Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960Từ năm 1954 đến 1960, công tác đối ngoại và hoạt động quốc tế diễn ra trong điều kiện mới, thuận lợi hơn rất nhiều so với khi Ch
Trang 3NGOẠI GIAO VIỆT NAM TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC 1954 - 1975
Trang 4Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ
Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam
Trang 5Nội dung
Trang 8I Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
- Chiến tranh chấm dứt, hoà bình được lập lại
Nước Việt Nam bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc Việt Nam được hoàn toàn giải phóng, sau giai đoạn phục hồi kinh tế, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư nhân; xác định miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ tiến dần lên chủ nghĩa xã hội
Trang 9I Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
Mỹ gạt Pháp khỏi Đông Dương, áp dụng chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam, xây dựng miền Nam thành căn cứ quân sự, âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam và, như chính quyền Mỹ tuyên bố ngăn chặn chủ nghĩa xã hội lan xuống Đông Nam Á
Cách mạng Việt Nam chuyển sang một thời kỳ mới Trong giai đoạn đầu sau khi Hiệp định Geneva về Đông Dương được ký kết, Đảng Lao động Việt Nam xác định: "Thắng lợi mới làm cho tình hình nước ta đổi mới tức là từ chiến tranh chuyển sang hoà bình Nhưng để giành lấy hoà bình toàn diện và lâu dài, chúng ta cần phải ra sức đấu tranh
Trang 10I Đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva: Giai đoạn 1954 - 1960
Từ năm 1954 đến 1960, công tác đối ngoại và hoạt động quốc tế diễn ra trong điều kiện mới, thuận lợi hơn rất nhiều so với khi Chính phủ kháng chiến còn ở trong chiến khu, với nửa nước được hoàn toàn giải phóng, uy tín của Việt Nam trên thế giới được nâng lên sau thắng lợi quân sự và ngoại giao của cuộc kháng chiến chống thực dân xâm lược, đặc biệt là chiến thắng
vĩ đại Điện Biên Phủ
Trước tình hình và nhiệm vụ mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã triển khai chính sách đối ngoại trên các hướng lớn:
Trang 11Thứ nhất, đấu tranh thi hành Hiệp định Geneva về Đông Dương, bao gồm
việc thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản quân sự ghi trong các hiệp định đình chỉ chiến sự; tiếp theo đó, đấu tranh để tiến hành hiệp thương giữa hai miền Nam, Bắc như bước đầu tiên tiến tới chuẩn bị tổng tuyển cử tự do để thống nhất đất nước, như đã quy định trong các văn bản cấu thành của Hiệp định Geneva 1954
Trang 12Thứ hai, xây dựng quan hệ đoàn kết, hợp tác toàn diện và chặt chẽ giữa Việt Nam với Trung Quốc, Liên Xô và các nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa, cũng như góp phần củng cố đoàn kết và hợp tác giữa các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, tăng cường đoàn kết và hợp tác trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế
Trang 13+ Thứ tư, xây dựng quan hệ hữu nghị với hai chính phủ Vương quốc
Campuchia và Lào, theo năm nguyên tắc chung sống hoà bình Thúc đẩy quan hệ hợp tác với Chính phủ Pháp và tăng cường quan hệ đoàn kết, hữu nghị với nhân dân Pháp
+ Thứ năm, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu với các phong trào đấu
tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Á - Phi; tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước vừa giành được độc lập ở châu Á
+ Thứ sáu, tham gia vào phong trào của các lực lượng tiến bộ trên thế giới
đấu tranh bảo vệ hoà bình thế giới, chống các thế lực để quốc, thực dân hiếu chiến, và vì các quyền dân sinh, dân chủ và tiến bộ xã hội
Trang 14Mở rộng quan hệ đối ngoại và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước phục vụ công cuộc xây dựng miền Bắc
Ngay sau khi thủ đô Hà Nội được giải phóng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nước xã hội chủ nghĩa sớm đặt đại sứ quán ở Hà Nội
Năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên chính thức thăm Liên Xô, Trung Quốc và Mông Cổ Tiếp đó, năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam thăm chín nước, gồm tất cả các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Bắc Á và một số nước dân tộc chủ nghĩa ở châu Á
Trang 15Từ sau Hiệp định Geneva, quan hệ giữa Việt Nam với Lào và Campuchia có thay đổi lớn.
Mở rộng quan hệ đối ngoại và tranh thủ sự giúp đỡ của các nước phục vụ công cuộc xây dựng miền Bắc
Với Lào, Việt Nam ủng hộ chính sách trung lập của Hoàng thân Xuyana Phuma Năm 1956, Thủ tướng Phuma thăm Việt Nam Việt Nam ủng hộ chính phủ liên hiệp và kiên quyết chống chính sách thù địch của các chính quyền phái hữu thân Mỹ ở nước này
Với Campuchia, Việt Nam cố gắng xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị, ủng hộ Quốc trưởng Xihanúc, ủng hộ chính sách hoà bình trung lập tích cực của Vương quốc Campuchia
Trang 16Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm và phong trào Đồng thời ở miền
Nam Việt nam
Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm đã thổi bùng ngọn lửa cách mạng khắp miền Nam từ nông thôn đến thành thị Ngày 17 tháng Mười một 1960, cuộc Đồng khởi của tỉnh Bến Tre tại ba xã Đinh Thuỷ, Bình Khánh, Phước Hiệp
Trang 17Nghị quyết Trung ương lần thứ mười lăm và phong trào Đồng thời ở miền Nam Việt nam
Trang 18Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và chính sách đối ngoại hoà bình, trung lập
Trang 20II Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn
1981 - 1954
Hoa Kỳ khủng hoảng về kinh tế trong các năm 1960 1961, dẫn đến 5,5 triệu người thất nghiệp So với Liên Xô, Mỹ thua kém về tốc độ phát triển kinh tế và về chạy đua vào vũ trụ
Ở Việt Nam, sau khi hoàn thành Kế hoạch ba năm phát triển kinh tế, từ năm 1961, miền Bắc đi vào thực hiện Kế hoạch năm năm lần thứ nhất (1961 - 1965)
Trang 21II Phục vụ đấu tranh đánh bại chiến tranh đặc biệt của Mỹ: Giai đoạn
1981 - 1954
Trang 22Tăng cường đoàn kết nhân dân Đông Dương, mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa.
Trong khi tăng cường "chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, Mỹ mở rộng chiến tranh đặc biệt sang Lào, tiếp tục uy hiếp chủ quyền lãnh thổ, phá hoại nền trung lập của Campuchia, mưu toan khống chế hai nước này và cô lập cách mạng miền Nam Việt Nam
Việc tăng cường đoàn kết giữa ba nước Đông Dương trở thành nhân tố có tầm quan trọng chiến lược bảo đảm thắng lợi cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam
Trang 23Phối hợp chống Mỹ tăng cường mở rộng chiến tranh
Từ cuối năm 1963, sang 1964, quân và dân miền Nam đẩy mạnh đấu tranh quân sự, chính trị trên cả ba vùng chiến lược, giáng cho quân ngụy Sài Gòn những đòn nặng nề
Nhiệm vụ chủ yếu của ngoại giao hai miền khuếch trương thắng lợi của quân và dân miền Nam trên chiến trường; tố cáo Mỹ và cảnh báo dư luận thế giới về âm mưu nguy hiểm của Mỹ leo thang chiến tranh; khẳng định quyết tâm của nhân dân Việt Nam đánh bại hành động chiến tranh của Mỹ; động viên dư luận thế giới lên án Mỹ, ngăn chặn Mỹ mở rộng chiến tranh
và ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
Trang 24→Như vậy, trong giai đoạn từ 1961 đến 1964, để góp phần làm thất bại
“chiến tranh đặc biệt" của Mỹ, ngoại giao Việt Nam hoạt động nhằm tranh thủ sự ủng hộ quốc tế cho công cuộc xây dựng miền Bắc và tăng cường tiềm lực quốc phòng của Việt Nam
Ngoại giao hai miền phối hợp vận động quốc tế, đề cao vị trí của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, tranh thủ sự ủng hộ, công nhận của các nước đối với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và thúc đẩy việc hình thành mặt trận thế giới đoàn kết với nhân dân Việt Nam chống Mỹ
Trang 26III Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
Trang 27Trước những phát triển mới trên mặt trận đấu tranh chính trị, quân sự,
ngoại giao, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong giai
đoạn mới được Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày trong Báo cáo tại Hội nghị
Chính trị đặc biệt, ngày 28 tháng Ba 1964, với những nội dung chính:
III Ngoại giao phục vụ đánh thắng chiến tranh cục bộ: giai đoạn 1965 - 1968
Trang 28Về miền Nam:
- Làm rõ chính sách và hành động của đế quốc Mỹ là xâm lược, và chính quyền Sài Gòn chỉ là tay sai của Mỹ
- Làm rõ chính đế quốc Mỹ và tay sai đã phá hoại Hiệp định Geneva 1954
- Làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là chính nghĩa, nhân dân miền Nam vì độc lập dân tộc, hoà bình mà phải chống Mỹ
- Làm rõ cuộc đấu tranh yêu nước của nhân dân miền Nam là một đóng góp to lớn vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới
- Tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ ngày càng mạnh mẽ và đầy đủ hơn của phe ta và của nhân dân thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của ta ở miền Nam
Trang 29Về miền Bắc:
- Làm rõ đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc là hòng gỡ thế chúng thất bại trong "chiến tranh đặc biệt" ở miền Nam, nhưng càng làm thế, chúng càng thất bại nặng nề hơn
- Làm rõ đế quốc Mỹ đã xâm phạm chủ quyền độc lập của Việt Nam
- Động viên dư luận thế giới đòi Mỹ chấm dứt hoàn toàn, không điều kiện việc ném bom đánh phá miền Bắc Việt Nam
Trang 30Đấu tranh chống các "chiến dịch hoà bình" và luận điệu "đàm phán không đều làn" của Mỹ
Gây chiến tranh xâm lược chống nhân dân Việt Nam, Mỹ ở thế yếu về chính trị và phi nghĩa Mỹ tìm cách che đậy bản chất phi nghĩa của các hoạt động chiến tranh bằng các thủ đoạn ngoại giao hoà bình
Chống lại các luận điệu hoà bình giá hiệu của chính quyền Mỹ, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Mặt trận Dân tộc Giải phóng đã tiến hành nhiều hoạt động ngoại giao, tích cực vận động và tuyên truyền quốc tế nhằm cảnh báo trước
dư luận thế giới hành động xâm lược của Mỹ; nhấn mạnh cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam
Trang 31Ngày 22 tháng Ba 1965, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra Tuyên bố năm điểm, lên án hành động chiến tranh mới của đế quốc Mỹ, nêu rõ lập trường, mục tiêu chiến đấu và quyết tâm của nhân dân miền Nam Việt Nam chống xâm lược Mỹ cho đến thắng lợi cuối cùng
Đấu tranh chống các "chiến dịch hoà bình" và luận điệu "đàm phán không đều làn" của Mỹ
Ngày 8 tháng Tư 1965, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đưa ra Tuyên bố bốn điểm, nêu rõ lập trường và nguyên tắc lớn của một giải pháp cho vấn đề Việt Nam trên cơ sở vận dụng những điều khoản của Hiệp định Geneva 1954 phù hợp với tình hình mới Việt Nam
Trang 32Thúc đẩy hình thành mặt trận đoàn kết nhân dân ba nước Đông Dương
Trang 33Thúc đẩy hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam
Trang 34Thúc đẩy hình thành phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh
Ngay mùa Thu 1965, lúc Mỹ vừa đưa một số đơn vị quân chiến đấu đầu tiên vào miền Nam, các tổ chức chống chiến tranh đã thành lập "Uỷ ban phối hợp toàn quốc" đòi chấm dứt chiến tranh Việt Nam
Uỷ bạn này liên tiếp phát động hai đợt đấu tranh lớn, đợt thứ nhất từ ngày
15 đến 17 tháng Mười 1965, đợt thứ hai từ ngày 15 đến 25 tháng Ba 1966 Hai đợt mở đầu này lôi cuốn trên nửa triệu người Mỹ ở hơn 100 thành phố tham gia
→ Phong trào nhân dân Mỹ chống chiến tranh đã tác động lớn đến thái độ của chính giới Mỹ
Trang 35Tạo cục diện vừa đánh vừa đàm
Trên đà thắng lợi ở chiến trường, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ mười ba khoá III, tháng Giêng 1967, quyết định đẩy mạnh chiến đấu trên cả hai miền
Trang 36Để giành thắng lợi trên mặt trận này, phương châm đấu tranh của ta là phát huy thế mạnh, thế thắng của ta, chủ động tấn công địch, giữ vững tính độc lập tự chủ, đồng thời phối hợp chặt chẽ với các nước anh em Trên cơ sở kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, cần vận dụng sách lược ngoại giao một cách linh hoạt, khôn khéo, giành thắng lợi từng bước.
Trang 38IV Góp phần làm phá sản "Việt Nam hoá chiến tranh", đàm phán và ký kết Hiệp định Paris về Việt Nam: Giai đoạn 1954 - 1973
Cùng với những thất bại nặng nề trên chiến trường Việt Nam, đỉnh cao là trong cuộc tổng tấn công nổi dậy của quân và dân miền Nam Việt Nam dịp Tết Mậu Thân, Mỹ bước vào thời kỳ suy yếu rõ rệt, kinh tế khó khăn, nội bộ chia rẽ sâu sắc
Tháng Giêng 1969, R Nixon lên cầm quyền, đại diện cho nhữngthế lực hiếu chiến nhất của nước Mỹ Để khắc phục tình trạng suy yếu, chính quyền mới điều chỉnh chiến lược toàn cầu
Trang 39Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968
Trang 40Đấu tranh chống chiến lược quân sự và ngoại giao của chính quyền Nixon
Về đối ngoại, chính quyền Nixon xây dựng một chiến lược toàn cầu mới, trong khuôn khổ "Học thuyết Nixon" Với âm mưu lợi dụng máu thuẫn Xô - Trung, chính quyền Nixon đẩy mạnh triển khai "ngoại giao ba bên" hay còn gọi là "tam giác chiến lược Mỹ - Xô - Trung", mà bước đột phá là cải thiện quan hệ với Trung Quốc làm đối trọng với Liên Xô, đồng thời thúc đẩy quá trình hoà hoãn với Liên Xô
Nixon hy vọng qua việc cải thiện quan hệ với hai nước lớn xã hội chủ nghĩa, đồng minh chiến lược của Việt Nam, để gây sức ép đổi với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, hòng gỡ "khúc xương" chiến tranh Việt Nam
Ngoại giao Việt Nam có nhiệm vụ nặng nề và phức tạp là vừa đấu tranh chống lại thủ đoạn và chính sách ngoại giao thâm độc của Mỹ, vừa bảo đảm duy trì viện trợ, sự ủng hộ và đoàn kết của Liên Xô và Trung Quốc, không để những cải thiện quan hệ giữa các nước lớn với nhau ảnh hưởng đến cuộc kháng chiến chống Mỹ và việc đàm phán kết thúc chiến tranh giữa Việt Nam
và Hoa Kỳ
Về đối ngoại, sau khi Mỹ chấm dứt ném bom miền Bắc và chuẩn bị mở hội nghị bốn bên, đầu năm 1969, Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam đề ra mấy nhiệm vụ chủ yếu:
Trang 411 Đấy địch xuống thang một bước trên chiến trường chính, ép Hoa Kỳ đơn phương rút một bộ phận quân Mỹ;
2 Khoét sâu mâu thuẫn, khó khăn nội bộ Mỹ, nội bộ ngụy, mâu thuẫn Mỹ - ngụy;
3 Đề cao vị trí quốc tế của Mặt trận Dân tộc Giải phóng (sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời);
4 Tranh thủ các nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục ủng hộ và giúp đỡ ta về vật chất và chính trị, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ mạnh mẽ, có hiệu quả của phong trào nhân dân thế giới, bao gồm cả nhân dân Mỹ, đấu tranh đòi Mỹ rút nhanh, rút hết và không điều kiện quân ra khỏi miền Nam.
Trang 42Nó có nhiệm vụ phát huy thể thắng và thể chủ động của ta, tiến công một kẻ địch đang thất bại, bị động về mọi mặt và phải xuống thang; phát huy thắng lợi quân sự và chính trị trên chiến trường quốc tế; tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ lớn nhất của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ; triệt
để lợi dụng những mâu thuẫn và bế tắc của địch, làm cho tình hình hậu phương của Mỹ ngày càng bất lợi cho Mỹ, làm cho chúng ngày càng cô lập, lúng túng và bị động; nắm vững thời cơ, phối hợp với tiến công quân sự và tiến công chính trị, tiến công liên tục và sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách lược, vừa kiên quyết, vừa linh hoạt, buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải pháp chính trị đáp ứng yêu cầu cơ bản của ta”
Trang 43Hội nghị bốn bên ở Paris: Ép Hoa Kỳ xuống thang chiến tranh, nứt dân quân khỏi miền Nam Việt Nam
Trang 44Ngày 3 tháng Mười một 1968, đại diện Mỹ gặp đại diện Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đề nghị bắt đầu cuộc họp trù bị từ ngày 6 tháng Mười một Ngày
2 tháng Mười một, đoàn tiền trạm của Mặt trận Dân tộc Giải phóng do bà Nguyễn Thị Bình, Uỷ viên Đoàn chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng, làm trưởng đoàn, đến Paris
Tiến trình đến đây tưởng đã ổn nhưng lại nảy sinh vấn đề về hình dáng bàn họp và chỗ ngồi của các đoàn