I) Lý thuyết chung liên quan đến chủ đề 1.1 Một số khái niệm cơ bản Cơ cấu kinh tế là tập hợp các bộ phận hợp thành tổng thể nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể. Nền kinh tế quốc dân như một hệ thống phức tạp được cấu thành từ nhiều bộ phận, do đó, có nhiều cách khác nhau trong việc xem xét cơ cấu kinh tế. Có thể xem xét cơ cấu của nền kinh tế trên các phương diện như cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế. Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu kinh tế trong đó mỗi bộ phận hợp thành là một ngành hay một nhóm ngành kinh tế Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự vận động phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tỉ trọng và mối quan hệ tương tác giữa chúng theo thời gian để phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hôi. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu tác động của rất nhiều nhân tố nhân tố quan trọng cốt lõi không thể không nói đến đó là nhóm nhân tố vai trò của Nhà nước. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một trong những vấn đề then chốt, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.(1)Phát huy các lợi thế so sánh để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển của quốc gia. (2)Tạo ra sức sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn, chất lượng cao, đa dạng về chủng loại để đáp ứng nhu cầu cho nhân dân và xuất khẩu. (3)Góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm và không ngừng tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người lao động, tạo cơ hội thuận lợi cho mọi thành phần trong xã hội vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật. (4)Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trang 1Họ và tên: Nguyễn Thị Kim Anh
Khóa/ Lớp: (tín chỉ): CQ57/21CL1.LT2
STT: 02
Ngày thi: 10/06/2021
Mã Sinh Viên: 19CL73403010027
(Niên chế) CQ57/21.02CL
ID phòng thi: 581-0581208 HT thi: 208-ĐT
Ca thi: 15h15
BÀI THI MÔN: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Hình thức thi: Tiểu luận Thời gian thi: 3 ngày
CHỦ ĐỀ: Vai trò của Nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
ngành ở Việt Nam hiện nay.
BÀI LÀM
Trang 202 – 57.21.02CL1.LT2 – Nguyễn Thị Kim Anh
2
Trang 3I) Lý thuyết chung liên quan đến chủ đề
1.1 Một số khái niệm cơ bản
Cơ cấu kinh tế là tập hợp các bộ phận hợp thành tổng thể nền kinh tế và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể Nền kinh tế quốc dân như một hệ thống phức tạp được cấu thành từ nhiều bộ phận, do đó, có nhiều cách khác nhau trong việc xem xét cơ cấu kinh tế Có thể xem xét cơ cấu của nền kinh tế trên các phương diện như cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế là cơ cấu kinh tế trong đó mỗi bộ phận hợp thành là một ngành hay một nhóm ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là sự vận động phát triển của các ngành làm thay đổi vị trí, tỉ trọng và mối quan hệ tương tác giữa chúng theo thời gian để phù hợp với
sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế chịu tác động của rất nhiều nhân tố - nhân
tố quan trọng cốt lõi không thể không nói đến đó là nhóm nhân tố vai trò của Nhà nước
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một trong những vấn đề then chốt, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.(1)Phát huy các lợi thế
so sánh để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển của quốc gia (2)Tạo ra sức sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn, chất lượng cao, đa dạng về chủng loại để đáp ứng nhu cầu cho nhân dân và xuất khẩu (3)Góp phần tạo ra nhiều công ăn việc làm và không ngừng tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người lao động, tạo
cơ hội thuận lợi cho mọi thành phần trong xã hội vươn lên làm giàu chính đáng trong khuôn khổ pháp luật (4)Góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế
1.2 Vai trò của nhà nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Vai trò của Nhà nước có ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau (1) Nhà nước xây dựng mục tiêu, chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, cho từng ngành kinh tế, từng vùng lãnh thổ Mục tiêu này là cơ
sở để từng ngành, từng vùng kinh tế xây dựng định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế (2)Nhà nước đề ra và đảm bảo thực thi hệ thống chính sách kinh tế và hệ thống luật pháp Chính sách của Nhà nước cũng có tác động rất lớn đến khả năng thu hút các nguồn lực cho phát triển các ngành, các vùng Các chính sách kinh tế vĩ mô và hệ
Trang 4thống luật pháp được xây dựng đồng bộ có cơ sở khoa học sẽ có tác dụng định hướng phát triển, tạo kiện và khuyến khích các ngành, các vùng phát triển có hiệu quả Đồng thời, chính sách còn có tác dụng điều tiết sản xuất và giúp các ngành, các vùng kinh tế giải quyết những khó khăn do cơ chế thị trường gây ra, hạn chế được các khuyết tật của nền kinh tế thị trường Ngược lại, nếu hệ thống chính sách kinh tế và luật pháp xây dựng không đồng bộ, hoặc chưa phù hợp với cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường sẽ
có những tác động tiêu cực đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.(3) Nhà nước còn tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các hoạt động đầu tư Nhà nước có thể trực tiếp đầu tư cho những ngành, các vùng trọng điểm; hoặc đầu tư gián tiếp bằng cách xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng, các chính sách thuế, tín dung, xuất -nhập khẩu, hay tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và lành mạnh Vai trò của nhà nước thường đi liền với chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
II) Phân tích, đánh giá thực trạng vai trò của Nhà nước.
2.1 Thành tựu trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam hiện nay 2.1.1 Cơ cấu GDP
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là tăng nhanh tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành công nghiệp, dịch vụ đồng thời giảm dần tương đối tỷ trọng giá trị trong GDP của các ngành nông nghiệp
2.1.2 Cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô
Về cơ cấu ngành kinh tế, cùng với tốc độ tăng liên tục và khá ổn định ổn định của
GDP, cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể theo hướng tích cực Đó là tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm dần từ 18.38% năm 2010 xuống 13.96% năm 2019 Tỷ trọng ngành công nghiệp có tăng nhưng chưa có quá nhiều biến động năm 2010 là 32.13%, năm 2015 là 33.25% và cho đến năm 2020 là 33.72% Ngược lại, tỷ ngành dịch vụ tăng nhanh, năm 2010 là 36.94% chỉ sau 5 năm đã lên đến 40.92%, và năm 2020 là 41.63% Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã làm thay đổi cơ cấu lao động nước ta, số lượng lao động ngành nông nghiệp giảm dần ngược lại số lượng lao động ngành công nghiệp dịch vụ tăng
Cơ cấu tổng sản phẩm trong nước phân theo ngành kinh tế của Việt Nam (Đơn vị: %)
Trang 5Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 Ngành
Nông
nghiệp 18.38 19.57 19.22 17.96 17.7 17 16.32 15.34 14.68 13.96 14.85 Công
nghiệp 32.13 32.24 33.56 33.19 33.21 33.25 32.72 33.34 34.23 34.49 33.72 Dịch vụ 36.94 36.73 37.27 38.74 39.04 39.73 40.92 41.32 41.12 41.64 41.63 Thuế sản
phẩm- trợ
cấp sản
phẩm
12.55 11.46 9.95 10.11 10.05 10.02 10.04 10 9.97 9.91 9.8
Nguồn: Tổng cục thống kê
2.1.3 Trong nội bộ cơ cấu ngành kinh tế
Công nghiệp: Cơ cấu công nghiệp dịch chuyển đúng hướng và tích cực, giảm tỷ trọng của ngành khai khoáng, tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Đã hình thành được một số ngành công nghiệp có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh và
vị trí vững chắc trên thị trường Một số doanh nghiệp công nghiệp trong nước có năng lực cạnh tranh tốt Công nghiệp hỗ trợ từng bước hình thành và phát triển, góp phần nâng cao tỷ lệ nội địa hoá và giá trị gia tăng Công nghiệp năng lượng tái tạo được quan tâm đầu tư, nhiều dự án điện gió, điện mặt trời được khởi công xây dựng và đi vào hoạt động Tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu qua chế biến trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá tăng từ 65% năm 2016 lên 85% năm 2020; tỷ trọng giá trị xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao trong tổng giá trị sản phẩm công nghệ cao tăng từ 63,9% năm
2016 lên 77,7% năm 2019 Năng lực cạnh tranh toàn cầu của ngành công nghiệp tăng
từ vị trí 58 năm 2015 lên thứ 42 vào năm 2019
Nông nghiệp: Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, hữu cơ được
chú trọng, từng bước chuyển đổi sang cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao Đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp tăng năm 2020, phát triển liên
Trang 6kết sản xuất theo chuỗi giá trị, khép kín từ đầu vào đến khâu sản xuất và chế biến, tiêu thụ Cơ cấu lại ngành lâm nghiệp đã thực hiện theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm gỗ qua chế biến; sắp xếp các nông, lâm trường quốc doanh và phát triển dịch vụ môi trường rừng đạt kết quả tích cực Hệ thống dịch vụ hậu cần nghề cá, sản xuất trên biển đã được tổ chức lại theo mô hình hợp tác đối với khai thác vùng biển khơi và mô hình đồng quản
lý đối với vùng biển ven bờ, bước đầu đã thu hút được đông đảo ngư dân và góp phần bảo đảm an ninh quốc phòng và an toàn tàu cá Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản liên tục tăng, thị trường tiêu thụ được mở rộng Thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả tích cực, đã hoàn thành sớm gần năm so với kế hoạch đề ra, tạo bước đột phá làm thay đổi diện mạo nông thôn Việt Nam
Dịch vụ: Đóng góp của ngành dịch vụ vào tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng Các
ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, có hàm lượng khoa học, công nghệ cao như viễn thông và công nghệ thông tin, logistics và vận tải, tài chính, ngân hàng, du lịch, thương mại điện tử được tập trung phát triển Một số doanh nghiệp viễn thông và công nghệ thông tin Việt Nam đã phát triển vượt bậc Ngành du lịch được triển khai theo hướng tập trung đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuật đồng bộ, chú trọng nâng cao chất lượng và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, đặc biệt là sản phẩm, dịch vụ có năng lực cạnh tranh cao Ngành du lịch đã có bước phát triển rõ rệt và đạt được những kết quả quan trọng, cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Số lượng khách du lịch quốc tế tăng nhanh, năm 2019 đạt 18 triệu lượt người, tăng trên 10 triệu so với năm 2015 Năm
2020, dịch bệnh Covid-19 đã tác động rất nghiêm trọng đến ngành du lịch và nhiều ngành dịch vụ như giao thông vận tải, hàng không, khách sạn, ăn uống, giải trí…, số khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giảm mạnh
Ngành xây dựng phát triển mạnh cả về khả năng thiết kế và thi công xây lắp Sản xuất vật liệu xây dựng phát triển với tốc độ nhanh theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu cả
về khối lượng, chất lượng, chủng loại cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Doanh nghiệp xây dựng phát triển cả về số lượng và chất lượng, làm chủ được nhiều công nghệ tiên tiến trong tất cả các khâu từ thiết kế, thi công với các loại vật liệu xây dựng, thiết bị máy móc hiện đại
Trang 72.2 Cơ cấu lao động
Mặc dù tỷ trọng lao động ngành công nghiệp đã giảm từ năm 2010 (22.4%) đến năm
2012 (21.2%), rồi lại tăng đến 30.9% năm 2020 Tỷ trọng lao động ngành dịch vụ ngày càng tăng lên, xuyên suốt từ năm 2010 (29.4%) đến năm 2020 (36.3%)
Cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế của Việt Nam (Đơn vị:%)
Nguồn: Tổng cục thống kê
Tình hình lao động, việc làm của Việt Nam có sự chuyển biến tích cực Đời sống dân
cư ngày càng được cải thiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong những năm qua chuyển biến tốt, góp phần nâng cao đời sống nhân dân khu vực nông thôn, đẩy mạnh phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Sự chuyển dịch cơ cấu trong ngành nông nghiệp đã tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu lao động xã hội nông thôn, mà biểu hiện rõ nhất là thúc đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn theo hướng ngày càng tăng thêm các hộ làm công nghiệp, thương mại và dịch vụ, trong khi số hộ làm nông nghiệp thuần túy giảm dần Tính đến cuối tháng 12/2019, cả nước có 4.806 xã (đạt 53,92%) và 111 huyện được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, vượt 3,92% so với mục tiêu giai đoạn 2010-2020 Đây là kết quả chỉ đạo điều hành tích cực của Đảng, Nhà nước và cố gắng của người dân trong sản xuất như chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; mở rộng và xây mới các khu công nghiệp, nhà máy, công trình, phát triển làng nghề để tạo thêm công ăn việc làm, Đối với công nghiệp, cơ cấu ngành đang có sự thay đổi để phù hợp hơn với nhu cầu của thị trường Điều này chứng tỏ xu thế tiến bộ, phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố tiềm lực kinh tế đất nước
Năm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 Ngành
Nông nghiệp 48.2 48.4 47.5 46.9 46.3 44.3 41.9 40.3 38.1 34.5 32.8 Công nghiệp 22.4 21.3 21.1 21.1 21.5 22.9 24.7 25.7 26.6 30.1 30.9 Dịch vụ 29.4 30.3 31.4 32 32.2 32.8 33.4 34 35.3 35.4 36.3
Trang 8Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh tế toàn cầu: tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chính thức vượt mốc
500 tỷ USD trong năm 2019 và đạt trên 545 tỷ USD trong năm 2020 Xuất khẩu ghi nhận sự tăng trưởng mạnh về quy mô, từ 176,6 tỷ USD năm 2016 lên 282,7 tỷ USD năm 2020 Tăng trưởng xuất khẩu giai đoạn 2016-2020 đạt trung bình 11,9%/năm, cao hơn mục tiêu 10% do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đề ra Quá trình hội nhập cũng được khai thác hiệu quả, gắn tăng trưởng xuất khẩu với kiểm soát có hiệu quả hoạt động nhập khẩu giúp cán cân thương mại chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu Tuy nhiên, từ năm 2016 đến nay cán cân thương mại luôn đạt thặng dư với mức xuất siêu tăng dần qua các năm từ 1,77 tỷ USD năm 2016, 2,1 tỷ USD năm 2017, 6,8 tỷ USD năm 2018, 10,9 tỷ USD năm 2019 Năm 2020, tiếp tục ghi nhận xuất siêu kỷ lục trên
19 tỷ USD Đáng chú ý, cơ cấu hàng hóa xuất khẩu tiếp tục cải thiện theo chiều hướng tích cực Tỷ trọng nhóm hàng nhiên liệu, khoáng sản giảm từ 2% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2016 xuống còn 1% năm 2020 Số mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD tăng dần, từ 28 mặt hàng năm 2016 lên 31 mặt hàng năm 2020
2.3 Một số điểm hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, nếu nhìn nhận ở khía cạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng
phát triển xuất khẩu, thì tỷ trọng của ngành nông - lâm - thủy sản còn chiếm cao trong GDP của đất nước Ngành mà sản xuất phải phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, bị giới hạn bởi năng suất, diện tích, khả năng khai thác, giá cả sản phẩm, chịu nhiều tác động của sự biến động lên xuống trên thị trường thế giới và có xu hướng giảm theo giá
"cánh kéo" với hàng công nghiệp, do đó giá trị kim ngạch xuất khẩu của hàng nông sản sẽ không cao và không ổn định Tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp cũng thấp và chưa có dấu hiệu phát triển trong những năm tới Đồng thời, tỷ trọng của ngành công nghiệp chưa cao( công nghiệp chế tạo) Sự đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu của ngành công nghiệp một số năm qua mới chủ yếu là do phát triển các ngành công nghiệp lắp ráp, gia công như lắp ráp ô-tô, xe máy, dệt may, giày dép, là những ngành chủ yếu "lấy công làm lãi", nguồn nguyên liệu bị phụ thuộc vào thị trường nước ngoài Tỷ trọng công nghiệp chế biến của nước ta còn nhỏ kéo theo tỷ trọng hàng xuất khẩu đã qua chế biển sâu vẫn còn thấp, mới xuất khẩu chủ yếu hàng thô, sơ chế, làm hạn chế giá trị gia tăng của sản phẩm và kim ngach xuất khẩu Tỷ trong thấp của ngành
Trang 9dich vụ trong GDP và rất thấp trong tổng kim ngạch xuất khẩu càng cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước ta chưa khả năng tạo ra sự chuyển biến mạnh trong xuất khẩu của đất nước Ngoài ra, năng lực cạnh tranh yếu của nhiều mặt hàng cũng như sản phẩm dịch vụ đã hạn chế và làm cho sự phát triển xuất khẩu trở nên không vững chắc
Thứ hai Chuyển dịch cơ cấu ngành chưa theo hướng hiệu quả, chưa bền vững: sản
xuất nông nghiệp thiếu bền vững, sản xuất công nghiệp vẫn mang tính gia công, hàng hóa trung gian chiếm tỷ trọng cao trong kim ngạch nhập khẩu
Thứ ba, chất lượng lao động thấp, chủ yếu là lao động nông nghiệp, nông thôn, chưa
đáp ứng được yêu cầu phát triển: Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay luôn xảy
ra tình trạng thiếu nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, lao động một số ngành dịch vụ và công nghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh thấp Tình trạng thể lực của lao động Việt Nam ở mức trung bình kém, cả về chiều cao, cân nặng cũng như sức bền, sự dẻo dai, chưa đáp ứng được cường độ làm việc và những yêu cầu trong sử dụng máy móc thiết bị theo tiêu chuẩn quốc tế Kỷ luật lao động của người Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp Một bộ phận lớn người lao động chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, nông nghiệp, mang nặng tác phong sản xuất của một nền nông nghiệp tiểu nông, tùy tiện về giờ giấc và hành vi Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia
sẻ kinh nghiệm làm việc
2.4 Nguyên nhân
2.4.1 Nguyên nhân chủ yếu của những thành tựu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Nguyên nhân khách quan: rút kinh nghiệm từ bài học không thành công trong quá khứ
về phân bổ nguồn lực phát triển, vấn đề công nghiệp hóa nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói riêng được nhìn nhận lại theo tinh thần đổi mới tư duy kinh tế
Nguyên nhân chủ quan: là do tác động của đường lối đổi mới Việt Nam ta đã có sự
đổi mới về chính sách cơ cấu, ngày càng phù hợp hơn với tình hình thực tế, nên đã có
Trang 10tác dụng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Những chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phân bổ lại nguồn lực của nền kinh tế nói chung và nguồn vốn ngân sách nói riêng đã có tác dụng làm giảm bớt mức độ căng thẳng do chủ trương tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp nặng quá sức chịu đựng của nền kinh tế gây ra Cùng với sự điều chỉnh cơ cấu đầu tư là các chính sách khuyến khích sự phát triển một nền kinh tế đa hình thức sở hữu
2.4.2 Nguyên nhân của những mặt hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Thứ nhất, nếu phân tích sâu hơn các khía cạnh phản ánh chất lượng của chúng như tỷ
trọng các sản phẩm công nghiệp chế biến, các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao,
tỷ trọng các lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, tỷ trọng các sản phẩm công nghiệp và dịch vụ xuất khẩu có giá trị gia tăng cao …thì thấy rằng, phía sau quan hệ tỷ lệ phản ánh cơ cấu ngành kinh tế vĩ mô có nhiều tiến bộ, vẫn còn ẩn chứa nhiều nhân tố chưa đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế
Thứ hai, phần lớn lao động tăng thêm vẫn còn nằm lại trong khu vực nông nghiệp
năng suất thập và nguồn lao động vẫn chủ yếu là lao động phổ thông, không có nhiều
cơ hội để tự thực hiện sự chuyển đổi một cách linh động
Vậy, có thể coi những nguyên nhân chủ yếu của những mặt hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời gian qua gồm:
Về phương diện tư duy chính sách: Vấn đề công ăn việc làm nói chung và chuyển dịch lực lượng lao động từ khu vực nông nghiệp và các ngành dịch vụ năng suất thấp sang khu vực công nghiệp chế biến và dịch vụ có giá trị tăng cao nói riêng, hiện vẫn còn 1 quan điểm chính sách tổng thể, chưa thể hiện một quyết tâm chính trị đủ lớn và mang tầm chiến lược rõ ràng, để từ đó đưa ra được một chương trình đồng bộ, có hệ thống, nhất quán và dài hạn Trong tư duy chính sách, những nỗ lực ưu tiên vẫn nghiêng nhiều hơn về khía cạnh tăng trưởng GDP và chuyển dịch cơ cấu GDP ở tầm ngắn hạn, trong khi chưa dành sự quan tâm thỏa đáng đến sự chuyển dịch cơ cấu lao động và chấ lượng của các ngành nghề