1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu Tiểu luận "Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán" ppt

43 899 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Hằng
Người hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Hồng Minh
Trường học Trường………………… Khoa…………………..
Chuyên ngành Kế toán và Kiểm toán
Thể loại Tiểu luận cá nhân
Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 372,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở đâu có hoạt động của con người ở đó cóhoạt động kiểm tra, kiểm soát, ở đâu có kế toán ở đó có kiểm tra kế toán.Kiểm tra kế toán phát triển từ thấp đến cao, xã hội phát triển xuất hiện

Trang 2

MỤC LỤC

Phần I: Khái quát chung về Kiểm toán 3

I Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới và tại Việt Nam 3

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới 3

II Khái niệm Kiểm toán 7

3 Vai trò của Kiểm toán nội bộ 18

Phần III: Những kiến nghị để nâng cao trách nhiệm của kiểm toán 27

1 Yêu cầu đặt ra đối với Kiểm toán 27

4 -Thực trạng đội ngũ kiểm toán viên ở Việt Nam 28

Tài liệu tham khảo: 42

Trang 3

Kiểm toán là một hoạt động không thể thiếu trong quá trình vận hành của nền kinh tếthị trường nhằm nâng cao chất lượng thông tin, giúp người sử dụng ra quyết định thíchhợp Một nền kinh tế phát triển lành mạnh với kênh cung cấp vốn từ thị trường chứngkhoán và ngân hàng đòi hỏi phải được cung cấp các dịch vụ kiểm toán có chất lượngcao.

Xã hội ngày càng phát triển, nền kinh tế ngày càng phức tạp, thông tin kinh tế càng

có nguy cơ chứa đựng rủi ro, sai lệch, thiếu tin cậy Đối tượng quan tâm đến thông tintài chính của doanh nghiệp không phải chỉ có Nhà Nước mà còn có các cấp quản lý, đốitác liên doanh và cả người lao động… Tuy từ nhiều gốc độ khác nhau nhưng tất cả cácđối tượng quan tâm đều có nguyện vọng chung là sử dụng thông tin có độ tin cậy cao,

độ chính xác và trung thực Nếu tất cả những người quan tâm đều phải tự tổ chức kiểmtra các thông tin tài chính của doanh nghiệp thì chi phí quá lớn Vì vậy cần thiết phải có

tổ chức độc lập, khách quan tiến hành kiểm tra các thông tin này để đáp ứng yêu cầucủa nhiều đối tượng sử d

Trang 4

ụng thông tin, đó chính là tổ chức kiểm toán.

Xuất phát từ những đặc điểm trên nên em đã chọn đề tài “Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán” Đề tài của em gồm 3 phần:

Phần I: Khái quát chung về kiểm toán

Phần II: Sự cần thiết và vai trò của kiểm toán tại Việt Nam

Phần III|: Những kiến nghị để nâng cao trách nhiệm của kiểm toán

Phần I: Khái quát chung về Kiểm toán

I Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới và tại Việt Nam

1 Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán trên thế giới

Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, Kiểm toán ra đời vào thế kỷ thứ IIITCN, gắn liền với nền văn minh của Ai Cập và La Mã cổ đại

Ở thời kỳ đầu Kiểm toán chỉ hình thành ở mức độ sơ khai với tên gọi là Kiểm toán cổđiển Biểu hiện là những người làm công việc ghi chép kế toán đọc to lên những số liệu,tài liệu kế toán cho một bên độc lập nghe và sau đó chứng thực Vì vậy từ “AUDIT”trong tiếng Anh có gốc từ Latinh “ Audire" có nghĩa là nghe

Trang 5

Cùng với sự phát triển của xã hội và sự phát triển của kế toán là sự phát triển khôngngừng của công cụ kiểm soát về kế toán Ở đâu có hoạt động của con người ở đó cóhoạt động kiểm tra, kiểm soát, ở đâu có kế toán ở đó có kiểm tra kế toán.

Kiểm tra kế toán phát triển từ thấp đến cao, xã hội phát triển xuất hiện của cải dư thừa,hoạt động kế toán ngày càng được mở rộng và càng phức tạp thì kiểm tra, kiểm soát về

kế toán và tài chính ngày một được quan tâm với mức độ cao

Từ thời kỳ cổ đại, kế toán được thực hiện chủ yếu bằng những dấu hiệu riêng trên cácsợi dây, thân cây, lá cây Hình thức này phù hợp với giai đoạn đầu của thời kỳ cổ đại do

xã hội còn chưa có của cải dư thừa, nhu cầu kiểm tra của quản lý còn ít và ở mức độđơn giản

Đến cuối thời kỳ cổ đại, sản xuất đã phát triển, của cải dư thừa ngày càng nhiều, người

sở hữu và người quản lý tài sản tách rời nhau Nhu cầu kiểm tra tài sản và các khoảnthu, chi ngày càng phức tạp, hình thức kế toán giản đơn không còn đáp ứng được yêucầu quản lý Vì vậy kiểm tra độc lập đã phát sinh trước hết ở La Mã, Pháp và Anh

Ở La Mã, vào thế kỷ thứ III TCN các nhà cầm quyền (người sở hữu tài sản) đãtuyển dụng các quan chức có chuyên môn và độc lập để kiểm tra các báo cáo của ngườiquản lý về tình hình tài sản của họ và đưa ra ý kiến chấp nhận hoặc yêu cầu sửa đổi cácbáo cáo này Hình thức kiểm tra được thực hiện bằng cách người quản lý đọc to các báocáo cho người kiểm tra độc lập nghe rồi chấp nhận

Ở Pháp, vua Charlemagne cũng theo tiền lệ của La Mã đã tuyển các quan chức caocấp phụ trách giám sát công việc quản lý, đặc biệt là các nghiệp vụ tài chính của cácquan chức địa phương và trình bày lại kết quả với Hoàng đế hoặc các vị cận thần

Ở Anh, theo văn kiện của Nghị viện, vua Edouard đệ nhất cho các Nam tước quyềntuyển dụng kiểm toán viên (Auditors), bản thân vua cũng cho đối chiếu lại các tài khoảnthuộc di chúc của cố Hoàng hậu Elonor

Trang 6

Từ trung đại trở đi, đã có sự hoàn thiện và phát triển dần của kế toán, chẳng hạn với cáckhoản giao dịch đã buộc cả 2 bên cùng ghi sổ, do đó phát sinh quan hệ đối chiếu nhưmột hình thức kiểm tra kế toán.

Đặc biệt từ thế kỷ XVI trở đi, sự xuất hiện của kế toán kép do một nhà toán học người

Ý là Luca Paciola đã khiến cho phương pháp tự kiểm tra của kế toán hoàn thiện hơn, đãđáp ứng đủ nhu cầu quản lý và an toàn tài sản lúc bấy giờ

Từ thế kỷ XVII – XX, các phương pháp kế toán và kỹ thuật thông tin phát triển đếnmức tinh xảo đã đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của quản lý

Đến năm 30 của thế kỷ XX xuất hiện sự phá sản của các tổ chức tài chính và khủnghoảng kinh tế, suy thoái về tài chính chức năng kiểm tra kế toán mới bộc lộ nhữngnhược điểm, đòi hỏi phải có sự kiểm tra ngoài kế toán và kiểm toán được phát triển trởlại

Năm 1934, uỷ ban giao dịch chứng khoán đã được thành lập và quy chế về kiểm toánviên bên ngoài bắt đầu có hiệu lực Đồng thời trường đào tạo kiểm toán viên côngchứng của Hoa Kỳ (AICPA) đã in ra mẫu chuẩn đầu tiên về báo cáo kiểm toán tàikhoản của các công ty

Năm 1941, viện Kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ (IIA) được thành lập đã đi vào hoạt động vàđào tạo các kiểm toán viên nội bộ Đồng thời viện đã xây dựng và ban hành hệ thốngchuẩn mực kiểm toán nội bộ Hoa Kỳ vào năm 1978

Tại Pháp, việc kiểm tra một cách độc lập của những chuyên viên bên ngoài đã đượcxác lập và thông qua bởi đạo luật về các công ty thương mại ngày 24/07/1966 Đồngthời kiểm toán nội bộ ở Pháp cũng đã được hình thành chính thức vào những năm 60của thế kỷ XX ở những công ty con thuộc tập đoàn ngoại quốc

Từ lịch sử phát triển Kiểm toán, nhận thấy rằng Kiểm toán ra đời là do nhu cầu kiểm trađộc lập các số liệu kế toán và thực trạng tài chính của các doanh nghiệp Trong quátrình phát triển Kiểm toán không chỉ giới hạn ở lĩnh vực kế toán tài chính mà được mởrộng sang các lĩnh vực kiểm soát, đánh giá cả hệ thống quản lý của doanh nghiệp;

Trang 7

không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp kinh doanh mà còn được mở rộng đến các đơn

vị sự nghiệp công cộng với vấn đề đánh giá lại hiệu năng quản lý của các đơn vị này

2 Lịch sử hình thành và phát triển của Kiểm toán tại Việt Nam

Ở Việt Nam, Kiểm toán nói chung cũng như kiểm tra kế toán nói riêng đã đượcquan tâm ngay từ khi bắt đầu xây dựng đất nước Trước năm 1975, ở miền Nam nước ta

đã có hoạt động Kiểm toán của các công ty kiểm toán độc lập dưới chế độ Việt Namcộng hòa thời Mỹ Diệm

Sau khi nước ta chuyển đổi cơ chế quản lý (năm 1986) từ kế hoạch hóa tập trungsang cơ chế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, ngày 13/05/1991 Bộ tài chính

đã kí hai quyết định thành lập hai công ty kiểm toán đầu tiên là công ty kiểm toán ViệtNam được thành lập lấy tên là VACO với 13 nhân viên và công ty dịch vụ kế toán ViệtNam với tên giao dịch ASC sau này đổi tên là công ty dịch vụ tư vấn tài chính, kế toán,kiểm toán – AASC (quyết định 639- TC/QĐ/TCCB ngày 14/09/1993) Số lượng công

ty kiểm toán đã tăng lên đáng kể và loại hình công ty cũng đa dạng hơn, tính đến tháng10/2006 ở Việt Nam đã có 81 công ty kiểm toán trong đó có 75 công ty đã đăng ký hoạtđộng tại BTC, gồm 3 DNNN (VACO, AASC, AISC) 4 công ty 100% vốn đầu tư nướcngoài (P&C, HPMG, E&Y, Grant Thomtion), 1 công ty liên doanh, 5 công ty hợp danh,

123 công ty cổ phần và công ty TNHH

Cùng với sự phát triển của kiểm toán độc lập, kiểm toán Nhà nước Việt Nam đượcthành lập theo NĐ số 70/CP ngày 11/07/1994 của chính phủ và đến ngày 13/08/2003được thay bằng NĐ số 93/2003/NĐ-CP Ngày 14/06/2005 luật kiểm toán Nhà Nướcđược Quốc hội ban hành và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2006 Đến nay kiểm toán Nhànước có 9 đơn vị kiểm toán khu vực : Khu vực I ( Hà Nội); Khu vực II (Vinh); Khu vựcIII (Đà Nẵng); Khu vực IV (TP HCM); Khu vực V (Cần Thơ); Khu vực VI (Hạ Long);Khu vực VII (Yên Bái); Khu vực VIII (Khánh Hòa); Khu vực IX (Tiền Giang)

Đồng thời kiểm toán nội bộ cũng đã được thành lập trong các doanh nghiệp có quy môlớn như: Tổng công ty hàng không, bưu chính viễn thông, dầu khí, điện lực,

Trang 8

II Khái niệm Kiểm toán

1.Khái niệm

Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động tài chính bằng hệ thốngphương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên

có trình độ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực

2 Các yếu tố chính trong khái niệm Kiểm toán

2.1 Chủ thể Kiểm toán

Chủ thể Kiểm toán là các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền Giữa các KTV và cácnhà quản lý trong công ty không có mối quan hệ thân thiết với nhau KTV cần phải giảiquyết mâu thuẫn một cách thành thực, không lẫn trốn trách nhiệm của mình trước các

cổ đông , phải độc lập về kinh tế cũng như độc lập về hoạt động nghiệp vụ KTV hoạtđộng theo quy định của pháp luật và được pháp luật bảo hộ và chịu trách nhiệm trướcpháp luật

2.2 Phương pháp Kiểm toán

Thu thập và đánh giá các bằng chứng Bằng chứng là thông tin mà KTV sử dụng đểxác định xem liệu thông tin đang được kiểm toán có được trình bày phù hợp với cácchuẩn mực hay không

là một phân xưởng, cửa hàng hoặc thậm chí là một cá nhân

Thời gian kiểm toán thường là 1 năm tuy nhiên cũng có trường hợp kiểm toán 1 kỳ, 1quý, 1 tháng hoặc là vài năm và trong một số trường hợp là thời gian tồn tại của tổ chứcđó

Trang 9

2.4 Căn cứ Kiểm toán

Căn cứ thực hiện Kiểm toán đó là các chuẩn mực kiểm toán đã được thiết lập Còn căn

cứ để đánh giá đối tượng kiểm toán được chọn và sử dụng tùy theo mục tiêu của kiểmtoán

2.5 Báo cáo Kiểm toán

Đây là khâu cuối cùng của quá trình kiểm toán Tùy theo mục đích, tính chất của cuộckiểm toán mà báo cáo kiểm toán đi từ báo cáo đơn giản đến phức tạp Nội dung báo cáokiểm toán phải thông tin cho người sử dụng thông tin về mức độ phù hợp giữa thông tin

số lượng và chuẩn mực đã được thiết lập

Phần II: Sự cần thiết và vai trò của Kiểm toán tại Việt Nam

I Sự cần thiết của Kiểm toán

Kiểm toán ra đời, phát triển do yêu cầu quản lý và phục vụ cho quản lý Kiểm toán làmột công cụ quản lý phát triển từ thấp lên cao, gắn liền với hoạt động kinh tế của conngười Từ khi kế toán ra đời con người biết khai thác công cụ kế toán vào quản lý Kếtoán cung cấp thông tin phục vụ quản lý Xã hội ngày càng phát triển thông tin kế toáncàng được mở rộng, đa dạng, phức tạp và chứa nhiều rủi ro Đồng thời xuất hiện nhiềuđối tượng quan tâm và sử dụng thông tin kế toán như Nhà nước, chủ doanh nghiệp, cổđông, nhà đầu tư, ngân hàng, các tổ chức tín dụng, người bán, người mua, người laođộng,…Thực trạng này xuất phát từ những nguyên nhân sau:

-Khoảng cách lớn giữa người sử dụng thông tin và người cung cấp thông tin và sự điềuchỉnh có lợi cho người cung cấp thông tin Xã hội càng phát triển kéo theo hoạt độngkinh tế càng phát triển, mở rộng và đa dạng Sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền

sử dụng tài sản ngày càng tăng, các thông tin được cung cấp ngày càng bị hợp pháp hóa

và thành tích hóa có lợi cho người cung cấp thông tin

-Khối lượng thông tin quá nhiều Xã hội càng phát triển thông tin càng phong phú, đadạng và khối lượng càng nhiều khả năng chứa đựng những thông tin sai lệch trongnhững thông tin đúng đắn ngày càng tăng

Trang 10

-Tính phức tạp của thông tin và nghiệp vụ kinh tế ngày càng tăng Xã hội càng pháttriển hoạt động kinh tế ngày càng đa dạng, các nghiệp vụ và thông tin ngày càng phứctạp, nguy cơ chứa đựng thông tin sai lệch là khó tránh khỏi

-Khả năng thông đồng trong xử lý thông tin có lợi cho người cung cấp thông tin ngàycàng lớn Xã hội càng phát triển các hiện tượng tiêu cực càng tinh vi với mức độ giatăng Khả năng cấu kết, thông đồng đem lại lợi ích cho người cung cấp thông tin ngàycàng lớn, rủi ro thông tin ngày càng cao

Để giảm thiểu rủi ro thông tin có 3 cách:

- Người sử dụng thông tin tự kiểm tra thông tin mà mình sử dụng Việc này không hiệuquả lại tốn kém không phù hợp với xu thế phát triển của thời đại Mặt khác còn bị giớihạn bởi năng lực của người sử dụng thông tin

- Người sử dụng thông tin chia sẻ rủi ro thông tin với người quản lý doanh nghiệp hayngười cung cấp thông tin Cách này có thể được thỏa thuận hai bên nhưng nó không thểchia sẻ được khi người cung cấp thông tin bị giải thể hoặc phá sản Lúc này mọi hậuquả đều dồn về người sử dụng thông tin

-Sử dụng thông tin trên BCTC khi đã được kiểm toán độc lập xác nhận Cách này rấthiệu lực, phát huy tính chuyên môn hóa sâu sắc, phù hợp với xu thế phát triển của thờiđại, tiết kiệm chi phí, đảm bảo lợi ích vật chất và tránh được hậu quả cho người sử dụngthông tin Đồng thời gắn chặt giữa trách nhiệm pháp lý và vật chất của kiểm toán viênvới những nhận xét, kết luận mà họ đã đưa ra

Mặt khác, kiểm tra kế toán được thực hiện thông qua cơ chế duyệt quyết toán chủ yếuđược tiến hành trên tài liệu, giấy tờ là chính chứ chưa đi sâu vào hoạt đông của doanhnghiệp Chẳng hạn việc xét duyệt quyết toán thường được thực hiện vào quý I hoặc quý

II năm sau nên việc xác định tài sản thực tế của doanh nghiệp vào thời điểm kiểm kê(31/12 năm trước) có tồn tại thật hay không Một số vấn đề khác như công nợ, giá trịcủa tài sản… cần sử dụng các kỹ thuật như xác nhận, điều tra… cũng không thực hiệnđược mà thường chỉ chấp nhận trên cơ sở chứng từ, tài liệu kế toán Do những hạn chế

Trang 11

này, nên việc duyệt quyết toán không thể phát hiện thực trạng tài chính yếu kém chuyênkinh doanh, mua bán lòng vòng để gian lận trong việc vay vốn ngân hàng huy động từcác đối tượng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản bất hợp pháp vì các chứng từ, tài liệu

đã được hợp pháp bằng nhiều cách Chỉ có kiểm toán với các kỹ thuật thu thập bằngchứng phong phú thích hợp mới có thể tạo niềm tin cho người sử dụng thông tin bằngnhững xác nhận khách quan và độc lập về thực trạng tài chính của doanh nghiệp

Các tác giả nghiên cứu đều thống nhất rằng nhu cầu kiểm toán xuất hiện từ khi có

sự phân tách giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, khai thác kinh doanh các tài sản, tiềnvốn Từ những hình thức đơn giản khi các thương gia giao các tài sản của mình chongười khác quản lý và kinh doanh đến các hình thức phức tạp, hoàn thiện hơn là hìnhthái các công ty cổ phần trong đó các cổ đông không trực tiếp quản lý điều hành hoạtđộng công ty mà do một nhóm các nhà quản lý đại diện thực hiện chức năng quản lýkinh doanh Những người thực hiện chức năng quản lý kinh doanh này được hưởng thunhập dưới hình thức cố định (tiền lương) hoặc biến đổi theo kết quả kinh doanh Dùdưới hình thức nào thì có rất nhiều lý do dẫn đến khả năng báo cáo tài chính do nhữngngười này lập nên và đệ trình lên chủ sở hữu, các cổ đông có thể sẽ không phản ánhtrung thực về tình hình tài chính và kết quả kinh doanh hoặc ít nhất là thiếu khách quan.Điều này làm phát sinh yêu cầu phải có giải pháp để chủ sở hữu, các cổ đông có cơ sở

để tin tưởng rằng báo cáo do các nhà quản lý lập nên là phù hợp với các nguyên tắc kếtoán chung được thừa nhận đồng thời bảo vệ được quyền lợi của những người quản lý.Đây chính là lý do cho sự ra đời và phát triển của kiểm toán Mặt khác, thực tế hầu như

và không thể mọi chủ sở hữu, các cổ đông đều có điều kiện và khả năng để soát xét các

sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của công ty Do vậy chủ sở hữu, các cổ đông bổnhiệm kiểm toán viên thay thế họ để làm việc đó và báo cáo lại cho họ Các kiểm toánviên kiểm tra và báo cáo lại một cách độc lập khách quan về tình hình tài chính của họ,đồng thời, chủ sở hữu, các cổ đông tin tưởng rằng với kiểm toán các hành vi gian lận

Trang 12

hoặc thiếu trung thực của các nhà quản lý sẽ không có cơ hội thực hiện, do đó kiểmtoán là cần thiết và được xem như là một sự đảm bảo.

Hơn nữa, với nền kinh tế phát triển như hiện nay sự ra đời của kiểm toán là rất cần thiếtbởi:

-Về khách quan: Do có sự đầu tư từ nước ngoài vào Việt nam, tất sẽ phát sinh nhu cầucần phải có hoạt động kiểm toán cũng như nhu cầu tư vấn của bản thân các doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đây là thông lệ và cũng là yêu cầu của công ty mẹ.Mặt khác về phía quản lý nhà nước cũng cần phải có được thông tin đáng tin cậy đểđánh giá thực trạng đầu tư cũng như thực hiện chức năng quản lý nhà nước trong khikhông thể áp dụng các hình thức duyệt quyết toán như đối với các doanh nghiệp nhànước

-Về chủ quan: Khi tính chủ động trong kinh doanh của các doanh nghiệp được pháthuy, các doanh nghiệp hạch toán kinh doanh độc lập, theo đó các yêu cầu thông tin kinh

tế trung thực và đáng tin cậy là hết sức quan trọng Các thông tin này không chỉ phục vụcho cho một đối tượng là nhà nước mà còn phục vụ cho nhiều các đối tượng khác nhưNgân hàng (tư cách là người cho vay), đối tác kinh doanh, người lao động,…

II Vai trò của Kiểm toán

1.Vai trò chung

Từ những nghiên cứu có thể tháy rõ vai trò của Kiểm toán trên nhiều mặt:

 Kiểm toán tạo niềm tin cho những người quan tâm Trong cơ chế thị trường córất nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong tàiliệu kế toán và BCTC Trong đó có thể kể đến:

- Các cơ quan Nhà nước: cần thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng

hệ thống pháp luật

- Các đơn vị được kiểm toán: giúp đơn vị kiểm toán thấy rõ chân dung và thực lựccủa mình, đánh giá chính xác thực trạng tài chính, thẩm định đúng kết quả kinhdoanh để có biện pháp quản lý, điều hành phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao

Trang 13

- Các nhà đầu tư: cần thông tin tin cậy để có hướng dẫn đúng, điều hành sử dụng vốnđầu tư Các nhà đầu tư ở đây không chỉ trong nước mà còn cả nước ngoài Họ cần sựxác nhận vô tư và trung thực của kiểm toán mới yên tam và tin tưởng khi bỏ vốn đầu

tư vào doanh nghiệp

- Ngân hàng và các tổ chức tín dụng: căn cứ vào kết quả kiểm toán để xem xét tìnhhình cho các doanh nghiệp vay khi cần thiết và khả năng thu hồi nợ

- Người lao động: cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, về lợi nhuậnphân phối, về thực hiện chính sách tiền lương và bảo hiểm nhu cầu đó chỉ có thểđáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán hoàn chỉnh

- Khách hàng và nhà cung cấp: cũng cần hiểu rõ thực chất về kinh doanh, về tàichính của các đơn vị kiểm toán về nhiều mặt: số lượng, chất lượng sản phẩm hànghóa, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán của đơn vị được kiểm toán

Tất cả các những đối tượng này, họ đều có nguyện vọng chung là được sử dụngthông tin có độ tin cậy cao, chính xác và trung thực

 Kiểm toán góp phần hướng dẫn nghiệp vụ và ổn định cũng cố hoạt động tàichính, kế toán nói riêng và hoạt động của các đơn vị kiểm toán nói chung Thôngqua kiểm toán khi phát hiện sai sót kiểm toán viên chỉ dẫn và đề nghị doanhnghiệp sửa chữa, tư vấn giúp doanh nghiệp ổn định và kinh doanh hiệu quả Hoạtđộng kiểm toán không những cũng cố hoạt động tài chính, kế toán cho doanhnghiệp nói riêng mà còn làm lành mạnh hóa nền tài chính quốc gia, đồng thờithúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực tài chính

 Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Ngoài chức năng xác nhận thôngtin tài chính, kiểm toán còn có chức năng tư vấn cho các doanh nghiệp, đơn vịđược kiểm toán nhằm kinh doanh hiệu quả, hạn chế rủi ro Chức năng này đượcphát huy tác dụng rất lớn ở các đơn vị được kiểm toán thường xuyên Trong điềukiện hiện nay, hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, kinh nghiệm và chuyên giaquản lý giỏi theo cơ chế thị trường chưa nhiều, các doanh nghiệp đứng trước một

Trang 14

cơ chế thị trường đầy phức tạp và cạnh tranh gay gắt vì lợi nhuận Tính chất xãhội, môi trường, hiện tại, tương lai, xu hướng đa phương hóa đầu tư và mở rộngquan hệ có lợi kinh tế ngày càng mở rộng Trong điều kiện đó để ổn định, duy trì

kỹ cương, kinh doanh hiệu quả, phát triển đúng hướng chỉ có thể tiến hành trên

cơ sở sử dụng đồng bộ và hiệu quả các công cụ quản lý đặc biệt là kiểm toán

2.Vai trò của Kiểm toán độc lập

Kiểm toán độc lập bảo vệ quyền lợi cho những người có liên quan và sử dụng thông tincủa đơn vị được kiểm toán như: chính phủ, cổ đông, ngân hàng, nhà đầu tư và cũngrất hữu ích cho chính các nhà quản lý đơn vị được kiểm toán Tổ chức Kiểm toán độclập đóng vai trò là một bên độc lập (bên thứ ba) thực hiện chức năng thẩm định thôngtin do một đơn vị báo cáo và đưa ra lời xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tinnày Từ BCTC đã được Kiểm toán độc lập xác nhận người sử dụng sẽ có cơ sở tin cậycho việc đưa ra các quyết định, các đối sách thích hợp Nhà đầu tư quyết định duy trì,

mở rộng hay thu hẹp mức độ đầu tư Nhà cung cấp quyết định duy trì, tăng cường haygiảm thiểu mức độ cung cấp vật tư, hàng hóa

Mặt khác, kết quả Kiểm toán độc lập còn giúp cho đơn vị được kiểm toán hiểu biếtlại mình một cách khách quan hơn

Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình thức

sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọngtrong quá trình phát triển kinh tế của đất nước Trong điều kiện nền kinh tế như vậy,thông tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhànước kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này cần cho nhiều người, được nhiềuđối tượng quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh tế

Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động Kiểm toán độc lập rađời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạtđộng kinh tế Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán

sự hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các

Trang 15

nguyên tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các thông tin đó có trung thực vàhợp lý hay không.

Luật pháp yêu cầu và để yên lòng cho người sử dụng thì các BCTC phải được kiểmtoán và chỉ có những thông tin kinh tế đã được kiểm toán mới là căn cứ tin cậy cho việc

đề ra các quyết định hiệu quả và hợp lý Việc các quy định mang tính pháp lý bắt buộccác thông tin tài chính trước khi công bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ nétvai trò của kiểm toán trong quá trình đổi mới nền kinh tế Kiểm toán độc lập không thểthiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhànước Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lànhmạnh hoá các quan hệ kinh tế Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng báocáo tài chính được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó cóthể đánh giá một cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp làm cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình Bên cạnh mụctiêu chính là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính, các KTV thông qua quá trình kiểm toán,còn có thể đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát,nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinhdoanh nói chung

Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nóichung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bày về tình hình tài chính của mình Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đối tác kinh doanh Đặc biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhà đầu tư nước ngoài muốn tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc kiểm toán sẽ hiệu quả và rẻ hơn nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm phán, tự chứng minh về khả năng tài chính của mình Đồng thời ý kiến khách quan của kiểm toán luôn đáng tin cậy hơn Ngay cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập thì

Trang 16

nhu cầu kiểm toán của các công ty này là tất yếu bởi yêu cầu quản lý của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp Do vậy kiểm toán độc lập ra đời đã đáp ứng tốt nhu cầucủa hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế Ngoài những đóng góp tích cực nêu trên cho nền kinh tế, kiểm toán độc lập còn là hoạt động dịch vụ và như vậy nó tạo ra giá trị cho nền kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập quốc dân, nâng cao nguồn thu cho ngân sách Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực lượng lớn các lao động có trình

độ chuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng chuyên gia tư vấn nước ngoài làm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế Lực lượng này đã truyền đạt nhiều kinh nghiệm quản lý kinh tế cho các doanh nghiệp, tổ chức cũng như những đồng nghiệp Ngoài ra, các tổ chức kiểm toán độc lập còn chính là trung tâm tư vấn thuế Công ty kiểm toán độc lập tư vấn thuế cho các doanh nghiệp trong việc tuân thủ pháp luật về thuế là rất cần thiết Họ không chỉ là cung cấp cho các công ty mới được thành lập thông qua các dịch vụ như tư vấn kê khai các loại thuế, hướng dẫn các nội dung của cácluật thuế, giải đáp thắc mắc trong lĩnh vực thuế mà còn cung cấp dịch vụ kiểm toán, dịch vụ về thuế cho các công ty đã hoạt động tại Việt Nam vì các doanh nghiệp này muốn có sự hiểu biết chắc chắn về pháp luật thuế, tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp nếu gặp rủi ro bị phạt thuế hoặc phải trả chi phí rất cao cho nhân viên có kinh nghiệm

về thuế Đặc biệt là đối với các công ty đa quốc gia, dịch vụ tư vấn thuế ngoài việc giúpcác công ty này chấp hành tốt pháp luật về thuế để tăng uy tín kinh doanh trên thị

trường toàn cầu còn giúp cho doanh nghiệp chủ động được việc nộp thuế của mình tại mỗi quốc gia

Khi mà quy mô hoạt động của các doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, các chủ đầu tư thuê quản lý kinh doanh thì họ luôn luôn yêu cầu sổ sách kế toán phải minh bạch, các rủi ro vi phạm pháp luật phải được kiểm soát và hạn chế đến mức thấp nhất Đây cũng

là lý do mà các công ty này đòi hỏi phải sử dụng dịch vụ Kiểm toán độc lập và tư vấn thuế

Trang 17

Ngày nay, trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường, ngày càng có nhiều các công tyViệt Nam (các tổng công ty lớn và các doanh nghiệp cổ phần) sử dụng dịch vụ tư vấn thuế thay vì chỉ có các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như trước đây Bên cạnhcác tổng công ty lớn, các doanh nghiệp cổ phần đang ngày càng phát triển đã bùng nổ

sự ra đời của các doanh nghiệp tư nhân, các chủ hộ kinh doanh, các cá nhân hành nghề độc lập các loại hình doanh nghiệp này rất cần sự trợ giúp, hướng dẫn từ thủ tục đăng

ký thành lập doanh nghiệp, thủ tục đăng ký thuế, mua hóa đơn, kê khai và quyết toán thuế vì họ thiếu kinh nghiệm và không bố trí nhân viên làm kế toán Bên cạnh đó, Chính phủ đang áp dụng Luật thuế Thu nhập cá nhân, chính vì vậy đã phát sinh thêm vôcùng nhiều người phải kê khai thuế, quyết toán thuế và tất yếu những người nộp thuế thu nhập cá nhân này lại phải tìm đến công ty tư vấn thuế, đại lý thuế để giúp họ thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước được đầy đủ, đúng, không nộp quá, không lạm thu, xử lý thủ tục hoàn thuế được kịp thời

Thông qua hoạt động kiểm toán và tư vấn thuế, các công ty Kiểm toán độc lập đã góp phần tăng cường công tác quản lý thuế, cụ thể:

- Công ty Kiểm toán độc lập là một kênh cung cấp thông tin cho cơ quan thuế về các vướng mắc về thuế phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh

nghiệp Trong quá trình kiểm toán, tư vấn tài chính, thuế cho doanh nghiệp với chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực này, công ty kiểm toán độc lập đã phát hiện ra

những bất cập về chính sách thuế trong quá trình thực hiện Ngoài chức năng tư vấn, giải thích cho doanh nghiệp hiểu rõ về chính sách thuế thì công ty kiểm toán còn đóng vai trò tổng hợp, phân tích các bất cập về chính sách thuế trong quá trình thực hiện Cácvướng mắc, kiến nghị về thuế của doanh nghiệp do các công ty kiểm toán cung cấp thường được tổng hợp từ nhiều doanh nghiệp, đã được phân tích, đánh giá và có cơ sở

vì vậy có tính thuyết phục cao Điều này đã giúp cho các cơ quan Nhà nước hiểu rõ hơn

Trang 18

thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp, sự bất cập của chính sách thuế hiện hành và từ

đó có thể có những cải cách chính sách thuế một cách hoàn thiện hơn

- Công ty Kiểm toán độc lập đại diện cho các doanh nghiệp đề xuất chính sách thuế áp dụng phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam trong từng thời kỳ và phù hợp với thông lệ quốc tế Mặc dù cơ chế chính sách thuế của Việt Nam trong thời gian qua đã có những đổi mới theo chiều hướng tích cực, tuy nhiên chính sách thuế hiện nay vẫn đang nằm trong quá trình cải cách, chuyển đổi và từng bước hoàn thiện để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc

tế, do đó không thể tránh khỏi các vướng mắc, sự không đồng nhất trong quá trình thực hiện Để khắc phục và giảm thiểu vấn đề này, Bộ Tài chính và cơ quan thuế đã tiến hành các cuộc hội thảo, đối thoại với doanh nghiệp nhằm trao đổi, tháo gỡ các vướng mắc về thuế Tuy nhiên, với vai trò là kiểm toán, tư vấn thuế, các công ty Kiểm toán độc lập đã đóng vai trò tư vấn, cung cấp thông tin, thông lệ quốc tế và chia sẻ kinh nghiệm với cơ quan hoạch định chính sách thuế khi các cơ quan này ban hành một chính sách thuế mới hoặc sửa đổi, bổ sung chính sách thuế Do đó, Kiểm toán độc lập cũng đóng góp một phần không nhỏ trong việc giúp đỡ cơ quan hoạch định chính sách thuế tạo nên một khung pháp lý về thuế ngày càng trở nên minh bạch, rõ ràng và thống nhất

- Công ty Kiểm toán độc lập đã giúp cho đối tượng nộp thuế tăng cường sự hiểu biết và tuân thủ pháp luật về thuế thông qua việc kiểm toán, tư vấn thuế cho các doanh nghiệp

- Kiểm toán độc lập đã góp phần ngăn ngừa tình trạng gian lận, trốn thuế

- Các công ty Kiểm toán độc lập đã gián tiếp làm giảm các vụ khiếu kiện, tranh chấp giữa doanh nghiệp và cơ quan thuế

Sau 19 năm hoạt động (từ năm 1991 đến nay), Kiểm toán độc lập ở Việt Nam đã phát triển nhanh về số lượng, quy mô, các công ty kiểm toán độc lập và số lượng KTV từng bước nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ cung cấp Đến nay cả

Trang 19

nước đã có 140 DN dịch vụ kế toán, kiểm toán với trên 4.600 người làm việc, có gần

1500 người được cấp chứng chỉ KTV Hầu hết các dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng được tín nhiệm, được xã hội thừa nhận

Thông qua hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài chính – kế toán các doanh nghiệp,

tổ chức có thể nắm bắt kịp thời, đầy đủ và tuân thủ đường lối chính sách kinh tế, tài chính, loại bỏ được chi phí bất hợp lý, tạo lập được những thông tin tin cậy, và tăng cường lòng tin của người sử dụng các thông tin tài chính, từng bước đưa công tác quản

lý tài chính, kế toán trong các doanh nghiệp đi vào nề nếp…Có thể nói hoạt động kiểm toán độc lập đã xác định được vị trí trong nền kinh tế thị trường, góp phần ngăn ngừa vàphát hiện lãng phí, góp phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện công khai minh bạch báo cáo tài chính (BCTC), phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, điều hành kinh tế-tài chính, của doanh nghiệp và Nhà nước

3 Vai trò của Kiểm toán nội bộ

Nếu như Kiểm toán độc lập đã có mặt ở Việt Nam được 19 năm thì cho đến nay, khái niệm Kiểm toán nội bộ vẫn chưa được phổ biến với nhiều nhà quản lý (ra đời năm

1997) Tuy nhiên, yêu cầu hội nhập WTO, sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán và những vụ bê bối về quản trị ở một số doanh nghiệp lớn của Nhà nước gần đây cho thấy sự cần thiết của Kiểm toán nội bộ ở doanh nghiệp

Trên thế giới, Kiểm toán nội bộ đã ra đời từ lâu nhưng chỉ phát triển từ sau các vụ gian lận tài chính ở Công ty Worldcom và Enron (Mỹ) những năm 2000-2001 và đặc biệt là khi Luật Sarbanes-Oxley của Mỹ ra đời năm 2002 Luật này quy định các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Mỹ phải báo cáo về hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ công ty

Trong khi hoạt động của Kiểm toán độc lập giới hạn ở việc kiểm tra báo cáo tài chính (mức độ trung thực và hợp lý), hoạt động của Kiểm toán nội bộ không bị giới hạn ở bất

Trang 20

kỳ phạm vi nào trong công ty, từ mua hàng, sản xuất, bán hàng đến quản lý tài chính, nhân sự hay công nghệ thông tin Mục đích của Kiểm toán nội bộ là phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp, chứ không phải cho đối tác bên ngoài Kiểm toán nội bộ không chỉ đánh giá các yếu kém của hệ thống quản lý mà còn đánh giá các rủi ro cả trong và ngoài công ty

Kiểm toán nội bộ có thể đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích Kiểm toán nội bộ làcông cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu của hệ thống quản lý doanh nghiệp Nhờ nó mà Ban giám đốc và Hội đồng quản trị có thể kiểm soát hoạt động và quản lý rủi ro tốt hơn một khi quy mô và độ phức tạp của doanh nghiệp vượt quá tầm kiểm soát trực tiếp của một nhóm người Có Kiểm toán nội bộ như thêm “tai, mắt” cho Hội đồng quản trị và Ban giám đốc Điều này làm tăng niềm tin của cổ đông vào chất lượng quản

lý và kiểm soát nội bộ, tăng giá trị doanh nghiệp Thực tiễn trên thế giới cho thấy, các công ty có kiểm toán nội bộ thì thường khả năng gian lận thấp và hiệu quả sản xuất kinhdoanh cao hơn

Một doanh nghiệp có kiểm toán nội bộ sẽ làm gia tăng niềm tin của các cổ đông, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây Các thống kê trên thế giới cho thấy các công ty có phòng kiểm toán nội bộ thường có báo cáo đúng hạn, báo cáo tài chính có mức độ minh bạch và chính xác cao, khả năng gian lận thấp và cuối cùng là hiệu quả sản xuất kinh doanh cao hơn so với các công ty không có phòng kiểm toán nội bộ Tuy nhiên, có một thực tế là không phải doanh nghiệp nào cũng thấy hết các lợi ích trên và có biện pháp để hiện thực hóa các lợi ích đó Nhiều doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu tăng trưởng nóng và đã không cân bằng được ba mục tiêu bắt buộc của phát triển bền vững Đó là tăng trưởng, hiệu quả và kiểm soát Kết quả là tam giác

ba mục tiêu này không thực sự mở rộng ở cả ba góc trong quá trình tăng trưởng một cách đồng bộ Thay vào đó là bị co méo ở hai góc kia, tăng trưởng tuy có đạt, nhưng hiệu quả và kiểm soát lại giảm sút hoặc không ngang tầm với sự tăng trưởng

Trang 21

Để phát triển bền vững, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải cân bằng cả ba mục tiêu trên Đây là bài toán thực sự của quản trị Doanh nghiệp nào xem nhẹ một trong ba mụctiêu trên thì sớm muộn cũng phải trả giá.

Kiểm toán nội bộ với vai trò đưa ra đảm bảo

Kiểm toán nội bộ sẽ cung cấp các dịch vụ mang tính đảm bảo cho hệ thống nội bộ của các tổ chức, doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường với mức độ cạnh tranh gay gắt như hiện nay, các doanh nghiệp đều hướng tới nhiều mục tiêu cùng một lúc, bao trùm

cả mảng quản trị, kinh tế, đạo đức kinh doanh, xã hội và môi trường… Kiểm soát nội

bộ cần phải có đủ các kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết để đưa ra được các đảm bảo cho doanh nghiệp về việc doanh nghiệp đã và đang vận hành một cách hiệu quả nhằm đạt được đồng thời các mục tiêu đã đề ra Các đảm bảo do kiểm toán nội bộ mang lại chủ yếu tập trung vào quản trị doanh nghiệp thông qua quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ các vấn đề về đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội (bao gồm cả vấn đề môi trường, vấn đề tuân thủ pháp luật) Trong khi ban giám đốc và lãnh đạo doanh nghiệp chịu tráchnhiệm thiết lập và duy trì hệ thống kiểm soát nội bộ thì kiểm toán nội bộ đưa ra đảm bảo cho ban giám đốc và ủy ban kiểm toán (hoặc HĐQT) rằng hệ thống kiểm soát nội

bộ được vận hành một cách hiệu quả như được kỳ vọng Để tránh xung đột về lợi ích vàđảm bảo tính độc lập, kiểm toán nội bộ thường chịu trách nhiệm trực tiếp trước HĐQT hoặc đại diện của HĐQT, như ủy ban kiểm toán

Tuy nhiên với thực trạng ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, do quy mô cũng như tính phụ thuộc của kiểm toán nội bộ, doanh nghiệp cùng với các nhà đầu tư chưa thể có được sự đảm bảo cần thiết về tính hiệu quả của toàn bộ hệ thống kiểm soát nội bộcũng như của việc kiểm soát rủi ro và việc tuân thủ các quy định trong và ngoài đơn vị Nếu đơn vị có bộ phận kiểm toán nội bộ thì cũng chỉ có thể giúp một bộ phận quản lý

cụ thể nào đó có được một sự tin tưởng nhất định về việc vận hành của một số bước kiểm soát, chủ yếu là phê duyệt và tuân thủ về tài chính kế toán, ghi chép và hạch toán

Ngày đăng: 24/12/2013, 17:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w