1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản án

18 217 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 375,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI Lớp : N06-TL2 Nhóm : 01 “Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa k

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Lớp : N06-TL2 Nhóm : 01

“Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật và giải quyết các yêu cầu ”

ĐỀ BÀI: 17

MÔN: LUẬT DÂN SỰ

1

BÀI TẬP NHÓM

Trang 2

MỤC LỤC

BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM 2

A MỞ ĐẦU 4

B NỘI DUNG 4

Câu 1: Từ bản án, quyết định đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dạng tình huống dài tối đa 1 trang A4 4

Câu 2: Chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quyết định hoặc bản án mà nhóm sưu tầm được và giải thích tại sao nhóm cho rằng chưa phù hợp? 6

Câu 3: Đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật 7

Câu 4: Từ việc phân tích vụ án, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành 9

C KẾT LUẬN 13

PHỤ LỤC: CÁC TỪ VIẾT TẮT 14

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

BẢNG ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG NHÓM Nhóm: 01 Luật Dân sự 1.

Lớp: N06 - TL2.

Đề bài số 17:

“Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm của Tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài sản là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật và giải quyết các yêu cầu ”

Câu 1: Từ bản án, quyết định đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dạng tình huống tối đa 1 trang A4 (giãn dòng 1.5, cỡ chữ 14, không giãn đoạn, không giãn chữ)

Câu 2: Hãy chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quyết định hoặc bản án sơ thẩm mà nhóm đã sưu tầm và giải thích vì sao nhóm lại cho rằng chưa phù hợp?

Câu 3: Hãy đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật

Câu 4: Từ việc phân tích vụ án, nhóm hãy đưa ra kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật hiện hành

Phân chia công việc và họp nhóm:

- Câu 1 và câu 2 lấy ý kiến chung cả nhóm, căn cứ bản thông báo rút kinh nghiệm của VKSNDCC để hoàn thiện, câu 3 và câu 4 chia 2 nhóm nhỏ:

- Nhóm 1: Đỗ Vân Khánh, Trần Thị Thu, Chu Thế Nam, Lê Doãn Thành Anh (triển khai câu 3 và tổng hợp ý kiến thành một bản word)

- Nhóm 2: Nguyễn Thu Hiền, Nguyễn Vương Hải An, Nguyễn Tuấn Nam, Lò Văn Hưng (triển khai câu 4 và tổng hợp ý kiến thành một bản word)

- Trưởng nhóm Nguyễn Bảo Hân phân chia công việc cụ thể, sau khi nhận bản word từ 2 nhóm sẽ tổng hợp và chỉnh sửa thành một bài hoàn chỉnh Lấy

ý kiến cả nhóm để hoàn thiện và tiến hành chuẩn bị slide thuyết trình

Trang 4

Công việc thực hiện

Tiến độ (đúng hạn)

họp nhóm

Kết luận xếp loại

tốt

Trung bình

Tố t

Đầy đủ

Tíc h cực

Nhiều ý tưởng 1.

Trần Thị

Thu

(450330)

Lên ý tưởng, triển khai, thuyết trình.

2.

Chu Thế

Nam

(450331)

Lên ý tưởng,

3.

Đỗ Vân

Khánh

(450332)

Lên ý tưởng,

4.

Nguyễn Thị

Thu Hiền

(450333)

Lên ý tưởng,

5.

Lò Văn

Hưng

(450334)

Lên ý tưởng,

6.

Nguyễn Bảo

Hân

(450335)

Lên ý tưởng, góp ý, làm powerpoint.

7.

Nguyễn

Tuấn Nam

(450336)

Lên ý tưởng, góp ý, triển khai.

8.

Lê Doãn

Thành Anh

(450337)

Lên ý tưởng,

9.

Nguyễn

Vương Hải

An

Lên ý tưởng, góp ý, triển khai.

Trang 5

(450338)

Trang 6

A MỞ ĐẦU

Thừa kế di sản là quyền lợi hợp pháp của người thừa kế đối với tài sản do người chết để lại, bao gồm cả thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, việc phân chia di sản thừa kế làm phát sinh các tranh chấp do sự mâu thuẫn, bất đồng quan điểm giữa những người thừa kế hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác

Tranh chấp về thừa kế có thể là: tranh chấp về hàng thừa kế, tranh chấp di chúc thừa kế, tranh chấp di sản thừa kế, tranh chấp buộc người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tái ản do người chết để lại, tranh chấp về chia di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, tranh chấp xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác, Khi xảy ra tranh chấp di sản thừa kế, cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu TAND có thẩm quyền giải quyết theo trình tự Bộ Luật Tố tụng Dân sự quy định khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm trong tranh chấp liên quan đến thừa kế Hiện trạng cho thấy, trong nhiều bản án, Tòa án có thẩm quyển giải quyết còn tồn tại nhiều vi phạm, bất cập làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự Vậy để làm rõ vấn đề nêu trên, nhóm chúng em xin lựa chọn đề bài

số 17 làm bài tập nhóm trong học kỳ này: “Hãy sưu tầm một bản án sơ thẩm

của Tòa án liên quan đến việc giải quyết tranh chấp về xác định các tài sản

là di sản thừa kế mà theo quan điểm của nhóm bản án đó chưa phù hợp với quy định của pháp luật và giải quyết các yêu cầu ”

B NỘI DUNG

Câu 1: Từ bản án, quyết định đã sưu tầm được, hãy tóm tắt nội dung vụ việc dưới dạng tình huống dài tối đa 1 trang A4

Nội dung bản án dân sự sơ thẩm số 03/2017/ST-DS ngày 28/06/2017 về

“Tranh chấp thừa kế tài sản” của TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương:

Cụ P.V Thường và cụ H T Sủng sinh được 6 người con là: bà P.T Lệ, bà P.T Thược, bà P.T Bốn, ông P.V Xuyên, bà P.T Điềm và bà P.T Huấn (mất năm 1997) Năm 1977, cụ Thường chết không để lại di chúc, được xác nhận không có tài sản để lại Sau đó, cụ Sủng tạo lập được tài sản là 643,2m2 đất tại thôn Ngọc Lộ, xã Tân Việt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương Năm 2013 cụ

Trang 7

chết không để lại di chúc Phần lớn diện tích đất này do vợ chồng ông P.V Xuyên và bà N.T Lanh quản lý, sử dụng; trên đó ông bà đã xây dựng căn nhà

2 tầng và công trình phụ; phần còn lại do anh Dũng (con bà Huấn) quản lý, sử dụng

Bà Thược cho rằng, khi còn sống cụ Sủng chưa làm thủ tục tách đất cho ai nên việc UBND huyện cấp giấy CNQSDĐ cho vợ chồng ông Xuyên là trái pháp luật, đề nghị chia thừa kế di sản cụ Sủng để lại và hủy giấy CNQSDĐ Ông Xuyên bà Lanh kết hôn năm 1992 và ở cùng cụ Sủng Năm 2009 cụ đồng ý cho vợ chồng ông phá căn nhà cấp 4 đã cũ để xây nhà 2 tầng và công trình phụ như hiện nay Năm 2003 ông Xuyên bà Lanh được cấp giấy CNQSDĐ đối với diện tích 428m2 tại thôn Ngọc Lộ, xã Tân Việt, huyện Thanh Hà (208m2 đất ở, 220m2 đất trồng cây lâu năm trừ vào tiêu chuẩn 721) Trước khi xây nhà năm 2009, cụ Sủng đã đưa cho bà Lanh giấy CNQSDĐ đối với diện tích vợ chồng bà đang ở cùng với cụ Ông Xuyên ban đầu có khai đã biết về giấy CNQSDĐ trước khi xây nhà, giấy này do vợ ông đưa, sau đó lại thay đổi lời khai là đến khi xảy ra tranh chấp ông mới biết về giấy CNQSDĐ

Về việc kê khai đăng ký cấp giấy CNQSDĐ, hai vợ chồng ông đều không phải là người kê khai mà là do cụ Sủng kê khai, đăng ký và đưa cho bà Lanh Kết quả giải quyết của TAND:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Thược và hủy giấy CNQSDĐ của vợ chồng ông Xuyên

- Không chấp nhận việc đổi trừ 57m2 (tiêu chuẩn 7211 còn thiếu của ông Xuyên, bà Lanh) và 221m2 (trừ tiêu chuẩn 721) vào đất ở của cụ Sủng

- Xác nhận khối di sản thừa kế của cụ Sủng để lại là diện tích 643,2m2 trị giá 2.536.800.000 đồng

- Về hiện vật: ông Xuyên, bà Thược, bà Bốn, bà Điềm, bà Lệ, anh Dũng mỗi người được hưởng phần kỷ thừa kế2 là 422.800.000 đồng

là Hải Dương và Hưng Yên) và Nghị quyết 03/NQ-TU tỉnh Hải Hưng ban hành quy định về việc chuyển giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho hộ nông dân trong toàn tỉnh

2 Kỷ phần thừa kế là phần thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, mà theo quy định của pháp luật.

Trang 8

- Về đất: chia quyền sử dụng đất ở cụ thể là ông Xuyên 201,1m2; bà Thược 97,2m2; bà Lệ 103,7m2; bà Bốn 85,7m2; bà Điềm 76,9m2 và anh Dũng 78,6

m2

Câu 2: Chỉ ra những điểm chưa phù hợp trong quyết định hoặc bản án mà nhóm sưu tầm được và giải thích tại sao nhóm cho rằng chưa phù hợp?

Về vấn đề đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm:

Theo tài liệu xác minh tại UNND xã Tân Việt và Phòng Tài nguyên môi

trường huyện Thanh Hà thì giấy CNQSDĐ cấp cho ông Xuyên, bà Lanh là cấp theo đợt cho cả xã, nên về trình tự, thủ tục phải thao đúng quy định của pháp luật Việc ông Xuyên và các chị em ông Xuyên cho rằng không biết việc cấp giấy CNQSDĐ cho vợ chồng ông Xuyên là không đúng

Ông Xuyên, bà Lanh đều khai không phải là người kê khai đề nghị tách thửa đất, trong khi cụ Sủng là chủ sử dụng đất mới có quyền kê khai đề nghị tách thửa đối với thửa đất của cụ Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng “hồ sơ cấp giấy chứng nhận của vợ chồng ông Xuyên bị thất lạc nên không có căn cứ xác định việc cấp giấy CNQSDĐ hợp pháp và cụ Sủng đã chết nên không xác định được có phải ý chí tặng cho của cụ hay không” là không có căn cứ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của ông Xuyên, bà Lanh

Mặt khác, theo lời khai của hai vợ chồng ông Xuyên thì cụ Sủng ở với vợ chồng ông từ khi ông Xuyên và bà Lanh kết hôn năm 1992 Quá trình sử dụng đất, cụ Sủng đồng ý cho vợ chồng ông Xuyên phá căn nhà cấp 4 đã cũ để xây dựng căn nhà 2 tầng kiên cố và công trình phụ trên đất Ông Xuyên và bà Lanh đã được cấp giấy CNQSDĐ năm 2003, ông Xuyên cũng thừa nhận biết

vợ chồng ông được cấp giấy chứng nhận từ thời điểm làm nhà năm 2009 Cụ Sủng khi còn sống và các chị em của ông Xuyên không ai có ý kiến gì về việc

vợ chồng ông được cấp giấy CNQSDĐ Trong tường hợp này phải xác định

cụ Sủng đã cho vợ chồng ông Xuyên bà Lanh diện tích đất trên và đây là tài sản chung của vợ chồng ông Xuyên, bà Lanh phù hợp theo Án lệ số 03/2016 (về xác định sự tồn tại của giao dịch dân sự tặng cho quyền sử dụng đất giữa cha mẹ và con cái)

Về áp dụng án lệ, tính công sức cho người quản lý di sản:

Trang 9

Vì cụ Sủng chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của cụ sẽ được chia theo hướng chia thừa kế theo pháp luật như vậy là đúng Tuy nhiên, trong phần chia thừa kế chưa tính phần công sức quản lý, tôn tạo di sản của bà Lanh, do vậy Tòa án chia luôn 6 phần là không thỏa đáng Tòa án cấp sơ thẩm

đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà P.T Thược và chia di sản thừa kế diện tích đất tranh chấp cho các đồng thừa kế di sản của cụ Sủng nhưng không xem xét đến phần công sức đống góp, quản lý, tôn tạo khối di sản của

bà Lanh là không đúng với nội dung của Án lệ số 05/2016 (về vụ án “Tranh chấp tài sản thừa kế”)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm này cũng còn tồn tại một số vấn đề về xác định diện tích đất theo tiêu chuẩn 721, nhóm chúng em xin phép không trình bày nội dung này vì không thuộc phần nội dung trọng tâm của đề bài

Câu 3: Đưa ra quan điểm của nhóm về việc giải quyết vụ việc phù hợp với quy định của pháp luật:

Thứ nhất, vợ chồng ông Xuyên đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất năm 2003 Ông Xuyên cũng thừa nhận biết vợ chồng ông được cấp giấy CNQSDĐ từ thời điểm làm nhà 2009 Cụ Sủng khi còn sống và các anh

em ông Xuyên không ai có ý kiến gì về việc vợ chồng ông Xuyên được cấp giấy CNQSDĐ Trong trường hợp này phải xác định cụ Sủng đã cho vợ chồng ông Xuyên, bà Lanh diện tích đất trên và đây là tài sản chung của hai ông bà

Vấn đề đặt ra ở đây là, không hề tồn tại một hợp đồng tặng cho nào trong trường hợp này thì việc tặng cho đó có được pháp luật thừa nhận hay không?  Khoản 1 Điều 119 BLDS 2015, khoản 1 Điều 124 BLDS 2005 quy định:

“Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành

vi cụ thể” Giao dịch dân sự được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau bao gồm: lời nói, hành vi cụ thể hoặc bằng văn bản Hình thức bằng lời nói, hành vi cụ thể thường áp dụng cho những giao dịch được thực hiện và sau khi chấm dứt ngay sau khi thực hiện (mua bán trao tay) hoặc áp dụng giữa các chủ thể có sự tin cậy hoặc mối quan hệ thân thiết

Tùy từng trường hợp cụ thể để xác định các hành vi của các bên có thể hiện

sự tồn tại của một hợp đồng tặng cho hay không Tuy nhiên căn cứ vào nội

Trang 10

dung án lệ 03/2016 “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng nhà kiên cố trên diện tích đất đó

để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con

đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất” ta có thể thấy được trường hợp của vợ chồng ông Xuyên hoàn toàn có thể áp dụng theo vì tình tiết của 2

vụ việc là tương đối giống nhau Án lệ 03/2016 hướng dẫn xác định sự tồn tại hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thông qua hành vi cụ thể và với vụ việc này thì việc tặng cho QSDĐ của cụ Sủng và vợ chông ông Xuyên cũng nên được công nhận và giải quyết tương tự như vậy để không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ chồng ông Xuyên và phù hợp với quy định pháp luật

Thứ hai, tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và chia di

sản thừa kế diện tích đất tranh chấp cho các đồng thừa kế của cụ Sủng nhưng

về phía của bà Lanh là người đã được cụ Sủng đưa cho giấy chứng nhận QSDĐ theo lời khai của bà thì lại phản đối và không nhất trí trong việc chia khối di sản trên Từ đó bà Lanh cũng không đề nghị xem xét và thanh toán cho bà tiền công sức, đóng góp, quản lý, tôn tạo khối di sản trên Như vậy, tòa

án đã giải quyết chưa triệt để trong việc đưa ra kết quả giải quyết, vi phạm nghiêm trọng với nội dung án lệ số 05/2016 “Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng

ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không

có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa

kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa

kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức” Có nghĩa là trong trường hợp này dù cho bà Lanh có yêu cầu hay không thì tòa án vẫn phải xem xét về quyền lợi này của vợ chồng bà Lanh một cách công bằng nhất Từ đó việc chia di sản cho ông xuyên, bà Thược, bà Bốn, bà Điềm, bà

Lệ, anh Dũng sẽ không phải là mỗi người 422800000 đồng nữa

Trang 11

Thứ ba, đã là tranh chấp chia di sản thừa kế mà di sản là quyền sử dụng đất

thì Tòa án cấp sơ thẩm phải chủ động nghiên cứu hồ sơ phần giấy CNQSDĐ, xem xét các lời khai của đương sự về việc xác nhận diện tích đất theo tiêu chuẩn 721 và có bị trừ vào vườn thừa theo tiêu chuẩn này hay không

Thứ tư, thẩm phán cần làm việc với UBND xã, phường, thị trấn nơi xảy ra

tranh chấp chia di sản thừa kế về việc chia đất 721 cho các thành viên hộ gia đình có liên quan đến diện tích đất đang tranh chấp, có những ai trong hộ gia đình đó bị trừ và diện tích trừ là bao nhiêu

Câu 4: Từ việc phân tích vụ án, đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành:

Bộ luật Dân sự và các văn bản liên quan còn nhiều mẫu thuẫn trong hướng dẫn xác định tài sản là di sản thừa kế Các văn bản hướng dẫn giải quyết xác định tài sản là di sản thừa kế không ổn định, thường xuyên được sửa đổi, bổ sung Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật về thừa kế có sự mâu thuẫn với nhau và còn chung chung nên khi áp dụng trên thực tiễn rất khó khăn Chính vì vậy, khi giải quyết cùng một vụ án lại có nhiều ý kiên khác nhau, gây khó khăn cho công tác kiểm sát giải quyết các vụ án dân sự liên quan đến di sản thừa kế Vì vậy, nhóm chúng em có một số kiến nghị hoàn thiện như sau:

4.1 Về quyền lợi của người làm dâu, (rể) trong vai trò là người quản lý di sản:

Trên thực tế, đa phần con dâu là người chăm sóc bố mẹ chồng, nhiều trường hợp còn hơn cả bố mẹ đẻ và thông thường là người có công sức trong việc quản lý, tôn tạo tài sản là bất động sản có thể trở thành di sản chia thừa

kế khi bố mẹ chồng qua đời Tuy nhiên, nếu không có quan hệ tốt với bố mẹ chồng thì người con dâu không hề được nhận thừa kế theo ý chí người để lại

di sản theo di chúc và phần công sức quản lý, tôn tạo di sản cũng không được bảo đảm chắc chắn

Xét thấy trong ví dụ từ bản án trên, thực tế, bà Lanh bị chính chồng và các chị

em chồng chèn ép, sau khi giải quyết tranh chấp theo tòa án bà không có nhà

để ở, không có tài sản đảm bảo, từ người sở hữu nhà đất trở thành người trắng

Ngày đăng: 24/09/2021, 20:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb.Công an nhân dân, Hà Nội, 2021 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam
Nhà XB: Nxb.Công an nhân dân
3. Thông báo số 75/TB-VC1-DS của VKSNDCC tại Hà Nội về việc rút kinh nghiệm vụ án “Tranh chấp thừa kế tài sản” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh chấp thừa kế tài sản
6. Án lệ số 05/2016 về xác định yêu cầu của đương sự trong vụ án “Tranh chấp di sản thừa kế” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranhchấp di sản thừa kế
5. Phân tích Án lệ số 03/2016/AL (tóm tắt, nội dung, ý nghĩa, hướng dẫn) (http://law.atim.com.vn/vnt_upload/news/03_2018/11/Presentation_Precedent_03_180304.pdf) Link
7. Phân tích Án lệ số 05/2016/AL (tóm tắt, nội dung, ý nghĩa, hướng dẫn) (http://law.atim.com.vn/vnt_upload/news/03_2018/11/Presentation_Precedent_05_180129.pdf) Link
8. Bài báo ngày 04/02/2018 (https://thanhtra.com.vn/dieu-tra/dieu-tra-theo-don-thu-/26-nam-lam-dau-tu-chu-so-huu-dat-o-thanh-trang-tay-130369.html) Link
9. Những kinh nghiệm rút ra từ một vụ án tranh chấp đòi nhà(https://kiemsat.vn/nhung-kinh-nghiem-rut-ra-tu-mot-vu-an-tranh-chap-doi-nha-61485.html?) Link
10. Chuyên đề thừa kế - Cơ quan điều tra VKSTC(https://coquandieutravkstc.gov.vn/wp-content/uploads/2017/12/) Link
4. Án lệ số 03/2016/AL về xác định sự tồn tại của giao dịch dân sự tặng cho quyền sử dụng đất giữa cha mẹ và con cái Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w