận án như: kiến trúc, lịch sử,
dân tộc, địa lý, văn hóa,…để từ đó luận giải các vấn đề trong luận án
Bên cạnh đó, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù trong ngành nghệ thuật học như: phân tích các yếu tố về bố cục,
về đường nét, họa tiết, ánh sáng, màu sắc, chất liệu, khối, không
Trang 6gian… từ đó rút ra những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí của đối tượng nghiên cứu
6 Những đóng góp mới của luận án
6.1 Đóng góp về mặt lý luận
Về phương diện lý luận và lịch sử mỹ thuật: là công trình nghiên
cứu khoa học chuyên biệt theo hướng tiếp cận nghệ thuật học, đóng góp bổ sung tư liệu vào kho tàng mỹ thuật dân gian Việt nam
Đối với nghệ thuật tạo hình: là tư liệu chuyên sâu về nghệ thuật
trang trí ĐLLT và ĐLHL trên cơ sở làm rõ các giá trị về nghệ thuật tạo hình
Với giáo dục thẩm mỹ: khơi dậy niềm đam mê yêu thích nghệ
thuật trang trí truyền thống của dân tộc Việt Nam
6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Góp phần bổ khuyết những khoảng trống về tư liệu của ĐLLT
và ĐLHL trong hệ thống đình làng Việt Nam
7 Cấu trúc của luận án
Luận án ngoài phần mở đầu (6 trang), kết luận (5 trang), tài liệu tham khảo (12 trang), phụ lục (70 trang), nội dung được kết cấu 4 chương: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (29 trang) Chương 2: Hình thức, đề tài và đồ án trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (57 trang)
Chương 3: Bố cục, không gian và màu sắc trang trí đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (37 trang)
Chương 4: Bàn luận về đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí
đình làng Lâu Thượng và đình làng Hùng Lô (31 trang)
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐÌNH LÀNG LÂU THƯỢNG, ĐÌNH LÀNG HÙNG LÔ 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Năm 1969, Chu Quang Trứ với bài viết nghiên cứu Về phong
cách và niên đại đình Lâu Thượng được lưu trong tài liệu nội bộ của
Viện nghiên cứu Mỹ thuật (1969) Tài liệu đã bước đầu phân tích, đánh giá khá tỉ mỉ về phong cách và niên đại của ĐLLT Tuy nhiên, một phần tạo nên tính thẩm mỹ cho ngôi đình là nghệ thuật trang trí vẫn chưa được tác giả quan tâm
Năm 1998, cuốn sách Đình Việt Nam của Hà Văn Tấn là công
trình lược tả về nguồn gốc xuất hiện cùng diễn biến kiến trúc qua thời gian, không gian, nghệ thuật điêu khắc của 100 ngôi đình tiêu biểu trên khắp đất nước Việt Nam, trong đó có nhắc tới ĐLLT và ĐLHL
Năm 2002, cuốn Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật của Chu
Quang Trứ, trong đó có bài viết “Đình Xốm với sự chuyển hóa từ đền sang đình” Phần lớn tác giả đi sâu phân tích về sự chuyển hóa kiến trúc mà chưa có nghiên cứu chuyên biệt về nghệ thuật trang trí
Năm 2013, cuốn Con đường tiếp cận lịch sử của Trần Lâm Biền,
tác giả khẳng định: “có một tạo hình Mạc đích thực, làm tiền đề cho một dòng chảy mỹ thuật dân dã phát triển tới cao đỉnh ở thế kỷ XVII Cũng không thể quên được đình làng Lâu Thượng, đình làng Hùng Lô một điển hình của dòng nghệ thuật riêng” [15, tr.369], đã phần nào cho thấy sự khác biệt của hai ngôi đình so với các ngôi đình khác
Trang 81.1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Năm 1930, cuốn Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ của Pierre
Gourou, là tài liệu đề cập được nhiều vấn đề liên quan tới địa lý, khí hậu, nông nghiệp, dân số, lệ làng… của những người nông dân vùng châu thổ Bắc Kỳ Đáng chú ý, tác giả đã mô tả sơ bộ về một ngôi “đình” mà theo
tác giả là “lớn nhất và đẹp nhất Bắc Kỳ” đó là Đình làng Đình Bảng
Ngoài ra còn có Léopold Cadière (1919) trong Les motifs L'art
Anamite (Họa tiết trong mỹ thuật An Nam) là công trình nghiên cứu chi
tiết về các mô típ trang trí của người An Nam với những bức vẽ rất đẹp và công phu trong các công trình ở đình, chùa, đền của người Việt; hay như
Marcel Bernanoss (1979) với nghiên cứu về Nghệ thuật trang trí ở Bắc Kỳ (chỉ dừng lại ở nghiên cứu về chùa); Kerry Nguyễn Long với Arts of Viet
Nam 1009 - 1945 (Nghệ thuật của Việt Nam từ 1009 - 1945)
Nhìn chung, có nhiều tư liệu viết về đình làng nhưng các tư liệu viết về ĐLLT và ĐLHL lại không có nhiều, nhất là những nghiên cứu
về nghệ thuật trang trí ở ĐLLT và ĐLHL thì hầu như chưa có
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1 Khái niệm cơ bản và thuật ngữ liên quan
1.2.1.1 Khái niệm cơ bản
- Khái niệm trang trí:
Theo định nghĩa trong Bách khoa thư nghệ thuật phổ thông (được viết bằng tiếng Nga), khái niệm trang trí được định nghĩa như sau:
Trang trí (decoration) là một tổng hợp những thuộc tính nghệ thuật để làm tăng vai trò biểu hiện cảm xúc và tổ chức
mỹ thuật của những tác phẩm nghệ thuật trong môi trường
Trang 9vật thể bao quanh con người Chiếm vị trí quan trọng trong việc tạo ra ấn tượng trang trí của tác phẩm nghệ thuật là: đồ trang trí, là sự biểu cảm những vẻ độc đáo tự nhiên của những chất liệu và những đặc tính cố hữu của các hình thức nghệ thuật, là tổ chức bố cục những nhịp điệu của đường nét, của các khối hình và các mảng màu sắc,… Trang trí là một trong những phương tiện nghệ thuật chính của những tác phẩm nghệ thuật trang trí tạo hình Trang trí có mặt như một thành tố cố hữu của các tác phẩm nghệ thuật tạo hình và nghệ thuật kiến trúc [141, tr.212 – 214]
- Khái niệm nghệ thuật trang trí:
Nghệ thuật trang trí là một lĩnh vực của nghệ thuật
tạo hình, mà những tác phẩm của nghệ thuật này, cùng với kiến trúc tạo ra một cách nghệ thuật một môi trường vật chất bao quanh con người, đem vào môi trường đó tính thẩm mỹ, tính tư tưởng và tính hình tượng Nghệ
thuật trang trí được chia ra thành Nghệ thuật trang trí hoành tráng gắn bó trực tiếp với kiến trúc (tạo ra các
hình trang trí kiến trúc, các bức tranh tường, các hình phù điêu, các bức tượng, các bức tranh kính, các bức tranh khảm… để trang trí mặt tiền, nội thất, thậm chí cả điêu khắc công viên … [141, tr.212]
Với hai khái niệm nêu trên là cơ sở khoa học để nghiên cứu nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL trên cơ sở phân tích các hình thức, đề tài, đồ án, bố cục, không gian cùng màu sắc trang trí
Trang 101.2.1.2 Thuật ngữ liên quan
+ Nhắc lại: là nhắc đi nhắc lại các yếu tố tạo hình nào đó như:
mảng, màu sắc, bố cục, họa tiết… làm cho đối tượng được trang trí trở nên nhất quán trong phong cách tạo hình
+ Xen kẽ: Xen kẽ các yếu tố tạo hình như: đậm – nhạt, nóng –
lạnh, to nhỏ, chi tiết - nền, sáng – tối … làm cho bố cục trở nên được chặt chẽ và sinh động hơn, tạo ra kết nối và tránh sự nhàm chán trong quá trình trang trí
+ Phá thế: là sử dụng các yếu tố tạo hình như: đường nét, khối,
họa tiết… để phá bỏ các đường, hướng, có xu thế gây nhàm chán, đơn điệu, có khả năng chi phối hay tạo ra sự lấn lướt các bố cục khác
+ Đảo chiều (xoay chiều): là nguyên tắc một hay một nhóm
họa tiết có xu hướng xoay chiều ngược lại với một hay một nhóm họa tiết khác trong một bố cục trang trí giúp cân bằng lại bố cục
Trang 11+ Vì nách (hay cốn): “Là cách liên kết các cấu kiện ở khoảng không gian, có hình tam giác vuông, tạo thành giữa cột cái và cột quân + Hoành phi, câu đối: là một trong những bộ phận không thể thiếu trong các ngôi đình làng, được xem như một phần của bố cục trang trí trong không gian đình
+ Cửa võng: Cửa võng được đặt phía trên cao, ngay gian giữa
khu trung đình trước khu vực khám thờ
* Một số thuật ngữ điêu khắc
Điêu khắc được chia thành 2 thể loại là: tượng và phù điêu
Theo Chu Quang Trứ trong Lược sử Mỹ thuật và mỹ thuật học viết:
+ Tượng tròn: “là loại hình nghệ thuật, tạo hình bằng cách kết hợp hình khối trong không gian ba chiều”… Khi thưởng thức ta có thể đi xung quanh tác phẩm ở nhiều hướng, nhiều diện khác nhau
+ Phù điêu: Phù điêu khác tượng tròn ở chỗ hình tượng nghệ thuật gắn với một mặt phẳng không gian hai chiều Phù điêu cũng có nhiều loại: chạm nổi hoặc chạm khắc nét chìm Hình tượng nhân vật
có thể có độ nổi cao thấp khác nhau”
1.2.2 Các hình thức trang trí đình làng
1.2.2.1 Chạm khắc: Chạm khắc là một trong những thành tố
quan trọng và có giá trị nhất trong nghệ thuật trang trí đình làng
1.2.2.2 Tượng: bao gồm tượng thờ và tượng trang trí
1.2.2.3 Phù điêu đắp nổi bằng vôi vữa (nề, ngõa): hình thức
này được trang trí phổ biến trên nghi môn, trụ biểu, nóc mái đình,
1.2.2.4 Tranh trang trí trên kiến trúc: Là hình thức dùng màu
sơn vẽ trực tiếp lên các ván gỗ và được gắn trên kiến trúc
Trang 121.2.2.5 Các loại đồ thờ: hương án, bát bửu, chấp kích… hoặc
vật dụng cá nhân của các vị thần bảo hộ làng
1.2.3 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.3.1 Thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa
Theo A.A.Radugin trong Từ điển bách khoa Văn hóa học cho rằng, thuật ngữ Cultural Acculturation 1 - “Tiếp nhận văn hóa” – là quá
trình một nhóm sắc tộc tiếp nhận văn hóa của một nhóm sắc tộc khác tiến
bộ hơn 2 - “Tiếp xúc văn hóa” – Trong quá trình tiếp xúc, hai bên bổ sung
và làm giầu thêm cho nhau về mặt văn hóa, bên có nền văn hóa cao giúp bên có nền văn hóa thấp rút ngắn được chặng đường phát triển 3 - “Tiếp thụ văn hóa” là quá trình một thành viên của một nền văn hóa tiếp thụ những nét chính yếu và nội dung của nền văn hóa đó [133, tr.448 - 450]
Lý thuyết này được áp dụng vào luận án Nghệ thuật trang trí
ĐLLT và ĐLHL để thấy đối tượng nghiên cứu có ít nhiều đã có sự giao
lưu, ảnh hưởng có chọn lọc văn hóa qua các thời kỳ để biến đổi trong
tư duy trang trí ở hai ngôi đình Cụ thể: 1 - Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Trung Hoa 2 - Giao lưu và tiếp biến với văn hóa Ấn Độ 3 - Giao lưu tiếp biến từ mỹ thuật truyền thống 4 - Giao lưu và tiếp biến với nghệ thuật trang trí ở các ngôi đình trong và ngoài khu vực Chính
sự giao lưu đa dạng giữa các nền văn hóa đã tạo nên một nghệ thuật trang trí có sự tiếp biến trong nghệ thuật tạo hình ở ĐLLT và ĐLHL
1.2.3.2 Lý thuyết Địa - văn hóa
Giai đoạn thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, đã có nhiều trường phái địa
lý văn hóa cổ điển được ra đời ở phương tây chủ yếu bàn về sự gắn bó mật thiết giữa địa lý, cảnh quan, dân số, Ngoài ra, theo một số quan điểm
Trang 13về địa văn hóa của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam như: Trần Quốc Vượng, Ngô Đức Thịnh khi cho rằng chính điều kiện tự nhiên sẽ tác động tới đặc trưng và sắc thái văn hóa vùng miền rõ nét Từ việc tìm hiểu lý thuyết này, NCS áp dụng vào đối tượng nghiên cứu để thấy rằng: Sự phân
bố địa lý đã có sự tác động tới nghệ thuật trang trí ĐLLT và ĐLHL
1.3 Khái quát về đình làng Lâu Thƣợng và đình làng Hùng Lô
1.3.1 Khái quát về đình làng Lâu Thượng
1.3.1.1 Lịch sử xây dựng đình làng Lâu Thượng
ĐLLT nằm trên một quả đồi thấp, thuộc xóm Mai, đồi Lâu Thượng nay thuộc TP Việt Trì Đình trông về hướng Nam, không rõ
về niên đại, được tu bổ lớn vào thời Nguyễn
1.3.1.2 Các vị thần được thờ ở đình làng Lâu Thượng
Đình thờ 4 vị trong đó: 1 - Cao Sơn báo quốc đại vương (Tản Viên Sơn thần) 2 - Ả nương Công chủ đại vương (Trưng Trắc) 3 -
Bình Khôi công chủ đại vương (Trưng Nhị) 4 - Như Tuy đại vương,
người họ Lý, húy là Hồng Liên (Thầy đồ dạy học)
1.3.1.3 Kiến trúc đình làng Lâu Thượng
ĐLLT là một ngôi đình có kiến trúc đồ sộ, làm theo kiểu chữ Đinh, 1 tầng mái, có 4 đầu đao cong Đình gồm 5 gian 2 chái Hậu cung được làm lồi ra phía sau ngăn cách với tòa đại đình bằng bức cửa gỗ
1.3.2 Khái quát về đình làng Hùng Lô