Điều 14 - điều đầu tiên của Chương II khẳng địnhnguyên tắc: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội
Trang 1DỰ ÁN TĂNG CƯỜNG TIẾP CẬN CÔNG LÝ
VÀ BẢO VỆ QUYỀN TẠI VIỆT NAM STRENGTHENING ACCESS TO JUSTICE AND PROTECION OF RIGHTS IN VIET NAM
Hải Phòng, 9 – 10 tháng 10 năm 2014
Trang 2CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO “Đánh giá tổng quan dự án Luật Hộ tịch dưới góc độ bảo vệ quyền con người”
Thời gian: 02 ngày từ ngày 9 đến ngày 10/ 10/2014
-Địa điểm: thành phố Hải Phòng
Chủ trì Hội thảo: TS Nguyễn Công Khanh, Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực
Phiên làm việc thứ nhất
8h00 – 8h30 Đăng ký đại biểu Cục Hộ tịch, quốc
tịch, chứng thực
8h30 – 8h40 Giới thiệu đại biểu, Chương trình
trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực
8h40 – 9h00 Phát biểu khai mạc Hội thảo TS Nguyễn Công
Khanh – Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực
9h00 – 9h30 Giới thiệu về quan điểm chỉ đạo, quá
trình xây dựng và một số nội dung
cơ bản của thảo Luật Hộ tịch
TS Nguyễn Công Khanh – Cục trưởng Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực
em ) ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền của cá nhân, của công dân.
Tiến sĩ Trần Thất Chuyên gia
-
11h00-11h30 Trao đổi, thảo luận Chủ trì Hội thảo điềuhành
Kết thúc phiên làm việc thứ nhất
Trang 3Phiên làm việc thứ hai
14h00 –
14h30 Tham luận thứ 2:Định hướng, mức độ cụ thể hóa, quan
điểm cải cách hành chính nhằm bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân trong dự án Luật Hộ tịch; mức độ bảo đảm thực thi quyền con người thông qua các chế định về đăng ký hộ tịch trong dự án Luật Hộ tịch (về thẩm quyền, về thủ tục hành chính, về đổi mới phương thức đăng ký/quản lý hộ tịch, về khả năng/cơ hội bảo đảm việc thúc đẩy thực hiện quyền công dân thông qua đăng ký hộ tịch theo hướng hiện đại ).
Chuyên gia
Trang 4nhằm bảo đảm quyền nhân thân cơ bản của con người
9h00 – 9h30 Trao đổi thảo luận Chủ trì Hội thảo điều
hành
9h30 –
10h00 Nghỉ giải lao
10h30 –
10h00 Một số vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự thảo Luật Hộ tịch
Ông Đỗ Huy Trung, Hàm Vụ trưởng Vụ Pháp luật – Văn phòng Quốc hội
Trang 5MỤC LỤC
1 THAM LUẬN THỨ 1: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI.
2 THAM LUẬN THỨ 2: QUYỀN NHÂN THÂN TRONG DỰ THẢO
LUẬT HỘ TỊCH DƯỚI GÓC ĐỘ THỂ CHẾ HÓA CÁC NGHỊ QUYẾT CỦA ĐẢNG, HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT VÀ CÁC ĐIỀU ƯỚC QUỐC
TẾ MÀ VIỆT NAM KÝ KẾT VÀ GIA NHẬP.
3 THAM LUẬN THỨ 3: DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH - PHƯƠNG HƯỚNG
HOÀN THIỆN NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN CÔNG DÂN TRONG TÌNH HÌNH MỚI.
4 THAM LUẬN THỨ 4: BÁO CÁO TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN LUẬT HỘ
TỊCH DƯỚI GÓC ĐỘ BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI TRÊN CƠ SỞ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA CÁC CHUYÊN GIA, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN DỰ ÁN LUẬT HỘ TỊCH NHẰM BẢO ĐẢM THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC HỘ TỊCH
Trang 6THAM LUẬN THỨ 1: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
HIỆN HÀNH LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC BẢO ĐẢM THỰC THIQUYỀN CON NGƯỜI
ĐẶT VẤN ĐỀ
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhânloại Các chuẩn mực, nguyên tắc trong luật quốc tế về quyền con ngườiđược thể hiện rõ nhất trong tuyên ngôn thế giới về nhân quyền và trong cáccông ước quốc tế về quyền con người Với tư cách là một thành viên củaLiên Hợp Quốc, Việt Nam tôn trọng và ghi nhận nguyên tắc tự nguyệnthực hiện cam kết quốc tế Khoản 6 Điều 3 của Luật Ký kết, gia nhập và
thực hiện điều ước quóc tế năm 2005 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuân thủ điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; đồng thời có quyền đòi hỏi thành viên khác cũng phải tuân thủ điều ước quốc tế đó”.
Tôn trọng, bảo vệ quyền con người là vấn đề luôn được Đảng vàNhà nước Việt Nam quan tâm, bảo đảm thực hiện, Việt Nam đã trở thànhthành viên của nhiều điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người1, đã
“nghiêm chỉnh tuân thủ Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết” Các
quyền con người trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên đã
và đang từng bước được nội luật hóa, thể hiện ngày càng đầy đủ, rõ néttrong Hiến pháp, pháp luật Việt Nam Hệ thống pháp luật của Việt Nam đãkhông ngừng được bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện phù hợp với các chuẩnmực quốc tế về quyền con người Điều này, được thể hiện rõ nét trongHiến pháp Việt Nam năm 2013, quy định về "quyền con người, quyềnnghĩa vụ cơ bản của công dân" được đưa lên Chương II, ngay sau Chương
1 Việt Nam là thành viên của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước quốc tế về chống phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước quốc tế về quyền trẻ em v.v…
Trang 7"Chế độ chính trị" Điều 14 - điều đầu tiên của Chương II khẳng định
nguyên tắc: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”, cũng
như trong toàn bộ quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở Việt Namnói chung và pháp luật về bảo đảm việc thực hiện quyền con người tronglĩnh vực hộ tịch nói riêng Trong quá trình nội luật hóa các quy định phápluật quốc tế về quyền con người, và bảo đảm thực hiện quyền con ngườicần phải cân đối để làm sao vừa đảm bảo nâng cao hiệu quả quản lý nhànước, vừa đảm bảo quyền con người của công dân, đảm bảo tuân thủnguyên tắc: một mặt, phải tôn trọng các chuẩn mực của pháp luật quốc tế
về quyền con người, thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế; mặt khácphải tôn trọng thực tiễn khác quan để xây dựng các quy phạm pháp luậtbảo đảm quyền con người phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và truyềnthống văn hóa của Việt Nam, bảo đảm các quy định pháp luật có tính khảthi cao, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong đời sống xã hội
Trong khuôn khổ chuyên đề này, tác giả tập trung nghiên cứu,
rà soát các quy định pháp luật hiện hành quy định về quyền con người trong lĩnh vực hộ tịch (quyền nhân thân cơ bản của cá nhân), đồng thời phân tích những tồn tại, hạn chế trong nội tại hệ thống pháp luật hiện hành nhằm bảo đảm thực hiện quyền con người của
cá nhân trong lĩnh vực hộ tịch, qua đó chỉ ra những bất cập đối với người dân khi thực hiện quyền của mình, đặc biệt tập trung vào các quy định pháp luật về việc bảo đảm thực hiện quyền khai sinh, kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, khai tử (nhóm quyền được thực hiện tương đối phổ biến trong quá trình thực hiện công tác quản lý nhà nước về hộ tịch).
Trang 8Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luậtbảo đảm thực hiện quyền con người trong lĩnh vực hộ tịch, tác giả đưa ranhững đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hộ tịch,nhằm thực hiện tốt hơn việc bảo đảm quyền con người trong lĩnh vựcnày.
Việc nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật bảo đảm thựchiện quyền con người trong lĩnh vực hộ tịch tập trung vào những nộidung cơ bản sau: (i)Những quy định về quyền con người liên quan đếnlĩnh vực hộ tịch; (ii) Những quy định của pháp luật hộ tịch hiện hànhbảo đảm thực thi quyền con người; (iii) Những bất cập trong việc thựchiện các quy định của pháp luật hộ tịch hiện hành bảo đảm thực thiquyền con người
I NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN CON NGƯỜI LIÊN QUAN ĐẾN LĨNH VỰC HỘ TỊCH
1 Các văn bản pháp luật hiện hành quy định về quyền con người liên quan đến lĩnh vực hộ tịch
Hiến pháp: Hiến pháp năm 2013 có Chương một chương riêng
quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.Liên quan trực tiếp đến lĩnh vực hộ tịch, Hiến pháp quy định:
- Nam nữ có quyền kết hôn, ly hôn; (Điều 36),
- Công dân có quyền xác định dân tộc của mình
Bộ luật Dân sự: Quyền về nhân thân là những quyền dân sự gắn
liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, hay nóingắn gọn hơn là quyền con người về dân sự
Trang 9Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật dân sự là việc cụ thểhóa quyền con người đã được Hiến pháp quy định, các quyền nhân thânliên quan đến lĩnh vực hộ tịch bao gồm:
- Quyền được khai sinh (Điều 29);
- Quyền có quốc tịch (Điều 45);
- Quyền kết hôn (Điều 39);
- Quyền được khai tử (Điều 30);
- Quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con (Điều 43);
- Quyền thay đổi họ, tên (Điều 27);
- Quyền xác định dân tộc (Điều 28);
- Quyền xác định lại giới tính ( Điều 36);
- Quyền ly hôn (Điều 42);
- Quyền đối với quốc tịch (Điều 44);
- Quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi(Điều 45)
Cụ thể hóa các quy định của Bộ luật Dân sự, các quyền nhân thânnày đã được quy định khá đầy đủ trong các luật nội dung (như Luật Hônnhân và gia đình, Luật quốc tịch, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em, )
Luật Hôn nhân và gia đình: cụ thể hóa các quy định của Bộ Luật
dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định cụ thể vềquyền kết hôn, ly hôn, xác định cha, mẹ, con
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em: quy định cụ thể về
quyền khai sinh và có quốc tịch của trẻ em; quy định trẻ em chưa xác
Trang 10định được cha, mẹ, nếu có yêu cầu thì được cơ quan có thẩm quyền giúp
đỡ để xác định cha, mẹ theo quy định của pháp luật
Luật quốc tịch: Quyền có quốc tịch trong Bộ Luật dân dự đã được
cụ thể hóa tại các điều 2, 13, 19, 20, 22,23,24,27,28… Luật Quốc tịchViệt Nam năm 2008
2 Các văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền con người liên quan đến lĩnh vực hộ tịch.
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của mộtngười từ khi sinh ra đến khi chết Các văn bản pháp luật quy định trình tự,thủ tục đăng ký hộ tịch chính là văn bản quy phạm pháp luật quy địnhviệc bảo đảm thực hiện các quyền: khai sinh, kết hôn, thay đổi họ, tên,xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, … của cá nhân đã được quyđịnh trong các luật nội dung (Bộ luật Dân sự, Luật hôn nhân và gia đình,Luật Bảo vệ, cham sóc và giáo dục trẻ em, )
Đăng ký và quản lý hộ tịch là hoạt động có ý nghĩa quan trọng đốivới cả người dân và Nhà nước Thông qua hoạt động đăng ký hộ tịch, các
sự kiện hộ tịch cơ bản2 của mỗi người từ khi sinh ra đến khi chết, đượcxác nhận về mặt pháp lý Việc đăng ký hộ tịch tạo cơ sở pháp lý đểngười dân hưởng các quyền con người, quyền công dân, đồng thời là cơ
sở để Nhà nước bảo hộ tốt hơn các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.Thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch tốt, chính xác, đầy đủ và kịp thời
sẽ giúp Nhà nước quản lý dân cư một cách hiệu quả, từ đó có biện phápxây dựng, hoạch định và phát triển chính sách kinh tế - xã hội, quốcphòng - an ninh của đất nước một cách chính xác, phù hợp nhất đồng
2 Cuộc đời của mỗi người đều có các sự kiện hộ tịch được ghi nhận, như: khai sinh (đánh dấu sự ra đời), kết hôn, ly hôn (đánh dấu về tình trạng hôn nhân), khai tử (chấm dứt sự tồn tại) Ngoài ra, tùy hoàn cảnh, cá nhân còn có thể có các sự kiện: nuôi con nuôi, giám hộ (thay đổi, chấm dứt việc giám hộ), thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính…
Trang 11thời cũng bảo đảm để người dân được thực hiện một cách đầy đủ nhấtquyền của mình.
Tuy nhiên, mức độ bảo đảm quyền nhân thân của con người đếnđâu, lại phụ thuộc rất lớn vào các quy định pháp luật về thủ tục Nếu quyđịnh về thẩm quyền, thủ tục theo hướng đơn giản, thuận lợi, dễ dàng chongười dân, cải cách hành chính mạnh mẽ, giảm bớt giấy tờ, chi phí…, thì
cơ hội để người dân hưởng quyền càng lớn và mức độ bảo đảm quyềncàng cao Ngược lại, nếu thẩm quyền khó khăn, xa dân, thủ tục cứngnhắc, phức tạp, phiền hà, thì cơ hội hưởng quyền của người dân càng ít
và mức độ bảo đảm quyền càng thấp
Qua rà soát nhận thấy, cho đến thời điểm hiện tại, ngoài nhữngquy định về nội dung liên quan đến quyền con người trong lĩnh vực hộtịch được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 (quy định về quyềnnhân thân), Luật Bảo vệ Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 (quyđịnh về quyền được đăng ký khai sinh và có quốc tịch), Luật Hôn nhân
và gia đình năm 2000 (quy định về kết hôn; nhận cha, mẹ, con), LuậtNuôi con nuôi năm 2010 (quy định về nuôi con nuôi trong nước và nuôicon nuôi có yếu tố nước ngoài), còn có tới 05 Nghị định và 07 Thông tưquy định về thẩm quyền, thủ tục, biểu mẫu đăng ký hộ tịch nhằm bảođảm thực thi quyền con trong lĩnh vực hộ tịch Cụ thể:
+ Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 củaChính phủ quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số35/2000/QH10 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và giađình;
+ Nghị định số 32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủquy định việc áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộcthiểu số;
Trang 12+ Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ
về đăng ký và quản lý hộ tịch;
+ Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2012 củaChính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về hộ tịch,hôn nhân gia đình và chứng thực;
+ Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2013 củaChính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân vàgia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài;
+ Thông tư 07/2001/TT-BTP ngày 10/12/2001 của Bộ Tư pháphướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 77/2001/NĐ-CPngày 22 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết về đăng kýkết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội (Nghị định số77/2001/NĐ-CP hiện đã hết hiệu lực một phần, theo đó Thông tư nàycũng đã hết hiệu lực một phần);
+ Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02/6/2008 của Bộ Tư pháphướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-
CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch;
+ Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP ngày 25/3/2010 của Bộ Tư phápban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng số, biểu mẫu hộtịch;
+ Thông tư số 05/2012/TT-BTP ngày 23/5/2012 của Bộ Tư phápsửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP ngày
25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫnviệc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch
+ Thông tư số 16.a/2010/TT-BTP ngày 08/10/2010 về việc sửa đổibiểu mẫu hộ tịch ban hành kèm theo Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP;
Trang 13+ Thông tư số 09b/2013/TT-BTP ngày 20/5/2013 của Bộ Tư phápsửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP ngày
25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫnviệc ghi chép, lưu trữ, sử dụng sổ, biểu mẫu hộ tịch và Thông tư số05/2012/TT-BTP ngày 23 tháng 5 năm 2012 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổsung một số điều của Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP;
+ Thông tư số 22/2013/TT-BTP ngày 31/12/2013 của Bộ Tư phápquy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ quy định chitiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hônnhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
II NHỮNG BẤT CẬP TRONG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH HIỆN HÀNH BẢO ĐẢM THỰC THI QUYỀN CON NGƯỜI
1 Về văn bản quy phạm pháp luật quy định việc bảo đảm thực hiện quyền con người của cá nhân.
Như đã trình bày ở trên, mặc dù công tác hộ tịch có vị trí, vai tròquan trọng đối với quản lý nhà nước và bảo đảm thực thi quyền conngười, nhưng các quy định để người dân thực hiện quyền đăng ký hộtịch lại nằm rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau và đều làvăn bản dưới Luật (05 Nghị định, 07 Thông tư), nên đã gây khó khăncho người dân khi có yêu cầu thực hiện quyền của mình, khi có yêu cầuđăng ký hộ tịch, người dân khó xác định được quyền cá nhân của mình
sẽ được thực hiện theo quy định tại văn bản quy phạm pháp luật nào,đồng thời cũng gây khó khăn cho công chức làm công tác đăng ký hộtịch khi giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân, đặc biệt làcông chức tư pháp - hộ tịch cấp xã Ví dụ: để giải quyết thủ tục đăng ký
Trang 14kết hôn, đảm bảo quyền kết hôn của cá nhân, công chức Tư pháp - hộtịch tại một xã miền núi, biên giới phải nắm vững ba loại thủ tục đăng kýkết hôn áp dụng với 03 nhóm đối tượng khác nhau và được quy địnhtrong 03 Nghị định khác nhau (thủ tục đăng ký kết hôn thông thườnggiữa công dân Việt Nam với nhau được quy định tại Nghị định số158/2005/NĐ-CP; thủ tục đăng ký kết hôn đối với công dân thuộc cácdân tộc thiểu số theo quy định tại Nghị định số 32/2002/NĐ-CP; và thủtục đăng ký hôn nhân thực tế được thực hiện theo quy định tại Nghị định
số 77/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy địnhchi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốchội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình)
2 Về phương thức để người dân thực hiện quyền con người trong lĩnh vực hộ tịch
Theo quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP thì “Khi đăng ký hộtịch, cán bộ Tư pháp hộ tịch, cán bộ Tư pháp của Phòng Tư pháp hoặccán bộ hộ tịch của Sở Tư pháp phải tự mình ghi vào sổ hộ tịch và biểumẫu hộ tịch; nội dung ghi phải chính xác; chữ viết phải rõ ràng, đủ nét,không viết tắt, không tẩy xóa”; “Mỗi loại việc hộ tịch phải được đăng kývào 2 quyển sổ (đăng ký kép), 1 quyển lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã,nơi đăng ký hộ tịch; 1 quyển chuyển lưu tại Ủy ban nhân dân cấphuyện” Như vậy, có thể nhận thấy, mỗi việc hộ tịch (như sinh, kết hôn,
tử, nuôi con nuôi, giám hộ…) được đăng ký vào một sổ riêng Do đóhiện nay có nhiều loại sổ đăng ký hộ tịch, gồm Sổ đăng ký khai sinh, Sổđăng ký kết hôn, Sổ đăng ký tử, Sổ đăng ký nuôi con nuôi v.v… Muốntra cứu thông tin hộ tịch của cá nhân thì phải mở đúng loại sổ đó Dữliệu khai sinh được phản ánh trong Sổ đăng ký khai sinh, dữ liệu kết hônđược phản ánh trong Sổ đăng ký kết hôn… Thực trạng phổ biến lâu nay
là việc đăng ký bằng tay (ghi chép trực tiếp vào sổ giấy) do công chức tư
Trang 15pháp – hộ tịch thực hiện; công tác lưu trữ cũng hết sức thủ công (chủ yếu
là lưu trữ dữ liệu hộ tịch trong sổ giấy tại trụ sở cơ quan đăng ký hộtịch)
Cách thức đăng ký, quản lý hộ tịch “truyền thống” như trên, trongđiều kiện hiện nay đã tỏ ra khá lạc hậu Với sự phát triển của nền kinh tếthị trường, người dân di cư tới nhiều địa phương và cư trú ở nhiều nơikhác nhau, theo pháp luật thì sự kiện hộ tịch cũng có thể được đăng ký tạinơi người đó cư trú Vì vậy, hiện tượng sự kiện hộ tịch của một ngườiđược đăng ký ở nhiều nơi (khai sinh một nơi, kết hôn ở nơi khác, thậm chí
ly hôn lại ở nơi khác nữa…) cũng là điều phổ biến Thực tế này dẫn đếnhậu quả là các sự kiện hộ tịch của người đó trở nên rời rạc, phân tác, đứtquãng, không xâu chuỗi được với nhau Thực trạng quản lý hộ tịch, vì thế,cũng trở nên cắt khúc, thông tin cát cứ, không hệ thống được với nhau vàđặc biệt rất khó khăn trong việc chia xẻ thông tin với các ngành khác Khi
có nhu cầu liên quan đến việc nắm bắt tình trạng nhân thân của công dânthì hết sức khó khăn không chỉ đối với cơ quan nhà nước mà với cả ngườidân
Ngoài ra, việc lưu giữ mỗi sự kiện hộ tịch trong một cuốn sổ riêng đãdẫn đến dữ liệu hộ tịch của cá nhân có thể không thống nhất, cơ quan Nhànước không kiểm soát được thông tin về hộ tịch của từng cá nhân, khảnăng tra cứu, khai thác phục vụ cho yêu cầu của người dân và của các cơquan, tổ chức là rất hạn chế
3 Về các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện các quyền của cá nhân trong lĩnh vực hộ tịch.
3.1 Quy định pháp luật về quyền khai sinh
(i) Quy định pháp luật về quyền khai sinh và ý nghĩa của việc thực hiện quyền khai sinh
Trang 16Quyền được khai sinh là một trong những quyền nhân thân quantrọng của mỗi cá nhân được ghi nhận tại Công ước quốc tế về quyền trẻ
em mà Việt Nam là thành viên, và được nội luật hóa trong các văn bảnpháp luật Điều 11 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004quy định “Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch”; Điều 29 Bộluật Dân sự năm 2005 quy định “Cá nhân khi sinh ra có quyền được khaisinh”
Khai sinh là quyền cơ bản của công dân, Đăng ký khai sinh là sựghi nhận về mặt pháp lý tình trạng nhân thân của một người được sinh
ra, làm phát sinh các quyền nhân thân của con người, đồng thời cũng là
cơ sở để Nhà nước quản lý thông tin, dữ liệu của công dân Giấy khaisinh là cơ sở pháp lý xác định các mối quan hệ của người được đăng kýkhai sinh (quan hệ giữa cá nhân với một quốc gia – thông qua thông tin
về quốc tịch; quan hệ gia đình – thông qua thông tin về cha, mẹ) Trên
cơ sở đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa công dân với Nhà nước,quyền và nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con cái Giấy khai sinh cũng là vănbản pháp lý quan trọng để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác thôngqua các thông tin cơ bản như: họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, dântộc, nơi sinh, thông tin về cha mẹ…
(ii) quy định của pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền khai sinh
Để tạo bảo đảm cho người dân thực hiện quyền khai sinh, Nghịđịnh số 158/2005/NĐ-CP quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tụcđăng ký khai sinh Cụ thể:
- Thẩm quyền đăng ký khai sinh (Điều 13, Điều 49)
- Thời hạn đi khai sinh và trách nhiệm khai sinh (Điều 14)
- Thủ tục đăng ký khai sinh (Điều 15, Điều 50)
Trang 17- Khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi (Điều 16)
- Quy định về việc đăng ký khai sinh trong một số trường hợp đặcbiệt (Điều 96)
(iii) những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về đăng ký khai sinh.
Số liệu đăng ký khai sinh trong thời gian qua cho thấy, chưa đảmbảo 100% trẻ em sinh ra được đăng ký khai sinh đúng hạn, vẫn cònnhiều trường hợp đăng ký khai sinh quá hạn (năm 2013, số trường hợpđăng ký khai sinh quá hạn là 364.611 trường hợp, chiếm tỉ lệ 18%) Ởmột số địa phương, đặc biệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa,
do khó khăn về điều kiện kinh tế, đi lại, trình độ dân trí thấp…nên số trẻđăng ký khai sinh quá hạn, thậm chí không được đăng ký khai sinh vẫncòn tồn tại … Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân trong đó cónguyên nhân do quy định của pháp luật chưa tạo cơ chế linh hoạt, chủđộng để thực hiện hiệu quả công tác đăng ký khai sinh, thủ tục đăng kýkhai sinh còn khá phức tạp, người đi đăng ký khai sinh phải xuất trìnhnhiều loại giấy tờ như: Giấy chứng minh nhân dân để chứng minh nhânthân, giấy tờ chứng minh nơi cư trú để chứng minh thẩm quyền; giấychứng nhận kết hôn để chứng minh quan hệ hôn nhân của cha, mẹ trẻ em.Mặc dù Nghị định quy định người đi đăng ký khai sinh không bắt buộcphải xuất trình các loại giấy tờ này nếu công chức Tư pháp – hộ tịch biết
rõ về nhân thân hoặc nơi cư trú của người đi đăng ký khai sinh, tuy nhiên,trên thực tế, tại các địa phương, khi giải quyết đăng ký khai sinh cho trẻ
em, công chức Tư pháp – hộ tịch vẫn yêu cầu xuất trình những giấy tờnêu trên, thậm chí có nơi còn yêu cầu nộp bản sao các giấy tờ này để lưu
hồ sơ Do chưa có cơ sở dữ liệu về dân cư, nên việc chứng minh nhânthân, nơi cư trú đa phần vẫn thuộc về trách nhiệm của người dân, điều này
Trang 18làm nảy sinh tâm lý e ngại của người dân khi đi đăng ký khai sinh cho trẻ
em, dẫn đến việc trẻ em sinh ra ít được đăng ký khai sinh đúng hạn theoquy định của pháp luật
- Theo quy định hiện hành thì thẩm quyền đăng ký khai sinh thuộcUBND cấp xã nơi cư trú của người mẹ, trong trường hợp không xác địnhđược nơi cư trú của người mẹ thì UBND cấp xã nơi cư trú của người chathực hiện việc đăng ký khai sinh; trong trường hợp không xác định đượcnơi cư trú của người mẹ và người cha, thì UBND cấp xã, nơi trẻ em đangsinh sống trên thực tế thực hiện việc đăng ký khai sinh Quy định nàychưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi đăng ký khai sinhcho trẻ em, đặc biệt trong bối cảnh việc dịch chuyển dân cư trong nướcngày càng gia tăng
- Vấn đề đăng ký khai sinh cho trẻ em là con lai của công dân ViệtNam với công dân nước ngoài cũng phát sinh nhiều vướng mắc, cụ thể:
+ Trường hợp phụ nữ Việt Nam đăng ký kết hôn với công dânnước ngoài, nhưng sau đó không chung sống với người chồng nướcngoài mà chung sống với nam công dân Việt Nam và sinh con Người
mẹ cùng con trở về Việt Nam cư trú và muốn đăng ký khai sinh cho convới phần khai về cha là công dân Việt Nam Tuy nhiên, việc giải quyếtđăng ký khai sinh cho trẻ em trong những trường hợp này gặp nhiều khókhăn, bởi theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, con sinh ra trongthời kỳ hôn nhân với người chồng nước ngoài, thì phần khai về cha trongGiấy khai sinh phải ghi tên người chồng nước ngoài Người đàn ông ViệtNam muốn đứng tên cha trong Giấy khai sinh cần phải có chứng cứ vàđược Tòa án xác định là cha hoặc người đàn ông Việt Nam có thể làmthủ tục nhận con tại cơ quan đăng ký hộ tịch, nhưng trước đó người đànông nước ngoài phải yêu cầu Tòa án xác định đưa trẻ không phải là con
Trang 19mình Tuy nhiên, người dân thường gặp khó khăn khi thực hiện thủ tụctheo cả hai phương án trên, vì không nhận được sự hợp tác từ phía ngườichồng nước ngoài.
+ Trường hợp trẻ em sinh ra ở nước ngoài, có cha hoặc mẹ làngười nước ngoài, còn người kia là công dân Việt Nam, không có giấy tờchứng minh quốc tịch nay trẻ được đưa về Việt Nam và gia đình cónguyện vọng đăng ký khai sinh cho trẻ với quốc tịch Việt Nam Đối vớinhững trường hợp này, cơ quan đăng ký hộ tịch gặp khó khăn trong việcxác định trẻ đã có quốc tịch nước ngoài hay chưa
+ Trường hợp trẻ em là con lai giữa công dân Việt Nam vớingười nước ngoài, đã được đăng ký khai sinh tại nước ngoài và mangquốc tịch nước ngoài, được người mẹ đưa về Việt Nam sinh sống, cóyêu cầu đăng ký khai sinh mang quốc tịch Việt Nam Đối với nhữngtrường hợp này việc giải quyết nhập quốc tịch cho các cháu còn nhiềuvướng mắc về mặt thủ tục do người mẹ không liên lạc được với ngườicha để lấy ý kiến về việc thay đổi quốc tịch cho con, dẫn đến trẻ chưa
đủ thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam, khó khăn cho việc hoà nhập, họctập, khám chữa bệnh, ảnh hưởng tới quyền lợi của trẻ em
- Quy định pháp luật về việc xác định họ cho con khi đăng ký khaisinh vẫn còn chưa dự liệu hết các trường hợp phát sinh trong thực tiễn.Theo quy định hiện hành thì họ của con được xác định theo họ cha hoặc
họ mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha, mẹ, tuy nhiên, thựctiễn phát sinh trường hợp không có sự thống nhất của cha mẹ trong việcxác định họ cho con, làm ảnh hưởng đến quyền khai sinh của trẻ em.Bên cạnh đó việc chưa quy định cơ quan có thẩm quyền xác định tậpquán đặt tên của các dân tộc cũng ảnh hưởng đến công tác đăng ký khaisinh cho trẻ em thời gian qua
Trang 203.2 Quy định pháp luật về quyền kết hôn
(i) Quy định pháp luật về quyền kết hôn và ý nghĩa của việc thực hiện đăng ký kết hôn
Quyền kết hôn là một trong những quyền nhân thân của mỗi cánhân được Hiến pháp ghi nhận Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2005 cũngquy định:
“Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn.
Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”
Nhằm đảm bảo thực hiện quyền kết hôn của công dân theo quyđịnh của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân gia đình đã có những quy định
cụ thể về đăng ký kết hôn (Điều 11), điều kiện kết hôn (Điều 9) vànhững trường hợp cấm kết hôn Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2000 thì “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” Tại khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo nghi thức quy định tại Điều 14 của Luật này.
Mọi nghi thức kết hôn không theo quy định tại Điều 14 của Luật này đều không có giá trị pháp lý”.
Việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật về điều kiện,thẩm quyền, thủ tục nhằm hướng tới việc bảo đảm những nguyên tắc cơ
Trang 21bản của chế độ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là nguyên tắc hôn nhân tựnguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
Giấy chứng nhận kết hôn là căn cứ pháp lý thể hiện sự công nhậncủa Nhà nước về quan hệ vợ chồng Đây cũng là cơ sở để cơ quan cóthẩm quyền bảo vệ quyền lợi của các bên trong quan hệ hộn nhân; giảiquyết tranh chấp
(ii) quy định của pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền kết hôn
Để tạo bảo đảm cho người dân thực hiện quyền kết hôn, pháp luật
về đăng ký hộ tịch quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục đăng kýkết hôn Cụ thể:
- Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định về đăng ký kết hôn giữacông dân Việt Nam cư trú ở trong nước với nhau:
+ Thẩm quyền đăng ký kết hôn (Điều 17)
+ Thủ tục đăng ký kết hôn (Điều 18)
- Nghị định số 24/2013/NĐ-CP quy định về việc đăng ký kết hôn
có yếu tố nước ngoài:
+ Thẩm quyền đăng ký kết hôn (Điều 6)
+ Hồ sơ đăng ký kết hôn (Điều 7)
+ Thủ tục nộp, tiếp nhận hồ sơ (Điều 8)
+ Thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn (Điều 9)
+ Trình tự giải quyết việc đăng ký kết hôn (Điều 10, Điều 13)+ Lễ đăng ký kết hôn (Điều 11)
+ Từ chối đăng ký kết hôn (Điều 12)
Trang 22- Nghị định số 77/2001/NĐ-CP quy định về việc đăng ký hôn nhânthực tế:
+ Công nhận ngày hôn nhân có hiệu lực (Điều 3)
+ Thẩm quyền và thủ tục đăng ký kết hôn (Điều 5)
+ Giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với quan hệ vợ chồng xáclập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987 (Điều 6)
+ Giải quyết việc đăng ký kết hôn đối với trường hợp nam và nữchung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đếnngày 01 tháng 01 năm 2001 (Điều 7)
+ Địa điểm đăng ký kết hôn (Điều 8)
- Nghị định số 32/2002/NĐ-CP quy định về Tuổi kết hôn, Bảođảm quyền tự do kết hôn của nam, nữ, Bảo đảm quyền tự do kết hôn củangười phụ nữ goá chồng, người đàn ông goá vợ, việc kết hôn giữa nhữngngười cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người trong dòng họ vớinhau và Đăng ký kết hôn, áp dụng phong tục, tập quán về nghi thức cướihỏi giữa đồng bào dân tộc thiểu số
(iii) những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về đăng ký kết hôn.
- Khoản 2 Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy địnhcấm kết hôn đối với người mất năng lực hành vi dân sự Tuy nhiên, theoquy định của Điều 22 Bộ luật dân sự 2005, thì một người bị coi là mấtnăng lực hành vi dân sự phải do Tòa án tuyên bố Thực tiễn giải quyết
vụ việc hôn nhân và gia đình liên quan vấn đề này đã phát sinh vướngmắc, nhiều trường hợp công chức Tư pháp – hộ tịch vẫn phải tiếp nhận
hồ sơ đăng ký kết hôn của người có biểu hiện không thể nhận thức, làm
Trang 23chủ được hành vi của mình vì những người này chưa bị Tòa án tuyên bốmất năng lực hành vi dân sự.
- Nghị định số 158/2005/NĐ-CP không quy định Giấy khám sứckhỏe trong hồ sơ đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam ở trong nướcvới nhau Tuy nhiên, hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài theoquy định tại Nghị định số 24/2013/NĐ-CP, mỗi bên phải có giấy khámsức khỏe tâm thần Như vậy, để bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ trong
hệ thống pháp luật, cần nghiên cứu bổ sung giấy khám sức khỏe tâmthần trong hồ sơ đăng ký kết hôn của công dân Việt Nam trong nước vớinhau Quy định này cũng nhằm hạn chế tình trạng người rơi vào tìnhtrạng mất năng lực hành vi dân sự vẫn được đăng ký kết hôn (do chưa bịToà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự), dẫn đến những hệ lụyxấu cho xã hội
- Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định thời hạn giải quyết việcđăng ký kết hôn là 03 ngày, trong trường hợp cần xác minh thì thời hạnđược kéo dài thêm không quá 5 ngày Tuy nhiên, trong quá trình triểnkhai, nhiều hồ sơ sau gần 1 tháng mới được giải quyết, ảnh hưởng đếnquyền lợi của người dân
- Thông tư số 01/2008/TT-BTP quy định trong trường hợp mộtngười đã qua nhiều nơi cư trú khác nhau (kể cả thời gian cư trú ở nướcngoài), mà Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi xác nhận tình trạng hôn nhânkhông rõ về tình trạng hôn nhân của họ ở những nơi đó, thì yêu cầuđương sự viết bản cam đoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thờigian trước khi về cư trú tại địa phương Quy định này nhằm tạo điều kiệncho người dân trong việc thực hiện quyền đăng ký kết hôn của mình.Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện còn nhiều bất cập khi ngườidân chưa có ý thức pháp luật cao dẫn đến việc cam đoan không đúng với
Trang 24thực tế Để tháo gỡ vấn đề này, pháp luật về hộ tịch cần bổ sung chế tài
áp dụng đối với hành vi vi phạm cụ thể của người dân khi thực hiện yêucầu đăng ký hộ tịch
- Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “…Nam,
nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thìkhông được pháp luật công nhận là vợ chồng…” Tuy nhiên, theo hướngdẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hộiđồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quyđịnh của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì những trường hợp sauđây cũng được coi là người đang có vợ hoặc có chồng Trường hợp thứnhất: Người chung sống với người khác như vợ chồng từ trước ngày
03/01/1987 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà không
đăng ký kết hôn; Trường hợp thứ hai: Người chung sống với người khác
như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến trước ngày 01/01/2001 và đang chung sống với nhau như vợ chồng mà có đủ điều kiện kết hôn nhưng
không đăng ký kết hôn (trường hợp này chỉ áp dụng từ ngày Nghị quyếtnày có hiệu lực cho đến trước ngày 01/01/2003) Như vậy, đối vớitrường hợp thứ nhất mặc dù hai bên nam nữ không đăng ký kết hônnhưng thoả mãn hai điều kiện là đã chung sống với nhau như vợ chồng
từ trước ngày 03/01/1987 và hiện đang chung sống với nhau như vợchồng thì khi xác nhận tình trạng hôn nhân cho họ, họ được coi là ngườiđang có vợ, hoặc có chồng Đối với các trường hợp nam nữ không đăng
ký kết hôn, đã chung sống với nhau như vợ chồng từ trước ngày03/01/1987 nhưng hiện các bên không còn chung sống với nhau như vợchồng, thì khi xác nhận tình trạng hôn nhân cho họ, họ vẫn được coi làngười không có vợ hoặc không có chồng Đối với trường hợp thứ hai, họchỉ được xác nhận là người đang có vợ hoặc có chồng trong thời điểm từngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2003 Sau ngày 01/01/2003 họ chỉ
Trang 25được coi là vợ chồng khi họ đăng ký kết hôn theo quy định của phápluật Và tương tự như trường hợp thứ nhất, nếu các trường hợp nàykhông thoả mãn điều kiện là hiện đang chung sống với nhau như vợchồng thì hôn nhân đó không được pháp luật thừa nhận và khi xác nhậntình trạng hôn nhân thì họ vẫn được coi là người không có vợ hoặckhông có chồng Vấn đề cần phải làm rõ là tiêu chí nào để xác địnhđương sự đang chung sống với nhau như vợ chồng?
- Trường hợp đương đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, sau đó cư trúbất hợp pháp ở một nước khác, hiện đã tự nguyện hồi hương về nước (cóGiấy chứng nhận về nước của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ Côngan) và nhập khẩu về cùng gia đình Các trường hợp này không thể cóđiều kiện lấy xác nhận tình trạng hôn nhân trong thời gian cư trú ở nướcngoài Để tạo điều kiện cho các trường hợp này khi làm thủ tục đăng kýkết hôn tại Việt Nam, cần có quy định về việc cho phép đương sự tự camđoan về tình trạng hôn nhân của mình trong thơì gian ở nước ngoài
3.3 Quy định pháp luật về việc giám hộ
(i) Quy định pháp luật về giám hộ và ý nghĩa của việc thực hiện đăng ký giám hộ
Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giámhộ) được nhà nước quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc vàbảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người chưa thành niên, ngườimất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”
Giám hộ là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự ViệtNam, thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước và xã hội ta đối vớingười chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân Chế định giám
hộ được quy định ở phần thứ nhất mục 4, chương III của Bộ luật dân sự(gồm 16 điều - từ Điều 58 dến Điều 73)
Trang 26Gám hộ cũng được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình(Điều 47 luật Hôn nhân và gia đình).
(ii) quy định của pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền về giám hộ;
Với mục tiêu không để một ai cần được giám hộ lại không đượcgiám hộ Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã quy định cụ thể trình tự, thủtục thực hiện các quy định tại Bộ luật Dân sự như:
- Thẩm quyền đăng ký việc giám hộ (Điều 29, Điều 53)
- Thủ tục đăng ký việc giám hộ ( Điều 30)
- Đăng ký chấm dứt, thay đổi việc giám hộ (Điều 31, Điều 54)
(iii) những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về giám hộ
Thực tế giải quyết việc đăng ký giám hộ cho thấy, quy định củapháp luật về thủ tục này còn nhiều điểm chưa phù hợp với quy định của
Bộ luật dân sự năm 2005 Tại Điều 63 Bộ luật dân sự năm 2005 quyđịnh “Trong trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lựchành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tạiĐiều 61 và Điều 62 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân xã, phường, thịtrấn nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộhoặc đề nghị một tổ chức đảm nhiệm việc giám hộ” Tuy nhiên, theo quyđịnh của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thì “Giấy cử giám hộ do người
cử giám hộ lập; nếu có nhiều người cùng cử một người làm giám hộ thìtất cả phải cùng ký vào Giấy cử giám hộ” Việc quy định thiếu đồng bộ,thống nhất giữa hai văn bản này dẫn đến những khó khăn, bất cập trongquá trình triển khai thực hiện
Trang 27Ngoài ra, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định có 02 loại giám hộ làgiám hộ đương nhiên và giám hộ cử (trong trường hợp người chưa thànhniên và người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộđương nhiên), tuy nhiên, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP chỉ quy địnhthủ tục đăng ký giám hộ cử mà chưa quy định thủ tục đăng ký giám hộđương nhiên Thực tế thời gian gần đây đã phát sinh yêu cầu đăng kýgiám hộ đương nhiên để chứng minh tư cách giám hộ, nhưng cơ quanđăng ký hộ tịch chưa có cơ sở để giải quyết.
Mặt khác, theo quy định tại Điều 59 Bộ luật dân sự năm 2005 thìngười thân thích của người được giám hộ hoặc UBND cấp xã có tráchnhiệm cử người giám sát việc giám hộ; tuy nhiên, Nghị định số158/2005/NĐ-CP chưa quy định thủ tục đăng ký giám sát giám hộ, dẫnđến tình trạng cơ quan đăng ký hộ tịch còn lúng túng khi công dân yêucầu đăng ký giám sát việc giám hộ
Với những bất cập nêu trên, các yêu cầu của người dân liên quanđến việc đăng ký giám hộ đương nhiên, đăng ký việc giám sát việc giám
hộ chưa được giải quyết kịp thời, nhiều trường hợp bị kéo dài, làm ảnhhưởng tới quyền lợi của người dân, đặc biệt là trẻ em
3.4 Quy định pháp luật về việc nhận cha, mẹ, con
(i) quy định pháp luật về việc nhận cha, mẹ, con và ý nghĩa của việc thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con
Mỗi con người sinh ra đều có cha và có mẹ; quyền có cha, mẹ làmột quyền không thể chối bỏ của mỗi người, phù hợp với quy luật tựnhiên, đạo đức, xã hội Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp xuấtphát từ một lý do nào đó mà cha, mẹ, con không có điều kiện nhận nhauhoặc không muốn nhận nhau, vì vậy, việc xác định cha, mẹ, con đã đượccoi là một trong những nội dung quan trọng của Bộ luật Dân sự và Luật
Trang 28Hôn nhân và gia đình Pháp luật luôn bảo hộ quyền làm cha, mẹ cũngnhư quyền được xác định người nào đó là cha, mẹ của mình cho mỗicông dân, vì vậy bất kỳ người nào cũng quyền xin nhận hoặc khôngnhận cha, mẹ, con Điều này được ghi nhận tại Điều 43 Bộ Luật Dân sự:
"1 Người không được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình
là cha, mẹ hoặc là con của người đó.
2 Người được nhận là cha, mẹ hoặc là con của người khác có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định mình không phải là cha, mẹ hoặc là con của người đó”.
Ngoài ra, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định:
“Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình.
Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó không phải là con mình” (Điều 64)
“1 Con có quyền xin nhận cha, mẹ của mình, kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã chết.
2 Con đã thành niên xin nhận cha, không đòi hỏi phải có sự đồng
ý của mẹ; xin nhận mẹ, không đòi hỏi phải có sự đồng ý của cha”(Điều 65).
(ii)) quy định của pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền nhận cha, mẹ, con
Nhằm bảo đảm thực thi quyền nhận cha, mẹ, con Nghị định số158/2005/NĐ-CP (từ Điều 32 đến Điều 34) và Nghị định số24/2013/NĐ-CP (từ Điều 18 đến Điều 23) đã quy định cụ thể về điềukiện, thẩm quyền, thủ tục, thời hạn đăng ký việc nhận cha, mẹ, con
Trang 29(iii) những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về nhận cha, mẹ, con
Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định điều kiện để đăng ký việcnhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp, tuy nhiên, hiệnnay chưa có văn bản quy phạm pháp luật quy định cụ thể về phạm vitranh chấp Thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con tại Nghị định số158/2005/NĐ-CP hiện hành còn đơn giản, theo đó người yêu cầu khôngbắt buộc phải xuất trình tài liệu chứng minh quan hệ cha, mẹ, con nêntrong nhiều trường hợp yêu cầu giải quyết việc nhận cha, mẹ, con khôngđúng với thực tế và nhằm mục đích trục lợi (hưởng chế độ chính sáchcon thương binh, liệt sĩ, xuất cảnh theo diện đoàn tụ
3.5 Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch
(i) quy định pháp luật và ý nghĩa của việc thực hiện đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch
Cá nhân có quyền có họ, tên Họ, tên của một người được xác địnhtheo họ, tên khai sinh của người đó Tuy nhiên, Bộ Luật Dân sự cũngquy định quyền được thay đổi họ tên, theo đó cá nhân có quyền yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên
trong các trường hợp cụ thể theo quy định của pháp luật (Điều 27).Ngoài ra, Bộ Luật Dân sự cũng quy định quyền được xác định lại dântộc (Điều 28), quyền được xác định lại giới tính trong những trường hợp
cụ thể (Điều 36)”.
(ii) quy định của pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch;
Trang 30Nhằm bảo đảm thực thi quyền đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch,xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộtịch, Nghị định 158/2005/NĐ-CP quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự,thủ tục giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc,xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch tại các Điều 36,Điều 37, Điều 38, Điều 39, và Điều 40 Phạm vi thay đổi, cải chính hộtịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điềuchỉnh hộ tịch bao gồm:
- Thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng
ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thay đổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Cải chính những nội dung đã được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng có sai sót trong khi đăng ký.
- Xác định lại dân tộc của người con theo dân tộc của người cha hoặc dân tộc của người mẹ theo quy định của Bộ luật Dân sự.
- Xác định lại giới tính của một người trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính.
- Bổ sung những nội dung chưa được đăng ký trong Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.
- Điều chỉnh những nội dung trong sổ đăng ký hộ tịch và các giấy
tờ hộ tịch khác, không phải Sổ đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh.
Nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quy định pháp luật thực hiệncải chính hộ tịch để hợp lý hoá hồ sơ giấy tờ Thông tư số 01/2008/TT-
Trang 31BTP quy định rõ: việc cải chính nội dung trong bản chính Giấy khaisinh, đặc biệt là cải chính ngày, tháng, năm sinh, chỉ được giải quyết đốivới những trường hợp có đủ cơ sở để xác định rằng khi đăng ký khaisinh có sự sai sót do ghi chép của cán bộ Tư pháp hộ tịch hoặc do đương
sự khai báo nhầm lẫn Trường hợp yêu cầu cải chính nội dung trong bảnchính Giấy khai sinh do đương sự cố tình sửa chữa sai sự thật đã đăng kýtrước đây để hợp thức hóa hồ sơ, giấy tờ cá nhân hiện tại, thì không giảiquyết
(iii) những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch
Thực tiễn thi hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP về vấn đề này
đã nảy sinh một số tồn tại, vướng mắc:
- Việc quy định tùy từng trường hợp, thẩm quyền đăng ký thayđổi, cải chính hộ tịch, bổ sung hộ tịch, điều chỉnh hộ tịch thuộc UBNDcấp xã hoặc UBND cấp huyện dẫn đến tình trạng khó phân biệt thẩmquyền giải quyết đối với cả người dân và công chức làm nhiệm vụ đăng
ký hộ tịch
- Theo quy định tại khoản 10 Điều 1 Nghị định số 06/2012/NĐ-CPngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của cácNghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực thì “trườnghợp xác định lại dân tộc cho con dưới 15 tuổi phải nộp văn bản thỏathuận của cha mẹ về việc xác định lại dân tộc cho con”, tuy nhiên, thực
tế nảy sinh trường hợp một trong hai người cha hoặc mẹ đã chết, ngườicòn lại yêu cầu xác định lại dân tộc cho con dưới 15 tuổi chưa được phápluật quy định cụ thể dẫn đến vướng mắc trong quá trình triển khai thựchiện
Trang 32- Theo quy định thì sau khi thực hiện việc thay đổi, cải chính hộtịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, điều chỉnh, bổ sung hộtịch thì nếu Uỷ ban nhân dân cấp xã giải quyết thì phải thông báo cho Uỷban nhân dân cấp huyện để cập nhật vào Sổ lưu (sổ kép lưu tại huyện) vàngược lại Tuy nhiên, nhiều trường hợp sau khi thực hiện thủ tục đãkhông thực hiện việc thông báo dẫn đến tình trạng thông tin hộ tịch của
cá nhân không thống nhất
- Theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định số
158/2005/NĐ-CP, thì người thay đổi, cải chính hộ tịch; xác định lại dân tộc; xác địnhlại giới tính phải xuất trình bản chính giấy khai sinh Quy định này trênthực tế khó thực hiện, bởi lẽ đa số các trường hợp đều mất giấy khai sinhbản chính, nếu thực hiện đúng theo quy định của Nghị định158/2005/NĐ-CP người dân sẽ phải làm thủ tục cấp lại bản chính Giấykhai sinh Như vậy, sẽ phát sinh thêm thủ tục hành chính gây phiền hàcho người dân
+ Việc quy định tên gọi “thủ tục xác định lại giới tính” dễ dẫn đếncách hiểu sai thẩm quyền xác định lại giới tính là cơ quan Tư pháp màkhông phải của ngành y tế, trong khi đó bản chất của thủ tục này là việcghi vào giấy tờ hộ tịch việc xác định lại giới tính của cơ quan y tế cóthẩm quyền
3.6 Quy định pháp luật về khai tử
(i) Quy định pháp luật về khai tử và ý nghĩa của việc khai tử
Điều 30 Bộ luật Dân sự đã quy định: “Khi có người chết thì người thân thích, chủ nhà hoặc cơ quan, tổ chức nơi có người chết phải khai tử cho người đó; Trẻ sơ sinh, nếu chết sau khi sinh thì phải được khai sinh
và khai tử; nếu chết trước khi sinh hoặc sinh ra mà chết ngay thì không phải khai sinh và khai tử".
Trang 33Đăng ký khai tử là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền côngnhận việc chấm dứt sự tồn tại của một cá nhân Việc công nhận về mặtpháp lý sự kiện chết và thời điểm chết của một cá nhân có ý nghĩa quantrọng làm cơ sở chấm dứt, thay đổi các quan hệ pháp luật của cá nhân
đó, đồng thời là cơ sở xác định thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế giữangười chết với các cá nhân được hưởng thừa kế
Giấy chứng tử là một loại giấy tờ hộ tịch của cá nhân được cơquan nhà nước có thẩm quyền cấp cho gia đình, thân nhân, người đạidiện sau khi thực hiện đăng ký khai tử, trong đó có các thông tin vềngười chết, thời gian, địa điểm và nguyên nhân chết
Giấy chứng tử là căn cứ pháp lý giải quyết những vấn đề liên quannhư thừa kế, quyền và nghĩa vụ của mỗi cá nhân Số liệu và tình hìnhđăng ký khai tử là cơ sở cho việc thực hiện công tác quản lý dân cư,hoạch định chính sách của cơ quan nhà nước
(ii)quy định của pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền đăng ký khai tử
Để bảo đảm thực thi quyền đăng ký khai tử, Nghị định số158/2005/NĐ-CP (từ Điều 19 đến Điều 24; Điều 51, Điều 52) quy định
cụ thể thẩm quyền, thủ tục đăng ký khai tử theo hướng đơn giản, tạođiều kiện thuận lợi cho người dân
(iii) những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định về khai tử.
Những quy định về đăng ký khai tử tại Nghị định
158/2005/NĐ-CP bảo đảm tối đa quyền được đăng ký khai tử của người dân, tuy nhiên,trong nhiều trường hợp, quy định của Nghị định cũng khó khả thi, buộccông chức Tư pháp – Hộ tịch phải linh hoạt vận dụng quy định của pháp
Trang 34định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thì đối với người chết trênphương tiên giao thông, thì người chỉ huy hoặc điều khiển phương tiệngiao thông phải lập biên bản xác nhận việc chết, có chữ ký của ít nhấthai người cùng đi trên phương tiện giao thông đó Như vậy, trong trườnghợp cả người điều khiển chết, thì việc lập biên bản sẽ không được kịpthời Nếu sau đó, cơ quan có liên quan lập biên bản thì khó liên hệ để lấychữ ký của những người cùng đi trên phương tiện giao thông đó.
- Theo quy định thì trẻ em sinh ra sống được từ 24 giờ trở lên rồimới chết cũng phải được đăng ký khai sinh và khai tử; nếu cha mẹkhông đi đăng ký thì công chức Tư pháp - hộ tịch tự xác định nội dung
để ghi vào sổ đăng ký khai sinh và khai tử Quy định này cần hướng dẫnchi tiết hơn, bởi rất khó khăn cho công chức trong quá trình triển khaithực hiện, bởi họ không thể tự xác định được thông tin về họ tên…củatrẻ để đăng ký khai sinh, khai tử, nếu không có sự phối hợp với cha mẹtrẻ
3.8 Đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn
(i) quy định của pháp luật về hộ tịch bảo đảm thực thi quyền đăng ký khai sinh, tử trong trường hợp chưa được đăng ký trong thời hạn theo quy định; quyền đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn trong trường hợp đã đăng ký nhưng sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch
Trang 35việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người dân Trước yêu cầu quản lýnhà nước về dân cư, để góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nướcđối với các biến động về dân số, bảo đảm quyền lợi của người dân, Nghịđịnh 158/2005/NĐ – CP quy định về trình tự, thủ tục đăng ký khai sinh,khai tử quá hạn nhằm tạo thuận lợi cho người dân thực hiện quyền khaisinh, khai tử.
Hiện nay, việc lưu trữ và bảo quản sổ hộ tịch được thực hiện theophương thức thủ công, ý thức bảo quản giấy tờ hộ tịch của người dânchưa cao nên không tránh khỏi tình trạng mất mát, hư hỏng Để đảm bảongười dân có được giấy tờ hộ tịch chứng minh tình trạng hộ tịch củamình đã được đăng ký, Nghị định số 158/2005/NĐ-CP cũng quy địnhthủ tục đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn
(ii) những vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện các quy định đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn, đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn
- Nghị định số 158/2005/NĐ-CP không quy định việc đăng kýkhai sinh quá hạn cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, do vậy,chưa có cơ sở pháp lý để giải quyết yêu cầu của người dân
- Nghị định số 158/2005/NĐ-CP chưa quy định thủ tục đăng ký khaisinh quá hạn cho người đã thành niên có cha mẹ chết hoặc có cha (hoặc mẹchết) nhưng cha mẹ không đăng ký kết hôn Trường hợp này, cần bổ sungquy định về việc người con phải làm thủ tục nhận cha hoặc mẹ (đã chết).Sau khi có quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, thì tên của người cha,người mẹ (đã chết) mới được ghi vào giấy khai sinh và sổ đăng ký khaisinh của người con
- Quy định về đăng ký quá hạn, đăng ký lại việc sinh, tử nhằm bảo
Trang 36qua, quy định này cũng đã bị lợi dụng, đặc biệt trong trường hợp giấy tờ
hồ sơ cá nhân của người yêu cầu đăng ký quá hạn, đăng ký lại khôngthống nhất Vì vậy, cần quy định chặt chẽ hơn về điều kiện, thủ tục, tình
tự đăng ký quá hạn, đăng ký lại việc sinh, tử
4 Những bất cập từ việc triển khai các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến pháp luật về hộ tịch ảnh hưởng đến việc bảo đảm thực thi quyền con người.
Một số quy định của Bộ luật Dân sự còn chưa bảo đảm sự thốngnhất với quy định của pháp luật về hộ tịch Cụ thể:
+ Bộ luật Dân sự chưa có quy định về năng lực hành vi dân sự của
người chưa thành niên từ 9 tuổi trở lên
Tuy nhiên, khoản 2, Điều 27 Bộ Luật Dân sự quy định việc thay đổi
họ, tên cho người từ đủ chín tuổi trở lên phải có sự đồng ý của người đó;Luật Hôn nhân và gia đình quy định việc thay đổi họ, tên của con nuôi từ
đủ 9 tuổi trở lên phải được sự đồng ý của người đó (khoản 1 Điều 7),việc nhận trẻ em từ đủ 9 tuổi trở lên làm con nuôi phải được sự đồng ýcủa trẻ em đó (khoản 2 Điều 71), khi quyết định các vấn đề liên quan đếnnhân thân, tài sản của con chưa thành niên thì anh, chị là người giám hộcủa em phải tham khảo ý kiến của của em, nếu em từ đủ 9 tuổi trở lên(khoản 2 Điều 83)
+ Khoản 1 Điều 36 Nghị định 158/2005/NĐ phạm vi thay đổi hộtịch là thay đổi họ, tên, chữ đệm đã được đăng ký đúng trong Sổ đăng kýkhai sinh và bản chính Giấy khai sinh, nhưng cá nhân có yêu cầu thayđổi khi có lý do chính đáng theo quy định của Bộ luật Dân sự Theo quyđịnh này thì cá nhân được quyền thay đổi họ, tên khi có lý do chính đángquy định tại Khoản 1 Điều 27 Bộ luật Dân sự Tuy nhiên, Điều 27 Bộluật Dân sự còn chưa cụ thể, dẫn đến khó khăn cho các cơ quan đăng ký
Trang 37hộ tịch trong quá trình áp dụng, bên cạnh đó, một số trường hợp lợi dụng
để hợp thức hoá hồ sơ, giấy tờ của cá nhân
+ Điều 70 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định một trong cáctrường hợp được thay đổi người giám hộ là người giám hộ vi phạmnghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ Tuy nhiên, chưa có quy định cụ thể thếnào là vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ Do đó dẫn đến khó khăntrong việc giải quyết các yêu cầu liên quan đến giám hộ
4 Nhận xét chung
Mặc dù pháp luật về hộ tịch đã quy định khá đầy đủ về thủ tụcđăng ký hộ tịch nhằm bảo đảm thực thi quyền con người Tuy nhiên,thực tế triển khai các quy định này vẫn tồn tại những bất cập xuất phát từnhiều nguyên nhân khác nhau Cụ thể:
Thứ nhất, mặc dù công tác hộ tịch có vị trí, vai trò quan trọng đối
với quản lý nhà nước nhằm tạo điều kiện cho người dân trong việc thựchiện các quyền, nghĩa vụ cơ bản của mình được quy định trong Hiếnpháp, Bộ luật dân sự, các đạo luật có liên quan, nhưng đến nay, lĩnh vựcnày mới chỉ được điều chỉnh bằng các Nghị định, Thông tư, chưa đượcđiều chỉnh ở tầm Luật, nên tính ổn định thấp, hiệu lực thi hành còn hạnchế
Thứ hai, trình tự, thủ tục đăng ký các loại việc hộ tịch đều quy
định phương thức đăng ký hộ tịch theo hướng thủ công, khi đăng ký mộtloại việc hộ tịch đều phải ghi vào một sổ hộ tịch riêng và công dân đượccấp một loại giấy tờ hộ tịch tương ứng Cách thức đăng ký hộ tịch nhưtrên dẫn đến việc quản lý các thông tin cá nhân bị chia cắt do quy địnhhiện hành về thẩm quyền thực hiện các TTHC trong lĩnh vực hộ tịch(hiện nay quy định ở cả ba cấp), việc lưu sổ hộ tịch (mỗi giai đoạn khácnhau việc lưu trữ sổ hộ tịch ở một cơ quan khác nhau, có giai đoạn thuộc
Trang 38về cơ quan công an, có giai đoạn thuộc về Sở Tư pháp, hiện nay đanglưu tại Phòng Tư pháp và Ủy ban nhân dân cấp xã); thông tin lưu trữ của
cá nhân rải rác ở nhiều nơi, không kết nối được với nhau nên khả năngtra cứu, khai thác thông tin phục vụ yêu cầu của người dân là rất hạnchế
Thứ ba, mặc dù Nghị định số 158/2005/NĐ-CP đã có sự phân cấp
đăng ký hộ tịch, nhưng chưa triệt để Hiện nay, cả 03 cấp (tỉnh, huyện,xã) đều có thẩm quyền đăng ký hộ tịch, đã dẫn đến chồng chéo chứcnăng quản lý và đăng ký; cũng do việc phân cấp chưa triệt để nên từngcấp chủ yếu lo việc đăng ký, ít quan tâm đến nhiệm vụ quản lý, đặc biệt
là công tác kiểm tra, chỉ đạo đối với cấp dưới, từ đó không kịp thời uốnnắn những sai sót, đồng thời dẫn đến đùn đẩy nhiệm vụ hướng dẫn, chỉđạo chuyên môn lên cấp trên
Thứ năm, việc yêu cầu người dân xuất trình quá nhiều giấy tờ (ví
dụ: đăng ký khai sinh phải xuất trình 3 loại giấy tờ, nộp ít nhất là 1 loạigiấy tờ) hoặc nộp bản sao giấy tờ khi thực hiện các TTHC gây khó khăn
và tốn kém cho người dân
Thứ sáu, pháp luật hiện hành chưa có quy định mang tính đột phá,
tạo hành lang pháp lý trong việc ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng
ký, quản lý hộ tịch và xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử nhằm tăngcường khả năng tra cứu, khai thác dữ liệu hộ tịch phục vụ yêu cầu củangười dân và của cơ quan, tổ chức
III HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH NHẰM TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN CON NGƯỜI
Với mục tiêu tạo cơ sở pháp lý ổn định, thống nhất, lâu dài cho côngtác đăng ký, quản lý hộ tịch ở Việt Nam theo hướng từng bước chuyên
Trang 39nghiệp, hiện đại, bảo đảm một cách thuận lợi cho người dân thực hiệnquyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch theo quy định của Hiến pháp, Bộ luật Dân
sự, các luật chuyên ngành khác, góp phần bảo đảm thực thi quyền conngười và tăng cường quản lý dân cư trong giai đoạn phát triển mới, việcxây dựng và trình Quốc hội ban hành Luật Hộ tịch là hết sức cần thiết vớinhững quan điểm chỉ đạo sau:
- Thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải cách hànhchính, nhất là cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực đăng ký hộ tịchtheo hướng đơn giản, minh bạch, tạo sự kết nối với các lĩnh vực khácliên quan đến công dân, tiết kiệm chi phí cho người dân và Nhà nước
- Bảo đảm phù hợp với các quy định có liên quan của Hiến phápnăm 2013, sự đồng bộ, thống nhất với các luật liên quan (như Luật Quốctịch, Luật Nuôi con nuôi), cũng như định hướng sửa đổi, bổ sung Bộ LuậtDân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Căn cước công dân
- Tăng cường vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhândân cấp tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp huyện, trên cơ sở phân cấp hợp lýthẩm quyền đăng ký hộ tịch cho cấp huyện và cấp xã; đề cao tráchnhiệm, từng bước tăng cường tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chứclàm công tác hộ tịch ở cấp huyện, cấp xã, tạo sự chuyển biến về chấttrong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
- Luật hóa các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch trong các Nghịđịnh của Chính phủ đã được thực tiễn kiểm nghiệm, bảo đảm tính kếthừa và phát triển, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm củamột số nước có hệ thống đăng ký hộ tịch phát triển, phù hợp với điềukiện của Việt Nam
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo trên, dự thảo Luật Hộ tịch cần xâydựng theo hướng:
Trang 40+ Tiếp tục phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền đăng ký hộ tịch, tách bạch
rõ ràng hơn chức năng quản lý nhà nước về hộ tịch (xây dựng thể chế,hướng dẫn, chỉ đạo , kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm…) và chức năngđăng ký hộ tịch
Quy định thủ tục đăng ký hộ tịch theo hướng đơn giản hóa thủ tục,rút ngắn thời hạn giải quyết Theo đó: (i) Công dân có thể lựa chọnphương thức tối ưu trong yêu cầu đăng ký hộ tịch: đăng ký trực tiếp tại
cơ quan đăng ký hộ tịch; qua con đường bưu chính hoặc gửi hồ sơ thôngqua trực tuyến khi điều kiện cho phép (ii) Đơn giản hóa mẫu tờ khai,loại bỏ những thông tin trùng lặp không cần thiết (iii) Đơn giản hóa giấy
tờ công dân phải xuất trình, nộp khi đăng ký hộ tịch (iv) Sử dụng phầnmềm ứng dụng công nghệ thông tin để phục vụ yêu cầu đăng ký hộ tịch
+ Đổi mới phương thức đăng ký hộ tịch theo hướng hướng hiệnđại, đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, bảo đảm kế thừa cácthủ tục đăng ký hộ tịch tuy mang tính thủ công nhưng phù hợp trong tìnhhình mới (để áp dụng cho giai đoạn chuyển tiếp), mặt khác đón bắt xuthế hiện đại thực hiện giải quyết hộ tịch trực tuyến Quy định công chứclàm công tác hộ tịch thực hiện đăng ký hộ tịch bằng máy tính trên cơ sởphần mềm đăng ký dùng chung thống nhất và cập nhật dữ liệu trực tiếpvào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, đồng thời cập nhật dữ liệu vào cơ sở
dữ liệu hộ tịch bằng giấy (Sổ hộ tịch)
Xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là cơ sở dữ liệu ngành,được lập trên cơ sở tin học hóa công tác hộ tịch, được kết nối để cungcấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ sở dữ liệu quốc gia vềdân cư Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử phải xây dựng theo hướng đồng bộ,liên thông, song hành với cơ sở dữ liệu bằng hồ sơ giấy Cơ sở dữ liệuđiện tử được xây dựng phải dựa trên cơ sở dữ liệu bằng giấy Việc xây