1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG 20 NĂM (1993- 2013) VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 CỦA HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM

121 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Tổng Kết Hoạt Động 20 Năm (1993- 2013) Và Định Hướng Phát Triển Đến Năm 2020 Của Hệ Thống Khuyến Nông Việt Nam
Trường học Bộ Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn
Chuyên ngành Khuyến Nông
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2013
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 121
Dung lượng 1,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thành công của ngành Nông nghiệp trong tiến trình “Đổi mới” vừa qua có sự đóng góp rất tích cực và quan trọng của hệ thống Khuyến nông Việt Nam với vai trò là cầu nối giữa Nhà nước, cơ q

Trang 1

Thành công của ngành Nông nghiệp trong tiến trình “Đổi mới” vừa qua có sự đóng góp rất tích cực và quan trọng của hệ thống Khuyến nông Việt Nam với vai trò

là cầu nối giữa Nhà nước, cơ quan nghiên cứu khoa học với hộ nông dân và thị trường, là hệ thống tư vấn, phổ biến kiến thức, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, cung cấp thông tin, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh cho nông dân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Phần I KHÁI QUÁT QUÁ TRÌNH 20 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM

Là một đất nước nông nghiệp với nền văn minh lúa nước, từ xa xưa ông cha ta

đã rất quan tâm khuyến khích phát triển canh nông như: thời Hùng Vương, Vua Hùng

tổ dạy dân cấy lúa trồng dâu, Lễ hội "Tịch điền" từ thời tiền Lê và được duy trì đến ngày nay, việc thành lập "Khuyến nông Sứ" thời Trần, việc Vua Quang Trung ban hành

Trang 2

"Chiếu Khuyến nông" Sau Cách mạng Tháng 8/1945 và trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất đất nước, Đảng, Chính phủ và Bác Hồ cũng thường xuyên quan tâm chỉ đạo

và ban hành nhiều chính sách khuyến nông nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp, cải thiện đời sống nông dân Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị (Khóa VI) về đổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp, hộ nông dân được giao tư liệu sản xuất và tự chủ sản xuất, thực tiễn sản xuất đã đặt nhu cầu tất yếu khách quan cho sự

ra đời và phát triển của Hệ thống Khuyến nông Việt Nam, đáp ứng nhu cầu của nông dân, của sản xuất nông nghiệp trong nước và hội nhập với nông nghiệp khu vực và thế giới

I Hệ thống tổ chức, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động khuyến nông được quan tâm đầu tư, từng bước phát triển đồng bộ từ trung ương đến cơ sở

1 Về hệ thống tổ chức và nhân lực

Ngày 02/3/1993, Chính phủ ban hành Nghị định số 13/CP ban hành bản quy định về công tác khuyến nông, Hệ thống Khuyến nông chuyên trách chính thức ra đời Trải qua 20 năm hoạt động cùng với tiến trình phát triển của Ngành Nông nghiệp, tổ chức khuyến nông không ngừng phát triển, lớn mạnh từ Trung ương đến cơ sở, thường xuyên gắn bó mật thiết với nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Ở Trung ương, giai đoạn 1993- 2004, Cục Khuyến nông (thuộc Bộ Nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm) và Cục Khuyến nông và Khuyến lâm (thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) thực hiện cả 2 chức năng quản lý nhà nước về sản xuất nông nghiệp và hoạt động sự nghiệp khuyến nông; Vụ Nghề cá thuộc Bộ Thủy sản cũng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước và công tác khuyến ngư

Ngày 26/4/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ-CP về Khuyến nông, Khuyến ngư Ở trung ương, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia được thành lập (tách từ Cục Khuyến nông và Khuyến lâm) trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia thuộc Bộ Thủy sản Đến năm 2008, khi hợp nhất Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Thủy sản, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia được hợp nhất thành Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia, Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về khuyến nông

Ngày 08/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 02/2010/NĐ-CP về Khuyến nông thay Nghị định số 56/2005/NĐ-CP, cơ quan Khuyến nông Trung ương chính thức là Trung tâm Khuyến nông Quốc gia thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Trang 3

Mặc dù trong từng giai đoạn có sự thay đổi về tổ chức và tên gọi khác nhau, nhưng tổ chức khuyến nông ở Trung ương vẫn liên tục phát triển và là đầu mối thống nhất chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ đối với hệ thống khuyến nông cả nước, là đầu mối hợp tác với các tổ chức khuyến nông trong khu vực và quốc tế, là lực lượng nòng cốt triển khai thực hiện các chương trình, dự án, hoạt động khuyến nông ở Trung ương

Ở địa phương, các tổ chức khuyến nông, khuyến ngư cũng từng bước được phát triển và hoàn thiện từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã và thôn, bản Cụ thể như sau:

Hiện nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều có Trung tâm Khuyến nông (hoặc Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư) thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

Cấp huyện hiện 596 huyện, thị xã có sản xuất nông nghiệp (chiếm 95,5% số huyện, thị xã trong toàn quốc) đã có Trạm khuyến nông (hoặc Trạm khuyến nông - khuyến ngư)

Cấp xã hiện có 51 tỉnh, thành phố có mạng lưới khuyến nông viên cơ sở, trong đó: Khuyến nông viên cơ sở (KNVCS) chuyên trách từ 1-2 người/ xã; mỗi thôn, bản

có 01 cộng tác viên khuyến nông (bán chuyên trách); ngoài ra toàn quốc hiện có gần 10.000 Câu lạc bộ khuyến nông (CLBKN) cấp xã với khoảng 300.000 nông dân tham gia

Nhiều tỉnh đã quan tâm xây dựng và phát triển mạng lưới khuyến nông cơ sở khá toàn diện từ bố trí lực lượng, đầu tư nguồn lực và cơ chế chinh sách để phát huy năng lực của đội ngũ này, điển hình như: Lào Cai, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Bắc Ninh, Nam Định, Hà Nội, Hải Phòng, Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Nam, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Tiền Giang, Kiên Giang, Bến Tre,

Cùng với phát triển về tổ chức thì lực lượng cán bộ khuyến nông cũng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Hiện nay, hệ thống khuyến nông chuyên

trách có gần 17.200 người, trong đó: cấp Trung ương có 90 người; cấp tỉnh: khoảng

1.900 người; cấp huyện: xấp xỉ 4.000 người; cấp xã, lực lượng khuyến nông viên cơ sở: xấp xỉ 11.200 người; cộng tác viên khuyến nông cấp thôn, bản: xấp xỉ 18.000 người Phần lớn lực lượng cán bộ khuyến nông các cấp đã được đào tạo về chuyên môn, bồi dưỡng về kỹ năng nghiệp vụ khuyến nông, có kinh nghiệm thực tiễn và rất tâm huyết với nghề nghề, thường xuyên gắn bó với sản xuất, với nông dân

Trang 4

2 Về đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho khuyến nông

Cùng với sự phát triển về tổ chức và đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất của hệ thống khuyến nông các cấp cũng từng bước được đầu tư để đáp ứng yêu cầu nhiệm

vụ Kết quả khảo sát năm 2012 cho thấy:

- Về trụ sở làm việc: 100% Trung tâm khuyến nông tỉnh, thành phố và 68% trạm khuyến nông huyện có trụ sở làm việc kiên cố Số còn lại có trụ sở bán kiên cố

- Về trang thiết bị làm việc phục vụ hoạt động khuyến nông: khoảng 60% cơ quan khuyến nông cấp tỉnh và 40% cơ quan khuyến nông cấp huyện được đầu tư đủ trang thiết bị văn phòng, thiết bị thông tin, đào tạo và phương tiện đi lại phục vụ công tác khuyến nông Số còn lại còn thiếu nhiều trang thiết bị làm việc so với nhu cầu hoạt động khuyến nông

II Phương pháp tiếp cận và nội dung hoạt động khuyến nông thường xuyên đổi mới phù hợp với thực tiễn

1 Phương pháp tiếp cận

Ngay từ những ngày đầu thành lập, hệ thống khuyến nông Việt Nam đã kết hợp chặt chẽ, hài hòa 2 phương pháp tiếp cận khuyến nông cơ bản là:

+ Tiếp cận từ dưới lên: xuất phát từ nhu cầu của thực tế sản xuất và nhu cầu

của nông dân ở từng vùng, miền, từng giai đoạn cụ thể;

+ Tiếp cận theo mục tiêu chiến lược: xây dựng và tổ chức thực hiện các

Chương trình khuyến nông trọng điểm nhằm tập trung nguồn lực, sự chỉ đạo để thực hiện các mục tiêu chiến lược của ngành, địa phương trong từng giai đoạn

Trên phạm vi toàn quốc và từng vùng, miền, trong từng giai đoạn, phương pháp tiếp cận theo mục tiêu chiến lược là chủ đạo, nhưng trong từng địa phương, từng thời điểm cần căn cứ vào từng điều kiện cụ thể của hộ nông dân để lựa chọn đối tượng cây trồng, vật nuôi, sản phẩm đặc trưng, lựa chọn những tiến bộ kỹ thuật thích hợp hướng dẫn nông dân áp dụng nhằm phát huy lợi thế so sánh và nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông

2 Nội dung hoạt động khuyến nông luôn bám sát thực tiễn sản xuất và sự phát triển của khoa học công nghệ

- Trong thập niên 90 của thế kỷ trước là giai đoạn sản xuất nông nghiệp chuyển

từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang phát triển kinh tế nông hộ Đồng thời thành tựu nổi bật của khoa học công nghệ trong nước giai đoạn này là ứng dụng các giống cây trồng, vật nuôi có ưu thế lai tốt, có thời gian sinh trưởng ngắn để chuyển đổi cơ cấu sản xuất, tăng vụ, tăng năng suất, sản lượng Mặt khác hệ thống khuyến nông cũng

Trang 5

nông hộ nhằm mục tiêu hàng đầu là xoá đói giảm nghèo Hoạt động khuyến nông giai đoạn này tập trung vào 19 chương trình khuyến nông trọng điểm quốc gia như: chương trình thông tin tuyên truyền, đào tạo huấn luyện khuyến nông; các chương trình khuyến nông về ứng dụng các giống mới như lúa lai, ngô lai, lạc, đậu tương, mía, các loại rau, quả ngắn ngày, có ưu thế lai cao để tăng năng suất, chuyển đổi mùa

vụ, tăng vụ để tăng sản lượng, tăng hiệu quả sử dụng đất; các chương trình khuyến nông chăn nuôi tập trung vào ứng dụng các giống vật nuôi lai có tỷ lệ máu ngoại cao như bò lai hướng thịt, hướng sữa, lợn lai hướng nạc, các giống gia cầm, thủy cầm lai chuyên thịt, chuyên trứng; các chương trình khuyến lâm tập trung vào phát triển nông lâm kết hợp để phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, trồng rừng nguyên liệu thâm canh, phát triển các loài cây lâm nghiệp bản địa; trong lĩnh vực thủy sản: các chương trình khuyến ngư tập trung phát triển 5 lĩnh vực trọng điểm là: cải tạo giống thuỷ sản; phát triển nuôi tôm sú; nuôi thuỷ sản nước lợ, nước mặn, nuôi biển đảo; nuôi thuỷ sản nước ngọt; khai thác hải sản xa bờ và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản

- Đến nửa thập niên đầu thế kỷ 21, các tiến bộ kỹ thuật về giống chất lượng cao, các công nghệ canh tác hiện đại từng bước được ứng dụng vào sản xuất Hoạt đông khuyến nông giai đoạn này tập trung vào mục tiêu chuyển đổi cơ cấu sản xuất để nâng cao giá trị trên mỗi đơn vị diện tích đất sử dụng Bằng việc đẩy mạnh chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, thay đổi mùa vụ kết hợp với ứng dụng kỹ thuật thâm canh tiến bộ đã thúc đẩy phong trào xây dựng cánh đồng thu nhập 50 triệu đồng/ha, thậm chí hàng trăm triệu đồng/ha/năm phát triển rộng khắp trên toàn quốc

- Từ năm 2007, sau khi Việt Nam gia nhập WTO, bên cạnh việc tiếp tục hỗ trợ ứng dụng kỹ thuật tăng năng suất, sản lượng để xoá đói giảm nghèo, nội dung hoạt động khuyến nông đã chuyển dần sang chú trọng hỗ trợ các đối tượng nông dân sản xuất hàng hoá, áp dụng kỹ thuật thâm canh hợp lý và công nghệ hiện đại để tăng chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, đồng thời chú trọng bồi dưỡng nâng cao kỹ năng quản lý nông trại và kiến thức về thị trường cho nông dân để tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế, tăng thu nhập cho nông dân và đảm bảo phát triển bền vững Các chương trình khuyến nông về áp dụng thực hành nông nghiệp tốt (GAP) trong sản xuất nông, lâm, thủy sản; áp dụng kỹ thuật canh tác lúa theo "3 giảm 3 tăng", "1 phải 5 giảm", “cơ giới hóa đồng bộ", ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, liên kết chuỗi giá trị nông sản từ sản xuất đến tiêu thụ theo mô hình “cánh đồng mẫu”, “trang trại mẫu” … được triển khai rộng rãi và đạt kết quả rất tích cực Trong những năm gần đây, hệ thống khuyến nông cả nước đang tích cực tham gia các chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn như: Chương trình đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, Chương trình xây dựng nông thôn mới,

Trang 6

Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm, Chương trình phòng tránh và thích ứng với biến đổi khí hậu,…

III Một số thành tựu nổi bật của Khuyến nông Việt Nam 20 năm qua

1 Hoạt động thông tin tuyên truyền khuyến nông ngày càng đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung và chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả

Ở Trung ương, trong những năm qua, cơ quan khuyến nông Trung ương đã tổ chức được nhiều hoạt động tuyên truyền khuyến nông có hiệu quả như:

+ Tổ chức được gần 60 hội thi nhằm bình tuyển và tôn vinh những tấm gương nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, cán bộ khuyến nông năng động sáng tạo và các sản phẩm cây trồng, vật nuôi tiến bộ để khuyến khích nông dân phát triển sản xuất

+ Tổ chức thành công gần 50 Hội chợ với gần 7.000 gian hàng nông nghiệp trưng bày, giới thiệu thành tựu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp; thu hút gần 1 triệu lượt người tham quan, mua sắm và trao đổi kinh nghiệm sản xuất

+ Tổ chức trên 120 diễn đàn Khuyến nông @ Nông nghiệp với nhiều chuyên

đề theo các lĩnh vực và nhu cầu thực tế sản xuất Các Diễn đàn thu hút trên 30.000 người tham dự, trung bình khoảng 260 đại biểu/diễn đàn, trong đó trên 70% là người sản xuất

+ Phối hợp với các cơ quan báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Trung ương

và khu vực để thông tin tuyên truyền chuyển giao tiến bộ kỹ thuật với gần 29.000 tin, bài, chuyên mục có chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu sản xuất của nông dân

+ Trang Web Khuyến nông Việt Nam được đánh giá là trang báo điện tử có số người truy cập nhiều, với bình quân khoảng 24.000 lượt người truy cập/ ngày (trong

đó có trên 70% là cán bộ khuyến nông và nông dân ở các địa phương)

+ Phát hành trên 100 số Bản tin Khuyến nông Việt Nam với số lượng hàng triệu bản; in và phát hành gần 7.000 đĩa hình, 60 đầu sách kỹ thuật nông nghiệp, hàng nghìn tờ gấp các loại với số lượng hàng triệu bản phục vụ hoạt động khuyến nông các cấp và sản xuất nông nghiệp ở các địa phương

Ở địa phương, hệ thống khuyến nông các cấp cũng đẩy mạnh công tác thông

tin tuyên truyền với các nội dung và hình thức phong phú, đa dạng, tạo điều kiện cung

cấp thông tin tiến bộ kỹ thuật, cơ chế chính sách, giá cả thị trường kịp thời cho nông dân Một số địa phương có các hoạt động nổi bật, điển hình như Trung tâm Khuyến nông các tỉnh, thành phố: Thanh Hóa, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Bắc Giang, Hà Nội, TP

Hồ Chí Minh,…

Trang 7

Ngoài những hình thức thông tin chính thức nêu trên, một số địa phương có các hình thức tuyên truyền khuyến nông rất sáng tạo và hiệu quả như: Câu lạc bộ khuyến nông, tủ sách khuyến nông, điểm tư vấn, hỏi đáp khuyến nông, quán "cà phê khuyến nông" ở Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang; "Nhịp cầu khuyến nông" trên truyền hình

ở Long An, Vĩnh Long, Cần Thơ,

Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông đã góp phần quan trọng giúp hàng triệu hộ nông dân nắm bắt các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, tiếp cận được các tiến bộ khoa học công nghệ mới, các thông tin về thị trường, giá cả nông, lâm, thủy sản, các kinh nghiệm và các điển hình sản xuất kinh doanh giỏi để tiếp tục nhân rộng ra sản xuất đại trà

Kết quả khảo sát 2.400 hộ nông dân tại 30 tỉnh, thành phố trong cả nước cuối năm 2012 cho thấy: 74% nông dân được hỏi đánh giá các Diễn đàn Khuyến nông có tác dụng tốt đối với sản xuất; 86% nông dân đánh giá các hội thi khuyến nông có tác dụng thiết thực; 80% nông dân đánh giá các hội chợ nông nghiệp có tác dụng thúc đẩy giao lưu thương mại cho các sản phẩm nông nghiệp ở các địa phương; 98% nông dân đánh giá các tài liệu khuyến nông có nội dung phù hợp và thiết thực đối với sản xuất; khoảng 70% nông dân đánh giá các chuyên mục, chuyên trang, tin bài khuyến nông trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương và địa phương có nội dung thiết thực và tác dụng tốt đối với sản xuất

2 Hoạt động đào tạo huấn luyện khuyến nông được tăng cường cả chiều rộng và chiều sâu

Nội dung đào tạo, tập huấn khuyến nông phong phú, phù hợp với nhu cầu của các đối tượng tập huấn Phương pháp đào tạo thường xuyên được đổi mới với các phương pháp tiên tiến như: phương pháp đào tạo có sự tham gia, phương pháp đào tạo cho người lớn tuổi, phương pháp đào tạo lấy người học làm trung tâm,

Hình thức đào tạo, tập huấn khuyến nông cũng không ngừng cải tiến theo hướng đa dạng, linh hoạt phù hợp với đối tượng, nội dung và điều kiện cụ thể Bên cạnh các hình thức đào tạo, tập huấn truyền thống như đào tạo tại lớp học và hiện trường; tham quan trao đổi kinh nghiệm trong và ngoài nước, các hình thức đào tạo, huấn luyện tiến tiến cũng từng bước được áp dụng có kết quả tốt như đào tạo từ xa thông qua truyền hình, internet (e-learning, online training)

Để thống nhất phương pháp và nâng cao tính chuyên nghiệp trong công tác đào tạo huấn luyện khuyến nông trên phạm vi toàn quốc, trong hai thập kỷ qua, cơ quan

khuyến nông Trung ương đã biên soạn 40 bộ tài liệu và 30 bộ công cụ tập huấn mẫu

về khuyến nông và hàng trăm đĩa hình chuyển giao kỹ thuật để cấp cho các cán bộ khuyến nông địa phương và phát trên truyền hình (VTV2, VTC16,…), trên internet để

Trang 8

mọi đối tượng quan tâm có thể truy cập hoặc theo dõi trực tiếp; tổ chức được trên 6.000 lớp tập huấn với hơn 210.000 lượt người tham gia Đồng thời tổ chức hàng chục đoàn tham quan học tập trong nước và quốc tế với gần 900 lượt người tham gia, tạo điều kiện nâng cao năng lực về nghiệp vụ, trình độ chuyên môn theo từng chuyên ngành cho đội ngũ cán bộ khuyến nông các cấp và nông dân

Cùng với khuyến nông Trung ương, hệ thống khuyến nông địa phương cũng đã

tổ chức hàng chục ngàn lớp tập huấn cho hàng triệu lượt nông dân với các chuyên đề phục vụ sản xuất nông nghiệp của địa phương Ngoài ra, hệ thống các trường đại học nông nghiệp, các viện nghiên cứu, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp và các tổ chức phi chính phủ trong nước và nước ngoài cũng tổ chức nhiều khóa đào tạo, tập huấn cho hàng chục ngàn lượt cán bộ khuyến nông và nông dân với các chuyên đề rất thiết thực và hiệu quả

Từ năm 2010 đến nay, hệ thống khuyến nông đã tích cực tham gia chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Tổ chức hàng trăm lớp bồi dưỡng và cấp chứng chỉ “Kỹ năng sư phạm dạy nghề” cho lực lượng cán

bộ khuyến nông các cấp, đến nay cả nước đã có 2.500 cán bộ khuyến nông các cấp được đào tạo và có đủ điều kiện để tham gia giảng dạy các lớp đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Đến nay đã có 32/63 cơ quan khuyến nông tỉnh, thành phố đã được cấp đăng ký dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Hàng năm mỗi tỉnh đào tạo được khoảng 1.000 nông dân từ nguồn kinh phí Trung ương và địa phương

Công tác đào tạo huấn luyện khuyến nông đã đóng vai trò chủ lực để nâng cao năng lực cho cán bộ khuyến nông các cấp, trang bị kiến thức khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất và kỹ năng quản lý nông trại của người nông dân Kết qủa khảo sát cuối năm 2012 cho thấy: 86% nông dân đánh giá các chương trình đào tạo, tập huấn khuyến nông có nội dung phù hợp và có hiệu quả, tác dụng tốt đối với sản xuất của bà con nông dân và trên 90% nông dân đã áp dụng thành công các kiến thức đã học vào sản xuất

3 Các chương trình, dự án xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn khuyến nông được triển khai khá toàn diện, có tác động tích cực đối với sản xuất và đời sống của nông dân

a/ Lĩnh vực trồng trọt:

Các chương trình, dự án khuyến nông rất đa dạng và gắn với chủ trương ưu tiên phát triển các sản phẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh ở từng giai đoạn, từng vùng, miền cụ thể Nhiều chương trình, dự án khuyến nông trồng trọt đã phát huy hiệu quả to lớn đối với sản xuất, điển hình như:

Trang 9

- Chương trình khuyến nông lúa lai, ngô lai: trước thập kỷ 90 của Thế kỷ

trước, diện tích lúa lai của Việt Nam chưa đáng kể, thông qua chương trình khuyến nông phát triển lúa lai, đến nay diện tích gieo cấy lúa lai trong cả nước đạt khoảng 650

- 700 ngàn ha/năm, năng suất lúa trung bình tăng cao hơn lúa thuần khoảng 15 tạ/ha, làm tăng sản lượng trên 1,2 triệu tấn thóc/năm Chương trình khuyến nông ngô lai đã tạo được sự tăng trưởng nhanh và vững chắc trong sản xuất ngô của Việt Nam từ chỗ

tỷ lệ sử dụng giống ngô lai của nước ta < 10% trước năm 1995, đến nay ngô lai đã chiếm trên 95% diện tích ngô toàn quốc, với bộ giống ngô lai rất phong phú, gồm nhiều giống ngô lai đứng hàng đầu thế giới về năng suất, chất lượng, cùng với các tiến

bộ kỹ thuật về tăng vụ ngô ở các vùng trồng ngô chủ lực ở Đồng bằng sông Hồng, Miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đã góp phần quan trọng đưa diện tích ngô của Viêt Nam tăng gấp 2,2 lần, năng suất ngô bình quân tăng 1,25 lần và sản lượng ngô tăng 2,7 lần trong 2 thập kỷ vừa qua

Nhiều tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, năng suất và sản lượng lương thực tăng nhanh và bền vững nhờ đưa lúa lai, ngô lai chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu giúp tăng nhanh sản lượng lương thực, xóa đói giảm nghèo rất hiệu quả

- Các chương trình khuyến nông phát triển lạc, đậu tương, mía, rau đậu thực phẩm, nấm ăn và nấm dược liệu, cây ăn quả, chè, cà phê, cao su cũng được triển

khai với việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ giống mới, kỹ thuật thâm canh, thu hoạch và chế biến góp phần thúc đẩy các ngành hàng sản xuất này phát triển toàn diện cả về năng suất, sản lượng, chất lượng và hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho nông dân và góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tiến bộ

- Chương trình khuyến nông chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở các vùng đã góp

phần thay đổi phương thức canh tác theo hướng phát huy mặt thuận lợi thế mạnh, né tránh và khắc phục các yếu tố bất lợi ở từng vùng để sản xuất đạt hiệu quả cao, bền vững, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu Bình quân giá trị sản xuất/ha đất canh tác tăng từ 10,5 triệu đồng năm 1995 lên 42,7 triệu đồng/ha năm 2010

Một số kết quả nổi bật của Chương trình này là :

+ Mở rộng trà lúa Xuân muộn và áp dụng kỹ thuật làm mạ dày xúc có che phủ nilon, gieo thẳng thay thế trà lúa Xuân sớm và Xuân Trung gieo mạ dược ở Đồng bằng sông Hồng

+ Tăng thêm vụ Đông giữa 2 vụ lúa ở vùng Bắc với cơ cấu cây trồng phong phú, tạo thêm sản phẩm hàng hóa, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho hàng trăm ngàn hộ nông dân

+ Sử dụng khoảng 200 ngàn ha đất bỏ hóa vụ Xuân ở miền núi phía Bắc để gieo trồng thêm vụ ngô, đậu tương, lạc, khoai tây, rau và cây thức ăn gia súc + Chuyển

Trang 10

cơ cấu 3 vụ lúa bấp bênh sang 2 vụ lúa ăn chắc hoặc 2 vụ lúa + 1 vụ màu Hè Thu ở Duyên hải Nam Trung Bộ, đảm bảo né tránh thiên tai, sản xuất ổn định

+ Chuyển từ gieo sạ lúa liên tục trong năm sang gieo sạ theo từng trà, từng đợt, thu hẹp trà lúa Xuân Hè, mở rộng trà lúa Thu Đông để hạn chế sâu bệnh, giảm áp lực trong khâu thu hoạch, phơi sấy và tiêu thụ, chủ động ứng phó với hạn mặn và lũ

+ Chuyển đổi một phần diện tích đất ruộng úng trũng ở Đồng bằng sông Hồng, đất nhiễm mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long sang nuôi trồng thủy sản chuyên canh hoặc kết hợp lúa - cá, lúa - tôm; chuyển một số diện tích đất ruộng cao không chủ động tưới ở vùng trung du miền núi sang trồng cây màu, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thức ăn gia súc

b/ Lĩnh vực chăn nuôi:

Các chương trình, dự án khuyến nông chăn nuôi tập trung ứng dụng các tiến bộ

kỹ thuật về cải tạo giống, áp dụng các giống vật nuôi đạt năng suất, chất lượng cao; chuyển đổi từ chăn nuôi phân tán, quảng canh sang chăn nuôi gia trại, trang trại thâm canh; ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về dinh dưỡng thức ăn, phòng trừ dịch bệnh, đảm bảo các yêu cầu chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu Một số chương trình khuyến nông tiêu biểu trong lĩnh vực này là: Chương trình cải tạo đàn bò, Chương trình phát triển bò sữa, Chương trình phát triển lợn lai hướng nạc, Chương trình chăn nuôi gia cầm, thủy cầm an toàn sinh học, Chương trình chăn nuôi an toàn sinh học và áp dụng VietGAP,

Các chương trình, dự án khuyến nông chăn nuôi đã góp phần nâng cao chất lượng đàn gia súc, gia cầm, tăng năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi, thay đổi tập quán chăn nuôi từ quảng canh, tận dụng là chính sang chăn nuôi tập trung có đầu tư, thâm canh gắn với đảm bảo sức khỏe cộng đồng và bảo vệ môi trường sinh thái

c/ Lĩnh vực khuyến lâm:

Các chương trình, dự án khuyến lâm được triển khai với nhiều nội dung phong phú, thiết thực, với trọng tâm là ứng dụng các tiến bộ về giống và kỹ thuật lâm sinh để trồng rừng thâm canh, phát triển các loài cây rừng có năng suất cao, chất lượng phù hợp, phát triển cây lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu, làm thực phẩm; đẩy mạnh canh tác nông lâm kết hợp, gắn việc trồng rừng với tạo thu nhập, nâng cao đời sống và giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo và vươn lên làm giàu từ rừng Các mô hình khuyến lâm đã thực hiện trồng mới được khoảng 86 ngàn ha rừng trình diễn trên địa bàn 40 tỉnh, chủ yếu là các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên với 58.350 hộ nông dân tham gia Thông qua các chương trình khuyến lâm đã góp phần

Trang 11

canh, dựa vào khai thác rừng tự nhiên sang phát triển vốn rừng theo hướng thâm canh, tăng năng suất, chất lượng, tăng độ che phủ rừng từ 35% trong thập kỷ 90 lên đến 48% vào năm 2011, góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng ở các vùng biên giới, hải

đảo

d/ Lĩnh vực khuyến ngư:

Các chương trình, dự án khuyến ngư cũng không ngừng được đẩy mạnh, góp phần rất quan trọng thúc đẩy ngành Thủy sản phát triển vượt bậc trong 2 thập niên gần đây Trong giai đoạn từ năm 1993 đến 2007 công tác khuyến ngư đã xây dựng được hơn 9.000 mô hình trình diễn, nhập và chuyển giao hơn 70 công nghệ, tổ chức gần 28.000 lớp tập huấn cho khoảng 1,3 triệu người, 128 lớp tập huấn xoá đói giảm nghèo cho 2.700 lượt người tham dự Thông qua các chương trình trọng điểm như: chương trình phát triển nuôi tôm sú, tôm thẻ chân trắng, chương trình nuôi thủy sản nước mặn,

lợ, chương trình nuôi thủy sản nước ngọt, chương trình phát triển giống thủy sản, chương trình khai thác hải sản xa bờ và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản đã góp phần nâng cao nhận thức và kiến thức khoa học kỹ thuật cho nông, ngư dân, thay đổi sâu sắc về phương thức sản xuất thủy sản từ chỗ chủ yếu dựa vào khai thác và nuôi thả quảng canh sang nuôi trồng bán thâm canh và thâm canh, từ nuôi tự phát phân tán sang nuôi trồng tập trung theo quy hoạch, gắn với cơ sở chế biến, xuất khẩu, tạo nguồn thu xuất khẩu ngoại tệ đáng kể cho đất nước: năm 2008 đạt 4,5 tỷ USD và đến năm 2011 đạt trên 6,1 tỷ USD

e/ Lĩnh vực cơ giới hoá, bảo quản và chế biến nông lâm sản:

Các chương trình, dự án cũng được triển khai và đạt kết quả tích cực nhằm giúp nông dân tăng năng suất lao động, giảm lao động nặng nhọc, giảm tổn thất trong khâu thu hoạch và sau thu hoạch Thông qua các chương trình, dự án đã góp phần đưa nhanh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp đặc biệt là các khâu làm đất, tưới tiêu, thu hoạch, vận chuyển Hiện nay trong sản xuất lúa ở các vùng đồng bằng tập trung, tỷ

lệ cơ giới hóa trong khâu làm đất, vận chuyển đạt trên 85%, trong khâu tưới tiêu trên 90%, khâu thu hoạch trên 60%, tạo điều kiện giải phóng lao động nặng nhọc và nâng cao năng suất lao động; khắc phục được tình trạng thiếu hụt lao động lúc thời vụ căng thẳng, giảm tổn thất trong và sau thu hoạch, rút ngắn thời gian gieo cấy và thu hoạch, nâng cao hiệu quả sản xuất và tăng thu nhập cho nông dân

g/ Các chương trình, dự án khuyến nông ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao

và khuyến nông đô thị góp phần tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng, vệ sinh an

toàn thực phẩm và nâng cao hiệu quả sản xuất thông qua xây dựng và nhân rộng các

mô hình ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (trồng rau hoa trong nhà lưới, nhà kính, công nghệ thủy canh, khí canh ) Đồng thời xây dựng và phổ biến các mô hình

Trang 12

khuyến nông đô thị như: sản xuất hoa, cây cảnh, cá cảnh, chế tác sản phẩn thủ công

mỹ nghệ, thúc đẩy chuyển dich cơ cấu sản xuất theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tăng giá trị và thu nhập cho nông dân Những địa phương đi đầu trong chương trình này là TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Lâm Đồng, Vĩnh Phúc, Cần Thơ…

4 Hoạt động hợp tác quốc tế về khuyến nông đã có nhiều cố gắng, góp phần nâng cao năng lực và vị thế của hệ thống khuyến nông Việt Nam trong khu vực và quốc tế

Hiện tại, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia là đầu mối của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong chương trình hợp tác các nước thành viên ASEAN về đào tạo

và khuyến nông (AWGATE) Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và một số tổ chức khuyến nông địa phương cũng phối hợp tham gia nhiều dự án, hoạt động hợp tác quốc

tế về khuyến nông do các quốc gia và các tổ chức quốc tế tài trợ Hàng năm, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức 2- 3 đoàn khảo sát, học tập nước ngoài; cử hàng trăm lượt cán bộ khuyến nông các cấp tham dự nhiều khóa học, hội thảo, tập huấn về khuyến nông tại Hàn Quốc, Thụy Sỹ, Israel, Nhật, Mỹ, Australia, Đài Loan, Thái Lan, Trung Quốc…

Hệ thống khuyến nông ở nhiều tỉnh, thành phố cũng đã tích cực tham gia các

dự án hợp tác quốc tế có nội dung hoạt động khuyến nông với các quốc gia, các tổ chức quốc tế như: WB, ADB, IFAD, FAO và các tổ chức NGO quốc tế

Thông qua các dự án, chương trình hợp tác quốc tế, năng lực của hệ thống khuyến nông Trung ương và nhiều địa phương được tăng cường rõ rệt Khoảng 500.000 lượt cán bộ khuyến nông và nông dân được tham gia tập huấn về kỹ năng, phương pháp khuyến nông, về kiến thức kỹ thuật, ngoại ngữ, nhiều cơ quan khuyến nông được hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện hoạt động từ các dự án

mà hệ thống khuyến nông đã phối hợp thực hiện

5 Hệ thống khuyến nông cũng tích cực thực hiện các nhiệm vụ chung của ngành nông nghiệp và PTNT ở Trung ương và địa phương như : tuyên truyền, phổ

biến các văn bản quy phạm pháp luật; hướng dẫn quy trình sản xuất, tổng hợp và báo cáo tiến độ sản xuất Đặc biệt trong công tác phòng chống, khắc phục hậu quả của thiên tai, các chiến dịch phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, lực lượng khuyến nông luôn tham gia với vai trò xung kích

Đồng thời hệ thống khuyến nông các cấp cũng chủ động đề xuất, trực tiếp chủ trì hoặc phối hợp thực hiện nhiều đề tài, dự án nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ của Trung ương và địa phương

Trang 13

Trong những năm gần đây, hệ thống khuyến nông đã và đang tích cực tham gia phong trào xây dựng nông thôn mới với những nội dung cụ thể, thiết thực như: tham gia xây dựng quy hoạch và hướng dẫn thực hiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp, xây dựng mô hình chuyển đổi cơ cấu sản xuất, ứng dụng khoa học kỹ thuật tại các xã điểm nông thôn mới để tăng thu nhập cho nông dân; đào tạo, bồi dưỡng, truyền nghề cho nông dân để chuyển đổi nghề, chuyển đổi cơ cấu lao động trong nông thôn; tham gia xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng và bảo vệ môi trường nông thôn

Những nỗ lực, phấn đấu và những đóng góp quan trọng trên đây của Hệ thống khuyến nông Việt Nam trong hai thập kỷ qua đã được hàng triệu hộ nông dân trong cả nước khẳng định, được Đảng, Nhà nước ghi nhận và tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba, hạng Hai và hạng Nhất cùng nhiều Cờ thi đua, Bằng khen của Chính phủ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

IV Một số tồn tại, hạn chế cần khắc phục và bài học kinh ngiệm

Bên cạnh những thành tựu quan trọng trên đây, hoạt động của hệ thống khuyến nông Việt Nam trong thời gian qua cũng bộc lộ một số tồn tại, hạn chế:

1 Hệ thống tổ chức, chức năng nhiệm vụ chưa thống nhất

Mặc dù Nghị định 02/2010/NĐ-CP đã thống nhất tên gọi khuyến nông bao gồm cả khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư và quy định hệ thống tổ chức khuyến nông chuyên trách ở địa phương bao gồm 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp cơ sở (xã, thôn, bản) Tuy nhiên, hiện nay mô hình tổ chức khuyến nông ở các địa phương rất khác nhau:

+ Cấp tỉnh: hiện có 60/63 tỉnh, thành phố giao toàn diện các nhiệm vụ khuyến

nông theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP cho cơ quan khuyến nông tỉnh, còn 03 tỉnh (Long An, Tuyên Quang, Điện Biên) chưa giao nhiệm vụ khuyến ngư về Trung tâm Khuyến nông tỉnh mà giao cho Trung tâm thủy sản tỉnh

Có 27 tỉnh, thành phố lấy tên gọi thống nhất là Trung tâm Khuyến nông, còn 36 tỉnh vẫn lấy tên gọi là Trung tâm Khuyến nông- Khuyến ngư hoặc Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm, Trung tâm Khuyến nông lâm ngư, Trung tâm Khuyến ngư, nông, lâm,

+ Cấp huyện: Hiện nay có 34/63 (54%) số tỉnh, thành phố tổ chức mô hình

Trạm khuyến nông cấp huyện trực thuộc Trung tâm Khuyến nông cấp tỉnh, số còn lại Trạm khuyến nông huyện trực thuộc UBND cấp huyện hoặc trực thuộc Phòng Nông nghiệp, Phòng Kinh tế huyện Riêng tỉnh Lâm đồng chưa thành lập Trạm khuyến nông chuyên trách cấp huyện mà thành lập Trung tâm Nông nghiệp cấp huyện (bao gồm nhiều lĩnh vực: khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, kiểm lâm )

Trang 14

+ Cấp cơ sở: Mạng lưới khuyến nông cơ sở là lực lượng thường xuyên trực

tiếp gắn bó với nông dân Tuy nhiên toàn quốc hiện vẫn còn 12 tỉnh chưa xây dựng mạng lưới khuyến nông cơ sở Về chế độ trả lương, phụ cấp cho cán bộ khuyến nông

cơ sở, hiện tại các tỉnh, thành phố thực hiện cũng rất khác nhau Có khoảng 30 số tỉnh, thành phố trả lương cho KNVCS theo trình độ đào tạo, trong đó có những tỉnh điều kiện ngân sách khó khăn như : Hà Giang, Yên Bái, Bắc Giang, Cà Mau Tuy nhiên nhiều tỉnh, thành phố khác chỉ trả phụ cấp cho KNVCS với mức từ 0,5 - 1,0 hệ số lương cơ bản

Tình trạng chưa thống nhất về mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của hệ thống khuyến nông các cấp và chế độ đãi ngộ chưa phù hợp, nhất là đối với cán bộ KNVCS là một trong những yếu tố hạn chế trong hoạt động khuyến nông hiện nay

2 Chất lượng và năng lực của cán bộ khuyến nông, nhất là cán bộ khuyến nông cơ sở chưa đồng đều

Phần lớn cán bộ khuyến nông có kinh nghiệm thực tiễn và có tâm huyết với nghề, thường xuyên gắn bó với nông dân Nhiều cán bộ tích cực học tập nâng cao trình độ và phương pháp, kỹ năng hoạt động khuyến nông để nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, một số cán bộ khuyến nông các cấp được điều động luân chuyển sang vị trí công tác khác, các cán bộ mới được bổ sung còn thiếu kinh nghiệm và tính chuyên nghiệp về công tác khuyến nông Một bộ phận không nhỏ cán bộ KNVCS chưa qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ; một số cán bộ khuyến nông chưa thật chuyên tâm với công việc, chưa sâu sát thực tiễn, hoạt động còn mang nặng tính hành chính Chất lượng của đội ngũ cán bộ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công tác khuyến nông Do đó việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, năng lực cho đội ngũ cán bộ khuyến nông các cấp là yêu cầu cấp thiết, thường xuyên của hệ thống khuyến nông

3 Nguồn lực cho hoạt động khuyến nông còn thấp

Trong thập niên đầu mới thành lập (1993- 2003), nguồn lực đầu tư của nhà nước cho khuyến nông còn thấp, nhưng việc tổ chức hoạt động theo các chương trình khuyến nông trọng điểm cấp quốc gia đã tập trung sự chỉ đạo thống nhất và huy động nguồn lực từ trung ương đến địa phương và tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế nên hoạt động khuyến nông đã đã tạo được những sự bứt phá rõ rệt trên một số lĩnh vực sản xuất chủ lực, trọng điểm Tuy nhiên, ở thập niên tiếp theo, việc cập nhật, điều chỉnh, bổ sung các chương trình khuyến nông trọng điểm chưa kịp thời, hoạt động khuyến nông theo

kế hoạch hàng năm nên thiếu định hướng chiến lược, thiếu sự lồng ghép gắn kết chặt chẽ giữa nguồn lực của trung ương và địa phương, nguồn lực của nhà nước và khu

Trang 15

vực ngoài nhà nước, giữa nguồn lực trong nước và quốc tế nên đầu tư vừa phân tán, dàn trải, vừa chồng chéo, nhiều nội dung đầu tư hiệu quả chưa cao

Nghị định 02/2010/NĐ-CP đã phân cấp rõ: kinh phí khuyến nông Trung ương đầu tư cho các chương trình, dự án cấp quốc gia, vùng, miền; kinh phí khuyến nông địa phương đầu tư cho các chương trình dự án khuyến nông của địa phương Tuy nhiên hiện nay, nguồn lực đầu tư cho khuyến nông ở các địa phương rất khác nhau Kết quả khảo sát cuối năm 2012 cho thấy: có 56,6% số tỉnh, thành phố bố trí tăng nguồn kinh phí khuyến nông địa phương, 20% số tỉnh, thành phố nguồn kinh khuyến nông giảm so với trước khi có Nghị định 02/2010/NĐ-CP về khuyến nông Đặc biệt là nhiều tỉnh vùng Miền núi phía Bắc, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, vùng Đồng bằng sông Cửu Long, những nơi rất cần đẩy mạnh hoạt động khuyến nông nhưng do ngân sách khó khăn nên kinh phí khuyến nông rất hạn chế

Là quốc gia nông nghiệp với gần 70% dân số sống ở khu vực nông thôn nhưng kinh phí đầu tư cho khuyến nông của Việt Nam nhìn chung còn rất khiêm tốn Năm

2012, tổng kinh phí khuyến nông Trung ương và địa phương đạt xấp xỉ 550 tỷ đồng, bình quân mỗi hộ nông dân được đầu tư khoảng 50.000 đồng (tương đương 2,5 USD), trong khi một số quốc gia nông nghiệp trong khu vực như Thái Lan, Malaixia, Philipin, Indonesia mức đầu tư bình quân từ 50- 80 USD/hộ nông dân

5 Cơ chế, chính sách khuyến nông còn một số bất cập

Trong hai thập kỷ qua, mặc dù cơ chế chính sách khuyến nông đã có thay đổi theo từng giai đoạn, tuy nhiên vẫn còn những điểm bất cập cần tiếp tục điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với nhu cầu của thực tiễn sản xuất

- Về cơ chế hỗ trợ khuyến nông: Chưa có sự phân biệt rõ về khuyến nông phục

vụ xóa đói giảm nghèo và khuyến nông phục vụ sản xuất hàng hóa Cơ chế hỗ trợ khuyến nông hiện tại chủ yếu phù hợp với mô hình nông hộ sản xuất quy mô nhỏ và trình độ công nghệ trung bình khá, chưa tạo động lực mạnh đối với hộ sản xuất hàng hóa quy mô lớn và trình độ công nghệ cao

- Việc phân cấp ngân sách đầu tư kinh phí cho hoạt động khuyến nông giữa Trung ương và địa phương và đầu tư kinh phí khuyến nông theo chương trình, dự án

là cần thiết Tuy nhiên, do chưa có cơ chế điều phối chung dẫn đến sự phân bổ nguồn lực đầu tư giữa các vùng, miền chưa hợp lý: phần lớn các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng, vùng đô thị có điều kiện đầu tư ngân sách địa phương thuận lợi thì cũng tập trung nhiều dự án từ nguồn kinh phí khuyến nông Trung ương, trong khi các tỉnh miền núi, vùng Đồng bằng sông Cửu long kinh phí địa phương đầu tư cho khuyến nông rất hạn chế, nhưng kinh phí từ các dự án khuyến nông trung ương cũng thấp nên hoạt động khuyến nông gặp nhiều khó khăn

Trang 16

- Việc thực hiện xã hội hóa công tác khuyến nông là cần thiết nhưng chưa quy định cụ thể về cơ chế kiểm soát hoạt động của các tổ chức khuyến nông ngoài nhà nước nên nhiều hoạt động còn mang tính tự phát, chưa có sự kiểm soát của nhà nước đối với mục đích, nội dung khuyến nông ngoài nhà nước

- Cán bộ khuyến nông, đặc biệt là cán bộ khuyến nông ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa thường xuyên trực tiếp gắn bó với nông dân, điều kiện làm việc vất vả, thu nhập rất thấp nhưng chưa có chính sách đãi ngộ tương xứng để thu hút cán bộ giỏi và động viên cán bộ nhiệt tình, tâm huyết với công việc

Những khó khăn, tồn tại trên đây cần sớm được quan tâm tháo gỡ, khắc phục

để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động khuyến nông

V Một số bài học kinh nghiệm

Từ thực tiễn xây dựng và phát triển 20 năm qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho hoạt động khuyến nông của nước ta như sau:

1 Sự quan tâm chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp và phối hợp chặt chẽ của các ngành liên quan là tiền đề quan trọng để công tác khuyến nông thành công

Thực tế vừa qua, nhiều địa phương mặc dù điều kiện kinh tế - xã hội còn rất khó khăn, nhưng cấp ủy, chính quyền địa phương nhận thức đúng vai trò công tác khuyến nông và có sự chỉ đạo sâu sát, tích cực, có định hướng và giải pháp tốt thì tổ chức khuyến nông phát triển mạnh và hoạt động khuyến nông có hiệu quả cao, sản xuất phát triển và nông dân phấn khởi Ngược lại, nơi nào cấp ủy, chính quyền ít quan tâm, chỉ đạo không sâu sát, cụ thể thì hoạt động khuyến nông rất khó khăn, lúng túng

2 Năng lực đội ngũ cán bộ khuyến nông có vai trò quyết định đối với chất lượng công tác khuyến nông

Hoạt động khuyến nông là hoạt động thực tiễn, môi trường hoạt động là nông thôn, đối tượng phục vụ là nông dân với nhu cầu rất đa dạng, do đó đòi hỏi cán bộ khuyến nông phải vừa có kiến thức chuyên môn vững, am hiểu nhiều lĩnh vực, có kinh nghiệm thực tiễn, năng động sáng tạo và tâm huyết với nghề nghiệp, không ngại khó khăn vất vả mới gần gũi, gắn bó và tạo được niềm tin với nông dân, nhất là nông dân vùng sâu vùng xa, vùng dân tộc thiểu số Thực tế những năm qua, nhiều địa phương mặc dù điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện và nguồn lực đầu tư cho khuyến nông còn rất hạn chế, nhưng làm tốt công tác tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có chính sách động viên phù hợp thì năng lực đội ngũ cán bộ khuyến nông được cải thiện, hoạt động đều tay và có hiệu quả cao Ngược lại, nơi nào thiếu quan tâm bồi dưỡng, đào tạo thì chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông có nhiều hạn chế, hoạt động lúng túng, hiệu quả thấp

Trang 17

3 Phải kết hợp hài hòa giữa phương pháp khuyến nông có sự tham gia của nông dân và phương pháp khuyến nông theo chương trình mục tiêu để nâng cao

hiệu quả công tác khuyến nông Trong đó phương pháp khuyến nông có sự tham gia (tiếp cận từ dưới lên) là nền tảng để xây dựng các chương trình khuyến nông mục tiêu Phương pháp khuyến nông theo chương trình mục tiêu nhằm định hướng ưu tiên, tập trung nguồn lực và sự chỉ đạo cho hoạt động khuyến nông theo từng lĩnh vực, từng đối tượng, địa bàn và thời gian cụ thể

4 Nội dung hoạt động khuyến nông cần luôn bám sát chủ trương, định hướng của ngành nông nghiệp và nhu cầu của thực tiễn sản xuất, của nông dân,

thường xuyên cập nhật các tiến bộ khoa học công nghệ và các điển hình tiên tiến Phải kết hợp chặt chẽ giữa 3 lĩnh vực hoạt động chính của công tác khuyến nông là: (i) thông tin, tuyên truyền; (ii) đào tạo, huấn luyện; (iii) xây dựng và nhân rộng mô hình trình diễn Phải chú trọng cả việc chuyển giao khoa kỹ thuật và bồi dưỡng kiến thức sản xuất kinh doanh, cung cấp thông tin thị trường cho nông dân Trong từng lĩnh vực phải đa dạng hóa hình thức thực hiện để phù hợp với đối tượng, nội dung và môi trường hoạt động cụ thể Nhưng nguyên tắc chung là phải coi nông dân là chủ thể, khuyến khích và tạo điều kiện để nông dân chủ động, tự giác tham gia mọi hoạt động

khuyến nông, cán bộ khuyến nông là người hướng dẫn, động viên, hỗ trợ, không làm thay nông dân

5 Phải kết hợp chặt chẽ giữa hoạt động của hệ thống khuyến nông nhà nước và các tổ chức khuyến nông ngoài nhà nước, tăng cường hợp tác quốc tế để

huy động nhiều nguồn lực đầu tư, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm hoạt động khuyến nông Đồng thời cần có cơ chế quản lý, kiểm tra, giám sát để đảm mọi hoạt động khuyến nông đều tuân thủ đúng pháp luật mang lại lợi ích thiết thực cho nông dân

Phần II MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG HOẠT ĐỘNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020

I Bối cảnh

Trong những năm tới, hoạt động của hệ thống khuyến nông Việt Nam có nhiều thuận lợi, đồng thời cũng có những khó khăn thách thức cần vượt qua

Trang 18

1 Thuận lợi

Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về tăng cường đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn, sẽ tạo tiền để để công tác khuyến nông tiếp tục được quan tâm đầu tư đáp ứng nhu cầu của sản xuất nông nghiệp và nông dân

Chương trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp và phong trào xây dựng nông thôn mới đang được triển khai sâu rộng trong cả nước, sẽ tạo cơ hội mới để hệ thống khuyến nông mở rộng nội dung và phạm vi hoạt động

Các tiến bộ khoa học công nghệ nông nghiệp trong nước và quốc tế phát triển nhanh chóng, hệ thống khuyến nông có nhiều cơ hội tiếp cận, lựa chon và chuyển giao cho nông dân

Qua 20 năm xây dựng và phát triển, hệ thống tổ chức và lực lượng cán bộ khuyến nông cả nước đã không ngừng lớn mạnh, tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn để tiếp tục tổ chức hoạt động tốt hơn trong thời gian tới

Nền nông nghiệp nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng và có vị thế quan trọng trong nền nông nghiệp quốc tế Hệ thống khuyến nông cũng có nhiều cơ hội để hợp tác, tiếp cận với các phương pháp khuyến nông hiện đại của các nước có nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới

2 Khó khăn, thách thức

Để phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhu cầu của thực tiễn sản xuất và của nông dân về khoa học công nghệ và kiến thức quản lý kinh doanh ngày càng cao và đa dạng, đòi hỏi hệ thống khuyến nông phải không ngừng đổi mới, cập nhật và nắm vững chuyên môn, cải tiến nội dung và phương pháp hoạt động để đáp ứng nhu cầu đó

Thực hiện xã hội hóa công tác khuyến nông, nhiều tổ chức, cá nhân cùng tham gia hoạt động khuyến nông, tạo áp lực cạnh tranh đòi hỏi hệ thống khuyến nông nhà nước phải không ngừng vươn lên, xứng đáng với vai trò là lực lượng nòng cốt, hướng dẫn, hợp tác với các lực lượng khuyến nông ngoài nhà nước để phổ biến, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân

Cơ chế kinh tế thị trường và quy luật phát triển không đồng đều đang làm cho

sự phân cực về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, miền giữa các ngành nghề trong xã hội ngày càng sâu sắc Hoạt động khuyến nông vất vả nhưng thu nhập thấp đang là thách thức đối với việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông hiện nay

Trang 19

3 Định hướng phát triển chung của ngành nông nghiệp

Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá tập trung quy mô lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát huy thế mạnh từng ngành hàng và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài

Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới

II Mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống khuyến nông thời gian tới

chủ động hợp tác với khuyến nông trong khu vực và thế giới

2 Một số nhiệm vụ khuyến nông trọng tâm

Để đạt mục tiêu đó, hệ thống khuyến nông cả nước cần tập trung triển khai tốt một số nhiệm vụ khuyến nông trọng tâm sau đây:

Một là: Bám sát chiến lược phát triển của ngành nông nghiệp và phát triển

nông thôn đến 2020, đặc biệt là chủ trương tái cơ cấu ngành theo hướng tăng cường

áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả, khả năng cạnh tranh và phát triển bền vững

Để khắc phục tình trạng đầu tư nguồn lực khuyến nông phân tán, dàn trải, hệ thống khuyến nông từ Trung ương đến địa phương cần căn cứ vào định hướng tái cơ cấu sản xuất của ngành và điều kiện thực tế từng vùng, miền để xây dựng các chương trình, dự án khuyến nông trọng điểm cấp quốc gia và chương trình khuyến nông đặc

Trang 20

tiếp các Chương trình mục tiêu quốc gia trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn như: Chương trình an toàn vệ sinh thực phẩm, Chương trình xây dưng nông thôn mới, Chương trình đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, Chương trình giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu Trước hết ưu tiên nguồn lực đầu tư cho một số chương trình, dự án khuyến khích phát triển những sản phẩm hàng hóa có lợi thế cạnh tranh, có thị trường tiêu thụ và những địa bàn còn nhiều tiềm năng phát triển, lựa chọn các tiến bộ khoa học công nghệ có khả năng tạo sự chuyển biến rõ rệt trên phạm vi rộng về chất lượng và hiệu quả kinh tế, bền vững về môi trường

Hai là: không ngừng cải tiến, đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động để nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông

Nội dung hoạt động khuyến nông cần cụ thể, thường xuyên cập nhật các tiến

bộ khoa học công nghệ tiến bộ, các kinh nghiệm, điển hình tiên tiến, sát với thực tiễn sản xuất của địa phương và điều kiện của hộ nông dân Cần tránh cả hai khuynh hướng không tốt là bảo thủ, ngại tiếp cận chuyển giao công nghệ mới hoặc nóng vội, chủ quan trong chuyển giao công nghệ, kỹ thuật mới dẫn đến gây thiệt hại cho nông dân Bên cạnh công tác phổ biến, chuyển giao khoa học công nghệ, hoạt động khuyến nông cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức tổ chức quản lý nông trại, kiến thức kinh doanh, cung cấp thông tin, tăng cường kết nối các đối tác trong chuỗi giá trị hàng hóa nông sản để giúp nông dân chủ động tham gia vào thị trường công nghệ, vật tư và nông sản để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh

Đa dạng hóa các phương pháp và phương tiện khuyến nông, đặc biệt đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, kỹ thuật số vào hoạt động tuyên truyền, đào tạo khuyến nông để tăng khả năng tiếp cận của nông dân với các kênh thông tin khuyến nông Tiếp tục mở rộng các mô hình hoạt động dịch vụ, tư vấn khuyến nông trực tiếp tại các diễn đàn, các câu lạc bộ khuyến nông hoặc trên các phương tiện truyền thông, điện thoại, internet để đáp ứng kịp thời nhu cầu đa dạng của nông dân

Ba là: tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng

đội ngũ cán bộ khuyến nông các cấp để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất và mong đợi của nông dân

- Về tổ chức:

Ở Trung ương: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục rà soát, điều chỉnh chức năng nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Bộ để đảm có đầu mối thống nhất quản lý nhà nước và đầu mối tổ chức thực hiện nhiệm vụ khuyến nông Trung ương

Ở địa phương: đề nghị Ủy ban nhan dân các tỉnh, thành phố căn cứ vào Nghị định 02/2010/NĐ-CP và điều kiện cụ thể của địa phương để kiện toàn hệ thống tổ

Trang 21

tỉnh (gồm cả nhiệm vụ khuyến ngư) là Trung tâm Khuyến nông tỉnh Những tỉnh chưa

có Trạm khuyến nông cấp huyện cần sớm thành lập Trạm khuyến nông chuyên trách Các địa phương chưa có mạng lưới khuyến nông cơ sở cần sớm xây dựng và có chính sách phù hợp để thu hút cán bộ có trình độ chuyên môn và có kinh nghiệm thực tiễn tham gia mạng lưới này, ưu tiên cán bộ tại địa phương, nhất là vùng núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để đảm bảo hoạt động khuyến nông ổn định và hiệu qủa

- Về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực:

Trong những năm tới, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và chất lượng đội ngũ cán bộ khuyến nông có ý nghĩa quyết định để nâng cao hiệu quả công tác khuyến nông Trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cần coi trọng cả bồi dưỡng kiến thức chuyên môn kỹ thuật và phương pháp, kỹ năng hoạt động khuyến nông, ứng dụng các phương pháp khuyến nông tiên tiến để nâng cao tính chuyên nghiệp của đội

ngũ cán bộ khuyến nông các cấp, nhất là cán bộ khuyến nông cấp cơ sở

Bốn là: Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế chính sách khuyến nông

Phạm vi áp dụng chính sách khuyến nông cần được mở rộng hơn cho phù hợp với định hướng tái cơ cấu ngành Bên cạnh các chính sách hỗ trợ khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất như hiện nay theo Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ, cần bổ sung chính sách khuyến khích áp dụng sản xuất an toàn theo GAP, chính sách khuyến khích xây dựng các mô hình liên kết sản xuất - tiêu thụ theo chuỗi giá trị sản phẩm, các mô hình giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển bền vững, các hoạt động xúc tiến thương mại, đẩy mạnh tiêu thụ nông sản,

Phương thức hỗ trợ khuyến nông cần điều chỉnh theo hướng phân biệt rõ hơn đối với hai nhóm đối tượng mục tiêu là:

+ Đối với hộ nghèo, hộ sản xuất thuộc vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng thường xuyên bị thiên tai, hộ sản xuất tự cấp tự túc là chính,

áp dụng chính sách hỗ trợ như hiện nay để giúp họ thoát nghèo bền vững, vươn lên

làm giàu

+ Đối với hộ sản xuất hàng hóa lớn, chủ trang trại, các cơ sở sản xuất nhỏ và vừa trong lĩnh vực nông nghiệp, áp dụng nông nghiệp công nghệ cao cần thực hiện

chính sách khuyến khích thông qua cơ chế vay vốn ưu đãi từ Quỹ Khuyến nông, đảm

bảo nguồn đầu tư ổn định cho hoạt động khuyến nông

Đồng thời phải thực hiện xã hội hóa công tác khuyến nông, huy động tổng hợp các nguồn lực đầu tư cho hoạt động khuyến nông, trong đó hình thức hợp tác công - tư (PPP) trong hoạt động khuyến nông cần được thí điểm, tổng kết, nhân rộng

Trang 22

Năm là: Mở rộng hợp tác với mạng lưới khuyến nông trong khu vực và trên thế giới

Trong những năm tới, Khuyến nông Việt Nam cần tiếp tục hợp tác chặt chẽ với khuyến nông của các nước ASEAN và các nước trên thế giới Tổ chức các chương trình hợp tác đào tạo nông dân, trao đổi chuyên gia nông nghiệp, tổ chức các đoàn cán

bộ khuyến nông và nông dân đi thăm quan giao lưu, trao đổi kinh nghiệm khuyến nông với hệ thống khuyến nông các nước để tiếp tục đổi mới và phát triển khuyến nông Việt Nam lên một tầm cao mới

III Một số kiến nghị

1 Thực tế qua 2 năm thực hiện Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010 của Chính phủ về Khuyến nông cho thấy có một số điểm cần bổ sung sửa đổi cho phù hợp với tình hình phát triển nông nghiêp và xây dựng nông thôn mới hiện nay Đề nghị Chính phủ xem xét cho phép sửa đổi Nghị định này

2 Từ kinh nghiệm tổ chức Quỹ Khuyến nông của Thành phố Hà Nội trong nhiều năm qua, đề nghị Chính phủ cho phép Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Tài chính phối hợp xây dựng đề án xây dựng và quản lý Quỹ Khuyến nông quốc gia trình Chính phủ phê duyệt trong năm 2013

3 Đề nghị Chính phủ giao Bộ Nông nghiẹp và PTNT phối hợp với Bộ Nội vụ,

Bộ Tài Chính xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn về tổ chức, quản lý và chế độ chính sách đối với đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở để các địa phương có cơ sở thực hiện thống nhất

Trải qua 20 năm xây dựng và phát triển, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các Bộ, ngành trung ương và cấp ủy, chính quyền, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các địa phương, hệ thống khuyến nông Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, đã có nhiều thành tích quan trọng đóng góp cho sự phát triển chung

của nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta Trong thời gian tới, hệ thống

khuyến nông cả nước cần tích cực phát huy những thành tích và kinh nghiệm tốt, khắc phục những hạn chế, yếu kém, không ngừng đổi mới nội dung và phương pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khuyến nông đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn sản xuất và mong đợi của bà con nông dân./

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Trang 23

KINH NGHIệM TRONG CÔNG TáC QUảN Lý vμ

Sử DụNG QUỹ KHUYếN NÔNG của THμNH PHố Hμ NộI

Trung tâm Khuyến nông Hμ Nội

Quỹ Khuyến nông Thμnh phố Hμ Nội được thμnh lập theo Quyết định số 26/2002/QĐ-UB ngμy 27 tháng 02 năm 2002 của UBND Thμnh phố Hμ Nội, ban hμnh kèm theo quy chế quản lý vμ sử dụng Quỹ Nguồn vốn ngân sách cấp ban đầu cho quỹ khi thμnh lập lμ 5 tỷ đồng vμ được bổ sung hμng năm

Sau 5 năm hoạt động (2002- 2007), UBND Thμnh phố bổ sung, sửa đổi quy chế quản lý vμ sử dụng Quỹ Khuyến nông vμ ban hμnh kèm theo Quyết định số 142/2007/QĐ-UBND ngμy 10/12/2007 cho phù hợp với thực tiễn sản xuất

Từ khi Thủ đô mở rộng địa giới hμnh chính, quy mô sản xuất nông nghiệp của Thμnh phố lớn hơn, ngμnh nghề sản xuất đa dạng hơn, đối tượng có nhu cầu vay vốn

ưu đãi để phát triển sản xuất nhiều hơn Hμng năm quỹ Khuyến nông đều được ngân sách Thμnh phố cấp bổ sung; đến năm 2012 Quỹ Khuyến nông đã được ngân sách Thμnh phố cấp 93,0 tỷ đồng Cùng với số vốn được bổ sung từ nguồn phí quản lý Quỹ

từ năm 2002 đến năm 2012 chuyển sang 6,184 tỷ đồng, tính đến hết năm 2012, tổng nguồn vốn để giải ngân cho các hộ vay vốn lμ 99,184 tỷ đồng

Sau 10 năm hoạt động, Quỹ Khuyến nông đã đồng hμnh cùng nông dân Thủ đô,

để mở rộng các mô hình khuyến nông có hiệu quả thμnh các vùng hμng hóa tập trung, phục vụ nhu cầu nội tiêu vμ hướng tới xuất khẩu

I kết quả triển khai, quản lý vμ sử dụng Quỹ Khuyến nông Thμnh phố Hμ Nội

1- Xây dựng vμ từng bước kiện toμn tổ chức bộ máy quản lý Quỹ Khuyến nông

từ Thμnh phố tới quận, huyện, xã, phường:

Khi mới thμnh lập, do nguồn vốn Quỹ Khuyến nông còn ít (5,0 tỷ đồng), hoạt

động ban đầu của Quỹ do một số cán bộ các phòng chuyên môn vμ một số trạm Khuyến nông kiêm nhiệm Khi nguồn vốn tăng dần lên thì bộ máy quản lý cũng từng bước được kiện toμn

Từ năm 2008, Quỹ Khuyến nông hoạt động theo Quy chế quản lý vμ sử dụng Quỹ ban hμnh kèm theo Quyết định 142/2007/QĐ-UBND ngμy 10/12/2007 của UBND Thμnh phố Hμ Nội Tổ chức bộ máy chỉ đạo hoạt động của Quỹ Khuyến nông được

Trang 24

* Hội đồng thẩm định cấp Thμnh phố các Hồ sơ xin vay vốn được Giám đốc Sở

Nông nghiệp vμ PTNT Hμ Nội quyết định thμnh lập, do một Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp vμ PTNT Hμ Nội lμm Chủ tịch Hội đồng, Giám đốc Quỹ Khuyến nông lμ Phó Chủ tịch Hội đồng; Các thμnh viên Hội đồng lμ lãnh đạo một số phòng chuyên môn của Sở

Nông nghiệp & PTNT vμ phòng chuyên môn của Sở Tμi chính Hμ Nội; Hội đồng thẩm

định cấp Thμnh phố thẩm định vμ quyết định cho vay đối với các phương án có mức vốn

vay từ 100 triệu đồng trở lên

* Giám đốc Trung tâm Khuyến nông (Giám đốc Quỹ) được thẩm định vμ quyết

định cho vay đối với các phương án có mức vốn xin vay dưới 100 triệu đồng Giám đốc

quỹ thμnh lập các bộ phận hỗ trợ vμ giúp việc: Hội đồng thẩm định cấp cơ sở do một

Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông lμm Chủ tịch Hội đồng, Trưởng phòng Quản lý Quỹ Khuyến nông lμ Phó Chủ tịch, thường trực hội đồng; các thμnh viên Hội đồng lμ Trưởng các phòng chuyên môn của Trung tâm Khuyến nông vμ một số cán bộ phòng

Quản lý QKN; Thμnh lập Tiểu ban quản lý Quỹ Khuyến nông thuộc các trạm Khuyến nông quận, huyện, thị xã do Trạm trưởng hoặc Trạm phó lμm Trưởng Tiểu ban, một cán

bộ Hợp đồng lao động chuyên quản Quỹ Khuyến nông vμ một cán bộ kỹ thuật lμ thμnh viên

2- Công tác triển khai, quản lý, vμ sử dụng vμ bảo toμn Quỹ Khuyến nông Thμnh phố:

Để công tác triển khai hoạt động Quỹ Khuyến nông thuận lợi, đảm bảo giải ngân kịp thời, đúng đối tượng, sử dụng vốn đúng mục đích vμ tránh rủi ro, thất thoát vốn ở mức thấp nhất, hμng năm Quỹ Khuyến nông đều xây dựng kế hoạch hoạt động chi tiết của Quỹ Khuyến nông, trình Sở Nông nghiệp vμ PTNT Hμ Nội, Sở Tμi chính

Hμ Nội phê duyệt, thẩm định

- Để xây dựng kế hoạch hoạt động của Quỹ Khuyến nông năm sau, ngay từ cuối năm trước Trung tâm đã chỉ đạo các trạm Khuyến nông trực thuộc phối hợp với chính quyền, HTX nông nghiệp, điều tra, khảo sát nhu cầu vay vốn sản xuất của các hộ trên

địa bμn báo cáo Trung tâm để tổng hợp Trên cơ sở số vốn các trạm Khuyến nông đăng

ký, căn cứ vμo khả năng đáp ứng của nguồn vốn (do ngân sách cấp bổ sung hμng năm vμ vốn do các hộ trả nợ khi hết hợp đồng vay vốn), Trung tâm phân bổ kế hoạch giải ngân vốn cho từng trạm Khuyến nông theo từng tháng, quý trong năm Trung tâm để lại 15 – 20% tổng nguồn vốn hμng năm để ưu tiên hỗ trợ giải ngân cho những vùng sản xuất hμng hoá tập trung, vùng chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo quy hoạch của địa phương

- Phối hợp chặt chẽ với UBND các quận, huyện, xã, phường trong quá trình quản lý, sử dụng vμ bảo toμn Quỹ Khuyến nông Đảm bảo sử dụng đúng mục đích,

Trang 25

phù hợp với quy hoạch của địa phương, không để xảy ra hiện tượng thất thoát nguồn vốn Quỹ Khuyến nông

- Tổ chức tuyên truyền công tác triển khai, quản lý, sử dụng, bảo toμn Quỹ Khuyến nông trên các phương tiện báo, đμi của Trung ương vμ Hμ Nội

- Tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ tín dụng, tìm hiểu kiến thức pháp luật cho

đội ngũ cán bộ tham gia cônng tác quản lý Quỹ Khuyến nông để nâng cao năng lực quản lý Quỹ Khuyến nông Thμnh phố; đồng thời tổ chức hμng trăm lớp tập huấn kỹ thuật về trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản cho hμng nghìn lượt nông dân, chủ trang trại đang sử dụng vốn vay vμ các hộ nông dân khác tại các xã, phường, thị trấn

- Dựa vμo hệ thống định mức kinh tế kỹ thuật của ngμnh để lμm căn cứ tính toán xây dựng dự án, phương án sản xuất vay vốn Quỹ Khuyến nông

- Từng bước hoμn thiện hệ thống tμi liệu, mẫu biểu phục vụ công tác hướng dẫn các hộ sản xuất lập hồ sơ vay vốn Quỹ Khuyến nông

- Tổ chức giải ngân cho các hộ nông dân, chủ trang trại vay vốn Quỹ Khuyến nông nhiều năm đảm bảo an toμn tuyệt đối

- Cử cán bộ kỹ thuật, cán bộ chuyên quản Quỹ Khuyến nông thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân đảm bảo vốn vay được sử dụng đúng mục

đích vμ có hiệu quả

- Công tác kiểm tra: Trung tâm đã xây dựng kế hoạch kiểm tra định kỳ, hoặc

đột xuất công tác quản lý, sử dụng vốn Quỹ Khuyến nông của các hộ nông dân, chủ trang trại Hμng năm thường tổ chức từ 2 - 3 cuộc kiểm tra có sự tham gia của Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Tμi chính

- Công tác báo cáo: Trung tâm đã thực hiện tốt chế độ báo cáo tháng, quý, 6 tháng đầu năm, báo cáo năm về kết quả triển khai, quản lý, sử dụng Quỹ Khuyến nông gửi các cấp, các ngμnh của Thμnh phố Trung tâm đã lập báo cáo quyết toán tμi chính

đúng tiến độ thời gian vμ đảm bảo thanh quyết toán các nguồn thu - chi đúng chế độ tμi chính hiện hμnh Hoạt động thu chi của Quỹ Khuyến nông được mở hệ thống sổ sách vμ hạch toán độc lập theo hướng dẫn của Sở Tμi chính vμ Sở Nông nghiệp & PTNT Công tác quản lý vốn, quản lý hồ sơ vay vốn Quỹ Khuyến nông, tμi sản thế chấp của hộ nông dân, chủ trang trại được chặt chẽ theo đúng qui định của nhμ nước

3 - Kết quả giải ngân vốn:

Từ nguồn vốn được cấp ban đầu khi thμnh lập tháng 2/2002 lμ 5 tỷ đồng; hμng năm Quỹ Khuyến nông được Thμnh phố cấp bổ sung, đến tháng 12/2012 Quỹ Khuyến

Trang 26

sung thêm từ nguồn thu phí quản lý Quỹ hμng năm theo tỷ lệ quy định, luỹ kế đến năm

2012 lμ 6,184 tỷ đồng Như vậy đến hết năm 2012, nguồn vốn Quỹ để giải ngân lμ 99,184 tỷ đồng

Trong 10 năm hoạt động (2002-2012) Quỹ đã giải ngân cho 2.079 lượt hộ vay vốn, với số vốn quay vòng lμ 259,425 tỷ đồng

Kết quả giải ngân Quỹ Khuyến nông Thμnh phố cho các hộ nông dân, chủ trang trại vay trong 10 năm (2002-2012) như sau:

Kết quả giải ngân Quỹ khuyến nông thμnh phố từ năm 2002-2012

về số hộ (chiếm 10,34 %) vμ số vốn vay (chiếm 12,0 % số vốn vay); Mô hình vay để sản xuất kinh doanh tổng hợp (VAC) cũng chiếm tỷ lệ thấp (13,90% về số hộ vay vμ chiếm 16,40% về

số vốn vay

4 - Kết quả thu hồi vốn vay:

Để bảo toμn nguồn vốn vay quỹ Khuyến nông Thμnh phố, các hộ vay vốn phải thế chấp tμi sản lμ quyền sử dụng đất ở, nhμ ở đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, giấy chứng nhận quyền sở hữu nhμ ở

Đồng thời phối hợp với UBND xã, phường, các tổ chức chính trị, xã hội ở các

địa phương tham gia quản lý, chỉ đạo hộ nông dân, chủ trang trại vay vốn thực hiện

đúng cam kết đã ký với Trung tâm Khuyến nông

Qua 10 năm triển khai hoạt động của Quỹ Khuyến nông, mặc dù sản xuất nông nghiệp có nhiều thời gian gặp rất nhiều khó khăn về thiên tai, dịch bệnh, giá cả vật tư luôn có chiều hướng tăng cao trong khi giá nông sản bấp bênh, 2 năm gần đây (2011-

Trang 27

2012) do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toμn cầu, nhiều ngμnh nghề có giai đoạn cμng sản xuất cμng bị thua lỗ (đặc biệt lμ ngμnh chăn nuôi) Nhưng do lμm tốt khâu tuyên truyền, kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của các hộ vay vốn, nên tỷ lên

nợ quá hạn của Quỹ Khuyến nông luỹ kế đến thời điểm hiện nay lμ 728,20 triệu đồng (Trong đó: nợ quá hạn từ năm 2008 về trước lμ 98,20 triệu đồng, nợ phát sinh của các

hộ vay vốn năm 2009 – 2012 lμ 630,00 triệu đồng; tổng số vốn nợ quá hạn chiếm 0,734% tổng nguồn vốn để giải ngân của Quỹ); Trong 10 năm qua, Phần lớn các hộ nông dân, chủ trang trại đều trả vốn đúng thời gian quy định, chưa để xảy ra tình trạng mất vốn Trong số 2.079 lượt hộ vay vốn, Quỹ chỉ phải khởi kiện ra toμ án để đòi nợ

đối với 9 hộ cố tình dây dưa không chịu trả nợ

II Hiệu quả sử dụng vốn vay quỹ Khuyến nông Thμnh phố

1 Hiệu quả về mặt kinh tế:

- Vốn vay đã được sử dụng để phát triển mạnh các ngμnh sản xuất, chăn nuôi, thủy sản theo định hướng của Thμnh ủy, UBND Thμnh phố

- Khai thác các tiềm năng về đất đai, lao động, ngμnh nghề, tiềm năng về khoa học kỹ thuật

- Thúc đẩy hình thμnh kinh tế trang trại, khuyến khích tích tụ ruộng đất, đầu tư máy móc, trang thiết bị kỹ thuật

- Góp phần hình thμnh các vùng sản xuất hμng hóa có quy mô lớn, hiệu quả cao: Vùng chăn nuôi lợn nạc, bò sữa, bò thịt, gia cầm, vùng sản xuất rau an toμn, vùng trồng hoa, cây cảnh, vùng nuôi trồng thuỷ sản

- Tạo việc lμm thường xuyên cho hμng nghìn lao động với mức thu nhập từ 2.000.000 đ - 3.000.000đ/người/tháng

- Tạo ra khối lượng sản phẩm hμng hóa lớn cung cấp cho thị trường Hμ Nội, các tỉnh bạn vμ hướng tới xuất khẩu

- Giá trị sản phẩm của các phương án, dự án tăng từ 10 đến 30% so với khi chưa

được vay vốn Quỹ Khuyến nông Thμnh phố Trong 10 năm qua, Quỹ Khuyến nông Thμnh phố đã góp phần tạo ra hμng nghìn tỷ đồng giá trị sản phẩm hμng hoá chất lượng cao

2 Hiệu quả về mặt xã hội:

- Các phương án vay vốn Quỹ Khuyến nông đã tạo ra nhiều mô hình điểm thu hút đông đảo cán bộ Khuyến nông, nhân dân các vùng tới tham quan học tập, trao đổi kinh nghiệm Trong 10 năm qua, đã có nhiều đoμn cán bộ Sở Nông nghiệp & PTNT, Trung tâm Khuyến nông các tỉnh bạn như (Huế, Đμ Nẵng, Thμnh phố HCM, Cần Thơ,

Trang 28

Lâm Đồng, Bình Phước, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng, Lμo Cai ) đến thăm quan, học tập vμ trao đổi kinh nghiệm về công tác triển khai, quản lý Quỹ Khuyến nông; 1.500 lượt nông dân tới tham quan các mô hình vay vốn

đạt hiệu quả kinh tế cao tại Hμ Nội

- Kết quả đáng khích lệ nhất lμ Quỹ Khuyến nông đã góp phần tạo nhiều việc lμm mới, ngμnh nghề mới ở nông thôn

- Hoạt động của Quỹ Khuyến nông với việc cho vay vốn ưu đãi không vì mục tiêu lợi nhuận, số lượng vốn vμ thời gian được vay phù hợp đã góp phần tạo ra hoạt

động tín dụng lμnh mạnh trên địa bμn Thμnh phố, từng bước lμm giảm cho vay nặng lãi ở nông thôn, tạo điều kiện cho các hộ nông dân, chủ trang trại vươn lên phát triển sản xuất hμng hoá chất lượng cao, cải thiện đời sống, phát huy nội lực, lμm giμu ngay trên mảnh đất quê hương mình vμ chủ động hội nhập kinh tế khu vực vμ thế giới

III Bμi học kinh nghiệm

Từ kết quả triển khai công tác quỹ khuyến nông trong những năm vừa qua, Trung tâm Khuyến nông Hμ Nội rút ra một số bμi học kinh nghiệm sau:

- Nắm vững chủ trương, chính sách, của Đảng, pháp luật Nhμ nước, nhiệm vụ, chức năng của đơn vị trong tình hình mới, để nâng cao hiệu quả công tác Khuyến nông

- Tăng cường công tác kiểm tra, quản lý, hướng dẫn, khen thưởng sử lý các sai phạm kịp thời vμ kiên quyết

- Phối hợp tốt với các cơ quan của Trung ương, Thμnh phố, quận, huyện, xã, phường, đặc biệt cơ quan quản lý Nhμ nước các cấp, an ninh kinh tế Quận, Huyện, Thμnh phố, để phòng ngừa các tiêu cực xã hội, liên quan đến việc quản lý, thu hồi, bảo toμn Quỹ Khuyến nông Thμnh phố

- Báo cáo quyết toán công tác thu - chi Quỹ Khuyến nông đầy đủ, kịp thời, chính xác theo quy chế của Thμnh phố

IV Đề xuất vμ kiến nghị

Trang 29

- Nhu cầu vốn vay của hộ nông dân, chủ trang trại rất lớn, đề nghị UBND Thμnh phố hμng năm tiếp tục bổ sung cho nguồn vốn Quỹ Khuyến nông, tạo điều kiện thuận lợi cho hộ nông dân, chủ trang trại đầu tư phát triển sản xuất hμng hoá, ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao, để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp

- Đề nghị các Tỉnh,Thμnh phố nên bố trí ngân sách của tỉnh, thμnh phố để thμnh lập quỹ khuyến nông của địa phương từ đó lμ cơ sở để mở rộng các mô hình khuyến nông hiệu quả, xây dựng vùng sản xuất hμng hóa tập trung

- Đề nghị Bộ Nông nghiệp & PTNT nghiên cứu, đề nghị sửa đổi Nghị định số 02/2010/NĐ-CP, trong đó quy định việc thμnh lập QKN vμ nguồn hình thμnh Quỹ phải

có hỗ trợ từ ngân sách để các tỉnh, thμnh phố thuận lợi trong xây dung quỹ khuyến nông

- Xây dựng văn bản hướng dẫn cụ thể về việc thμnh lập QKN vμ Quy chế tổ chức vμ

hoạt động của Quỹ để các địa phương căn cứ thực hiện thống nhất trong cả nước./

Trang 30

KHUYẾN NÔNG CHUNG TAY XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Nam Định

Nam Định là một trong 11 tỉnh trên cả nước được chọn thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới toàn Quốc tại xã Hải Đường Qua hai năm thực hiện, chương trình nông thôn mới đã nhanh chóng đi vào cuộc sống, trở thành phong trào sâu rộng, được

cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, nhất là người dân ở nông thôn trong tỉnh rất quan tâm, đồng tình ủng hộ và tích cực tham gia Đến nay tỉnh Nam Định đã có có 96 /209

xã và 1 huyện trong tỉnh tham gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2015 Có thể nói xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng lâu dài và là cuộc vận động lớn để cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang sạch đẹp, phát triển sản xuất toàn diện về nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; có nếp sống văn hóa, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo, đời sống vật chất

và tinh thần của người dân được nâng cao Không những vậy, xây dựng nông thôn mới còn giúp cho người dân có niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, trở nên tích cực, giúp đỡ lẫn nhau xây dựng quê hương giàu đẹp, dân chủ, văn minh…

Nhưng thực tế trong quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh cũng gặp rất nhiều khó khăn, vì Nam Định chỉ có diện tích đất tự nhiên là 1.669 km² (đất nông nghiệp chiếm 65% diện tích), mật độ dân số là 1.196 người/km², là một tỉnh thuần nông, với trên 75% dân số làm nông nghiệp, nhưng diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của tỉnh Nam Định rất thấp (550 m2), trong khi bình quân chung của

cả nước là 1.120 m2 nên một số tiêu chí rất khó đạt nhất là các tiêu chí về thu nhập, chuyển đổi cơ cấu lao động, vệ sinh môi trường,… Tuy nhiên, ngành nông nghiệp của tỉnh cũng có lợi thế là tỉnh có 72 km bờ biển, đặc điểm nông hoá thổ nhưỡng tạo cho đất nông nghiệp của tỉnh có khả năng thâm canh cao, nhất là cây lúa và các loại cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày, nuôi trồng và khai thác thủy sản

Xuất phát từ tình hình trên, Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư Nam Định đã cùng toàn dân chung tay xây dựng nông thôn mới bằng những việc làm cụ thể trong

đó có việc tích cực chuyển giao khoa học kỹ thuật tới nông dân bằng nhiều hình thức như: xây dựng mô hình trình diễn, đào tạo tập huấn kỹ thuật và thông tin tuyên truyền,

… để giúp người nông dân phát triển phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững theo hướng hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, sản phẩm nông nghiệp có sức cạnh tranh cao, từ đó góp phần nâng cao thu nhập và cải tạo môi trường nông thôn

Trang 31

Đối với xây dựng mô hình trình diễn, Trung tâm đã tập trung xây dựng các mô hình trình diễn chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giống cây, con mới, kỹ thuật chăm sóc bảo vệ cây trồng, vật nuôi, mô hình cơ giới hóa sản xuất, mô hình sản xuất hàng hóa,… gắn với xây dựng nông thôn mới

Về trồng trọt từ việc thu thập các loại giống lúa trong nước và ngoài nước đưa

về khảo nghiệm, chọn lọc và trình diễn, Trung tâm đã bổ sung vào cơ cấu giống của tỉnh các giống lúa ngắn ngày có năng suất cao, chất lượng tốt, có giá trị hàng hóa cao như: Bắc thơm 7, RVT, ND5, Thái xuyên 111, Dưu 527, Nhị ưu 838,…nhờ đó năng suất lúa của tỉnh Nam Định trong những năm quá luôn đạt trên 120 tạ/ha đồng thời chuyển đổi hẳn cơ cấu mùa vụ Mô hình áp dụng các các biện pháp thâm canh tổng hợp để khai thác tiềm năng của giống như: phương pháp dùng phân bón tổng hợp NPK, phân vi sinh, TBKT gieo mạ che phủ nilon, phương thức gieo mạ nền cấy mạ non,… Toàn tỉnh đã có 90% diện tích cấy áp dụng phương thức mạ nền, nên yên tâm

về mạ, không bị chết rét và không bị già ống khi gặp năm ấm Trên phạm vi toàn tỉnh nhiều mô hình đạt 150-160 tấn/ha/năm trong đó vụ xuân năng suất đạt 85-95 tạ/ha, vụ mùa đạt trên 70 tạ/ha Mô hình cánh đồng mẫu lớn, lợi nhuận tăng 5-6 triệu đồng/ha

Từ 45 mô hình tại 33 xã do Trung tâm phối hợp với các đơn vị trong ngành xây dựng đến nay đã tham mưu cho tỉnh chỉ đạo mở rộng ra 100% số xã trong tỉnh trên cây lúa

và rau màu

Mô hình lạc áp dụng giống mới Trạm dầu 207, Sán dầu 30 và che phủ ni-lon ở

Vụ Bản đã góp phần đưa năng suất lạc của Tỉnh từ 15,8 tạ/ha năm lên 38 tạ/ha năm cao nhất trong cả nước (bình quân toàn quốc là 29 tạ/ha) Mô hình Khoai tây xuất khẩu giống Diamant của Hà Lan, Solara của Đức, cho năng suất khá ổn định 180 tạ/ha, lợi nhuận cao nhất trong nhóm cây trồng vụ đông, đạt 90 - 100 triệu đồng/ha, gấp 4,1 lần so với cấy lúa vụ mùa cùng trong năm và diện tích vụ đông hằng năm đều đạt 3.000ha Cùng với cây khoai tây ở vùng đất màu, đất 2 vụ lúa với cơ giới nặng (đất thịt nặng), thực hiện chương trình phát triển rau quả hàng hoá xuất khẩu, Trung tâm đã xác định được giống cà chua TN005, TN052, Savier, TN060, Thuý Hồng, TH42, TH44,… có nhiều ưu điểm cho năng suất cao 40-60 tấn/ha độ Brix 4,5-7%, vỏ quả cứng, chống chịu tốt đã chiếm 90% diện tích toàn tỉnh, đủ tiêu chuẩn chế biến và xuất khẩu Các cây cải dầu, dưa hấu, sản xuất rau theo tiêu chuẩn VietGAP,… cũng được khuyến nông đưa vào xây dựng mô hình hiệu quả cao để nhân ra diện Đặc biệt

mô hình bí xanh đông kỹ thuật đơn giản, đầu tư thấp, hiệu quả kinh tế cao trên chân đất 2 lúa năng suất đạt 30- 40 tấn quả/ha và cho thu nhập 40- 60 triệu đồng/ha/vụ đã

và đang nhân rộng ở hầu hết các địa phương Ngoài ra Trung tâm còn đưa ra các quy trình, công thức luân canh phù hợp với từng địa phương đã mang lại hiệu quả kinh tế cao,…

Trang 32

Về chăn nuôi ngoài việc xây dựng mô hình chuyển giao các tiến bộ về giống,

tiến bộ về thức ăn, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng, công nghệ chuồng kín, …Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư còn xây dựng các mô hình chuyển giao kỹ thuật chăn nuôi

an toàn sinh học, chăn nuôi theo tiêu chuẩn VietGAHP đã giúp người nông dân thay đổi tập quán chăn nuôi từ chăn nuôi nhỏ lẻ quảng canh, năng suất chất lượng thấp, nguy cơ dịch bệnh cao chuyển sang chăn nuôi tập trung, trang trại, sử dụng đệm lót sinh thái, an toàn dịch bệnh, tạo ra sản phẩm sạch, chất lượng cao cung cấp cho người tiêu dùng và xuất khẩu Điển hình là các mô hình: Nuôi gà thả vườn an toàn sinh học với giống nhập nội : Tam hoàng, Hoa lương phượng, kabir, … nuôi 10 tuần tuổi trọng lượng đạt ≥ 2kg/con, chi phí thức ăn ≤ 2,7 kg/kg tăng trọng, năng suất cao hơn hẳn giống gà nội (gà

ri 10 tuần tuổi P≤ 1,2 kg/con) Mô hình chăn nuôi gà, lợn trang trại theo quy trình VietGAHP đã cho thu nhập tăng hơn đại trà từ 3.000-5.000 đồng/con gà, 200.000-300.000 đồng/con lợn, tạo ra sản phẩm sạch và đảm bảo vệ sinh môi trường Mô hình chăn nuôi lợn sinh sản hướng nạc ĐBVSMT áp dụng các tiến bộ kỹ thuật mới trong chăn nuôi như: công nghệ chuồng kín, quy trình cai sữa sớm cho lợn con, tiếp tục được phổ biến, nhân rộng, thông qua các chương trình, dự án được triển khai đã giúp người chăn nuôi nâng cao năng suất, giảm chi phí, tăng thu nhập Mô hình Cải tạo đàn

bò bằng phương pháp phối giống trực tiếp và thụ tinh nhân tạo cùng với kỹ thuật chăm sọc nuôi dưỡng đã tạo ra bò lai Sind trọng lượng tăng từ 30-40%, tỷ lệ thịt xẻ tăng từ 10-15% so với bò vàng địa phương cũng được nhân rộng trên toàn tỉnh

Về khuyến ngư cũng được tăng cường áp dụng các tiến bộ mới vào sản xuất cả

trong nuôi trồng và đánh bắt thủy sản Từ những mô hình nuôi cá bống bớp vùng nước

lợ đã tạo ra vùng nuôi lớn Nghĩa Hưng, Giao Thuỷ… cho thu nhập 300 trăm triệu đồng trên một ha/năm, khá bền vững Nuôi tôm thẻ chân trắng cho hiệu quả 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng/ha/năm Mô hình các đối tượng mới như: cá chim biển vây vàng,

cá song, cá Hồng mỹ có sức thuyết phục cao và đang được nhân rộng Để phá thế chỉ chuyên nuôi cá truyền thống ở vùng nước ngọt, Trung tâm đã xây dựng và nhân rộng các mô hình nuôi cá diêu hồng, nuôi cá lóc bông, cá rô đồng, cá rô đầu vuông, cá trắm đen… hiệu quả kinh tế cũng đạt hàng trăm triệu đồng/ha/năm, cao gấp nhiều lần nuôi

cá truyền thống Từ mô hình nuôi hiệu quả, Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư đã xây dựng các mô hình sinh sản nhân tạo cá giống thủy sản quý hiếm, chất lượng cao

để cung cấp cho người nuôi con giống tốt, sạch bệnh, phù hợp với môi trường nuôi của địa phương Đặc biệt trong khai thác hải sản, đã xây dựng mô hình đánh bắt bằng lưới rê, lưới rê nhiều tầng thay cho kéo giã, tiết kiệm nhiên liệu, phù hợp với tàu xa

bờ Đánh bắt bằng lưới rê, lưới rê nhiều tầng còn bắt được nhiều cá, nhất là các loại cá giá trị ở tầng đáy sâu hàng trăm mét (thu, nhụ, đé, dưa…)

Trang 33

Về khuyến công, Trung tâm Khuyến nông-Khuyến ngư đã xây dựng các mô

hình cơ giới hóa đồng hộ Mô hình máy làm đất đa năng loại trung từ 24-45 HP thay thế máy công suất nhỏ dưới 18 HP đã làm tăng năng suất và chất lượng làm đất Mô hình sạ hàng thay cho cấy lúa truyền thống đã giảm 60% công lao động nặng nhọc, tiết kiệm được lúa giống, năng suất tăng 10-15% hiện nay toàn tỉnh phương thức sạ hàng đã chiếm 15% diện tích cấy lúa Mô hình máy gặt đập liên hợp đã tăng năng suất lao động, giảm rơi vãi dưới 3%, giảm chi phí,… so với gặt thủ công truyền thống Góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn

Đối với công tác huấn luyện đào tạo và thông tin tuyên truyền, Trung tâm đã

có nhiều đổi mới Ngoài việc tập huấn với thời lượng 1 ngày, Trung tâm đã tổ chức các lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956 của Thủ tướng Chính phủ, mỗi lớp có thời gian tập huấn từ 2-3 tháng Năm 2010, cùng với sự quan tâm của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, Trung tâm đã tổ chức được 3 lớp đào tạo nghề cho 100 nông dân tại xã điểm nông thôn mới toàn quốc Hải Đường, đồng thời phối hợp với Trạm khuyến nông các huyện

tổ chức được hàng trăm lớp tập huấn tập huấn Tại các lớp tập huấn, phương pháp thuyết trình một chiều đã được chuyển sang phương pháp tập huấn có sự tham gia của học viên Trong những năm gần đây, công tác tập huấn cho bà con nông dân trên địa bàn tỉnh được thực hiện hướng đến nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa nhằm tạo ra sản phẩm chất lượng và an toàn như: Các lớp tập huấn sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP trên cây ăn quả, trên cây rau màu, chăn nuôi lợn, gà an toàn sinh học, nuôi trồng thủy sản,… Nhờ vậy, trình độ thâm canh của nông dân được nâng cao, họ đã biết áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và sản xuất sản phẩm theo nhu cầu thị trường

Ngoài các công việc trên Trung tâm còn phối hợp với Đài phát thanh Truyền hình tỉnh xây dựng chuyên mục: Nhà nông cần biết để tuyên truyền kỹ thuật và tuyên truyền nâng cao nhận thức, giúp nông dân hiểu rõ, hiểu đúng về mục đích, ý nghĩa của chương trình và tự giác thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của địa phương về xây dựng NTM Đặc biệt cán bộ khuyến nông còn thường xuyên viết bài trên trang web của Sở Nông nghiệp & PTNT và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia

Thông qua công tác khuyến nông đến nay tỉnh Nam Định đã hình thành những vùng sản xuất hàng hóa tập trung như: Vùng lúa chất lượng cao tại các huyện hải Hậu, Xuân Trường, Nghĩa Hưng, Giao Thủy, Trực Ninh; vùng sản xuất cà chua Hải Hậu, Nghĩa Hưng; vùng rau Nam Trực, Hải Hậu, Ý Yên; vùng sản xuất khoai tây và lạc ở Nam Trực, Vụ Bản, Ý Yên; vùng hoa và cây cảnh ở Nam Trực, Hải Hậu, thành phố Nam Định; vùng sản xuât ngao ở Giao Thủy, Nghĩa Hưng; vùng nuôi tôm ở Hải Hậu,

Trang 34

Giao Thủy, chăn nuôi gà trang trại ở Vụ bản, Nghĩa Hưng, chăn nuôi lợn ở Xuân Trường, Hải Hậu,…Từ đó đã thực sự góp phần tăng thu nhập cho nông dân và cải tạo môi trường ở nông thôn, thúc đẩy cơ giới hóa trong nông nghiệp, phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và bền vững Trong thời gian tới Trung tâm sẽ không ngừng đổi mới hoạt động, cùng với các cấp các ngành trong tỉnh giúp cho các xã hoàn thành 19 tiêu chí, góp phần để tỉnh Nam Định thực hiện thắng lợi chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới

Trang 35

Khuyến nông tham gia chương trình đμo tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn theo

quyết định 1956 của chính phủ

Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Nghệ An

Nghệ An lμ một tỉnh thuộc Bắc Trung bộ với tổng diện tích tự nhiên 16.483,7

km2, dân số 3,11 triệu người, trong đó lao động trong độ tuổi lao động > 1,2 triệu người chiếm gần 40%

Trung tâm khuyến nông Nghệ An lμ đơn vị hμnh chính công lập trực thuộc Sở nông nghiệp vμ PTNT Tổ chức bộ máy, chức năng nhiệm vụ, quyền hạn được quy

định theo Quyết định 5918/QĐ.UBND ngμy 30/12/2011 của UBND tỉnh Nghệ An Cụ thể về tổ chức bao gồm Văn phòng Trung tâm khuyến nông, Trạm thực nghiệm chuyển giao TBKHKT Mường Lống, Kỳ Sơn vμ 20 Trạm khuyến nông huyện, thμnh, thị xã Về chức năng nhiệm vụ ngoμi chức năng nhiệm vụ chính được quy định theo Nghị định 02 thì Trung tâm khuyến nông được bổ sung thêm nhiệm vụ mới đó lμ đμo tạo nghề vμ cấp giấy chứng nhận nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn

I Quá trình tham gia nhiệm vụ đμo tạo nghề cho lao động nông thôn

Sau khi nghiên cứu "Đề án đμo tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020" theo Quyết định 1956/TTg ngμy 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ, Quyết

định 3846/QĐ.UBND ngμy 30/8/2010 của UBND tỉnh Nghệ An về việc phê duyệt đề

án đμo tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 vμ các văn bản hướng dẫn thực hiện Trung tâm khuyến nông có thể khẳng định: có đủ năng lực, điều kiện cần thiết để tiến hμnh các thủ tục trình các cơ quan có thẩm quyền cho phép đăng ký vμ trở thμnh cơ sở dạy nghề cho lao động nông thôn tại Nghệ An

Trung tâm đã xác định đμo tạo nghề nông nghiệp cho LĐNT lμ chương trình mục tiêu Quốc gia có vai trò ý nghĩa hết sức quan trọng đối với lao động nông thôn, giúp họ có được cơ hội được chọn vμ học nghề nông nghiệp ngay tại địa phương phù hợp với sức khỏe, trình độ, năng lực vμ điều kiện sản xuất của mình, giúp cho họ có thêm kiến thức, kỹ năng trong sản xuất nông nghiệp, từ đó góp phần từng bước chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển sản xuất, tăng thu nhập vμ hiệu quả kinh tế

Vμ để đến được với công tác đμo tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn, Trung tâm khuyến nông đã phải tiến hμnh:

Trang 36

- Bước 1: Xây dựng đề án trình Sở nông nghiệp vμ PTNT, UBND tỉnh bổ sung chức năng nhiệm vụ dạy nghề cho lao động nông thôn

- Bước 2: Lμm việc với Sở lao động Thương binh vμ XH để báo cáo về thực trạng, năng lực của Trung tâm vμ xin hướng dẫn lập hồ sơ xin cấp phép đμo tạo nghề nông nghiệp Ngμy 20/9/2011, sở Lao động Thương binh vμ xã hội cấp " Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động dạy nghề, số 556/GCNĐKDN Trung tâm khuyến nông Nghệ

An chính thức trở thμnh cơ sở đμo tạo nghề nông nghiệp vμ cấp giấy chứng nhận nghề cho lao động nông thôn của tỉnh Nghệ An

Hiện nay toμn tỉnh Nghệ An có 62 cơ sở đμo tạo nghề cho LĐNT (37 cơ sở dạy nghề công lập, 25 cơ sở ngoμi công lập) thì có 48 cơ sở đμo tạo nghề theo Quyết định 1956/TTg Trong đó Trung tâm khuyến nông Nghệ An lμ 1 trong 48 cơ sở có chức năng đμo tạo nghề cho lao động nông thôn tại Nghệ An

II Kết quả đμo tạo nghề sau 2 năm thực hiện (2011-2012)

1 Đăng ký thủ tục cấp phép

Năm 2011, Trung tâm đã tiến hμnh thực hiện đầy đủ các thủ tục, đảm bảo các

điều kiện cần thiết theo hướng dẫn số 72/BLĐTBXH để Sở Lao động Thương binh vμ

XH cấp phép với 11 nghề (Trồng trọt 6 nghề, Chăn nuôi 3 nghề, Lâm nghiệp 1 nghề vμ Thuỷ sản 1 nghề) Năm 2012 xin cấp phép bổ sung thêm 8 nghề mới, nâng tổng số nghề nông nghiệp được cấp phép lên 19 nghề

2 Xây dựng biên soạn tμi liệu

Dựa trên chương trình khung, nội dung 101 nghề do Bộ nông nghiệp vμ PTNT ban hμnh Trung tâm lựa chọn những nghề phù hợp với nhu cầu người học nghề vμ tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh để hiệu chỉnh, biên soạn vμ ban hμnh tμi liệu giảng dạy Hiện nay Trung tâm đã biên soạn, hiệu chỉnh được 19 nội dung (bộ tμi liệu) dạy nghề (theo cấp phép của Sở LĐ TB XH) để sử dụng, phục vụ cho đμo tạo nghề Tμi liệu dạy nghề bao gồm: chương trình đμo tạo, tμi liệu dμnh cho giáo viên, tμi liệu dμnh cho học viên, phân tích công việc, kỹ năng, Chương trình nghề được xây dựng thời gian bình quân từ 1-2, 5 tháng/ nghề (tính theo ngμy thực dạy) Ngoμi ra TTKN Nghệ

An cũng tham khảo vμ sử dụng bộ tμi liệu chương trình đμo tạo nghề do Bộ NN&PTNT ban hμnh (theo hướng dẫn của Trung tâm KNQG) để giảng dạy, truyền nghề cho nông dân

3 Về đội ngũ giáo viên

Trung tâm có 216 cán bộ: gồm 9 Thạc sĩ, 186 cán bộ có trình độ Đại học, Cao

đẳng, 21 cán bộ trình độ Trung cấp vμ nhân viên kỹ thuật có đủ năng lực trình độ vμ kinh nghiệm trong lĩnh vực tập huấn chuyển giao các tiến bộ KHKT nói chung vμ ít

Trang 37

nhiều trong lĩnh vực đμo tạo nghề nói riêng Căn cứ Thông tư 30/2010/TT-BLĐTBXH ngμy 29/9/2010 của Bộ Lao động Thương binh vμ Xã hội về việc quy định chuẩn giáo viên, giảng viên dạy nghề, đến nay Trung tâm đã chuẩn hóa cho 117 cán bộ đạt 54,1%

được đμo tạo nghiệp vụ sư phạm nghề, kỹ năng dạy nghề (trong đó: 52 người có nghiệp vụ sư phạm dạy nghề, 65 người có kỹ năng dạy nghề) Từ nguồn nhân lực hiện

có, Trung tâm còn hợp đồng thêm cán bộ có đủ điều kiện của các cơ quan chuyên môn thuộc ngμnh nông nghiệp để đáp ứng nguồn nhân lực cho dạy các lớp nghề, bình quân 2-3 giáo viên/ 01 lớp Năm 2012 được sự hỗ trợ của Trung tâm KNQG, TTKN Nghệ

An đã được đμo tạo thêm 30 cán bộ khuyến nông có chứng chỉ sư phạm dạy nghề để trực tiếp giảng dạy các lớp đμo tạo nghề tại địa phương

4 Kết quả đμo tạo nghề

+ Năm 2011: Theo Quyết định 817/QĐ.UBND ngμy 21/3/2011 của UBND tỉnh Nghệ An về việc giao chỉ tiêu dạy nghề cho lao động nông thôn năm 2011, kinh phí 4

tỷ đồng Trung tâm đã thực hiện đμo tạo nghề ở 13 đơn vị huyện, thμnh trên địa bμn tỉnh với 9 nghề, 49 lớp, 1.415 học viên tham gia của Kết quả có 1.287/1.415 học viên (828 nữ) được cấp chứng chỉ, đạt 90,8% Kinh phí hết 2,6 tỷ đồng

+ Năm 2012: Tổng kinh phí dạy nghề lμ 2,9 tỷ (1,4 tỷ đồng từ năm 2011 chuyển sang) vμ đμo tạo được 55 lớp, 9 nghề, 1.739 học viên ở 18 đơn vị huyện, thμnh trên địa bμn tỉnh Kết quả có 1.592/1.739 học viên được cấp chứng chỉ, đạt 91,5%

Như vậy, tính cho cả 2 năm (2011-2012) Trung tâm khuyến nông đã tiến hμnh

đμo tạo nghề với 10 nghề, 104 lớp, 3.154 học viên ở 19 đơn vị huyện thμnh, thị tham gia (trong đó năm 2011: 49 lớp, 9 nghề, 1.415 học viên, năm 2012: 55 lớp, 9 nghề, 1.739 học viên) Số học viên được cấp giấy chứng nhận nghề nông nghiệp lμ 2879/3154 đạt 91,28% Kinh phí sử dụng lμ 5,5 tỷ đồng

Kết quả công tác dạy nghề bước đầu đánh giá cơ bản như sau:

- Về tiến độ đ o tạo: Các lớp nghề đều được đμo tạo theo đúng kế hoạch xây dựng ban đầu Các lớp đều có thời khóa biểu, lịch dạy hμng ngμy hμng tuần để đảm bảo thực hiện theo đúng tiến độ vμ yêu cầu đề ra

- Về công tác tổ chức, quản lý lớp học: Mỗi lớp dạy nghề đều có cán bộ quản lý,

tổ chức lớp học phụ trách Có quy định rõ nội quy cho từng lớp học Trong quá trình giảng dạy đều có sự chuẩn bị đầy đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy vμ học cụ thực hμnh Công tác theo dõi quản lý học viên lên lớp, cập nhât, ghi chép sổ sách cũng được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc đúng nội quy, quy định của lớp học

Trang 38

- Về chất lượng giáo viên: Các lớp dạy nghề được bố trí giáo viên có đủ năng lực, trình độ, kinh nghiệm vμ biết kết hợp hμi hoμ giữa nhiều phương pháp kỹ năng với trực quan sinh động, để thu hút sự chú ý vμ tạo hứng thú cho học viên khi học

- Về nội dung vμ phương pháp giảng dạy: Nội dung nghề được xuất phát từ nhu cầu, mong đợi người học nên ngay từ đầu đã lôi cuốn, hấp dẫn người học Trong quá trình giảng dạy, nội dung thực hμnh luôn được chú trọng, nhất lμ việc rèn luyện kỹ năng tay nghề cho học viên Học nội dung, kỹ năng nμo thì hiểu ngay vμ thμnh thạo kỹ năng đó mới chuyển sang nội dung, kỹ năng khác

- Về khả năng tham gia, tiếp thu vμ thực h nh của học viên: Các học viên học

nghề nông nghiệp đều có thái độ học tập nghiêm túc, đi học đầy đủ chuyên cần, chú ý nghe giảng, tiếp thu bμi tốt, ghi chép bμi đầy đủ cẩn thận, thảo luận trao đổi bμi sôi nổi Trong các giờ thực hμnh, 100% học viên đều tham gia trực tiếp lμm theo giáo viên thực hμnh Học nội dung nμo thμnh thạo kỹ năng đó mới chuyển sang nội dung tiếp theo

- Về hiệu quả sau đμo tạo: 85-90% học viên áp dụng được ngay kiến thức lý thuyết vμ thực hμnh vμo thực tế sản xuất 70-80% học viên sau học nghề đã áp dụng ngay chính nghề được học vμ cho hiệu quả kinh tế

5 Về cơ chế chính sách của tỉnh hỗ trợ cho công tác đμo tạo nghề nông nghiệp

- Cơ chế chính sách cho mở lớp đμo tạo nghề vμ chế độ đối tượng hưởng lợi thực hiện theo Quyết định 76/2010/QĐ-UBND ngμy 08/10/2010 về việc ban hμnh danh mục, mức chi đμo tạo nghề trình độ sơ cấp nghề dưới 03 tháng cho lao động nông thôn, người nghèo trên địa bμn tỉnh

- Cơ chế chính sách cho người học nghề nông nghiệp sau đμo tạo nghề: Tỉnh vμ

địa phương chưa có cơ chế chính sách cụ thể nμo

III Một số khó khăn, tồn tại

Đμo tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn Nghệ An bước đầu đã đạt

được nhiều kết quả thμnh công nhất định, nhưng trong quá trình thực hiện đã gặp không ít khó khăn:

1 Chính sách đầu tư hỗ trợ cho công tác dạy nghề LĐNT theo 1956/TTg cho các đối tượng tham gia học nghề quá thấp nên khó khăn cho các cơ sở dạy nghề vμ thực sự chưa thu hút được mọi lao động nông thôn tham gia học nghề

2 Chính quyền các cấp vμ các ban ngμnh chưa thực sự quan tâm đúng mức cho công tác đμo tạo nghề nông nghiệp, nhất lμ trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, quy hoạch, định hướng nghề đμo tạo phù hợp với tình hình sản xuất, điều kiện kinh tế

Trang 39

của địa phương Chưa có cơ chế chính sách cụ thể để tạo điều kiện hỗ trợ người học trước vμ sau khi học nghề

3 Học viên tham gia học nghề thường nhiều độ tuổi, trình độ, đối tượng hưởng lợi hoặc học viên của nhiều xã trong cùng một lớp nên khó khăn cho công tác quản lý,

tổ chức lớp học vμ phương pháp giảng dạy Đồng thời thời gian đμo tạo thường gián

đoạn thay đổi so với kế hoạch xây dựng ban đầu do mùa mμng, thời tiết khí hậu vμ tính chất văn hóa, đặc thù của địa phương

4 Chưa có sự quan tâm đúng mức vμ vμo cuộc có hiệu quả của các doanh nghiệp, công ty, nhμ máy, trong việc hỗ trợ đμo tạo, bao tiêu sản phẩm đầu ra cho người sau khi học nghề

5 Tμi liệu phục vụ đμo tạo nghề LĐNT dựa trên chương trình vμ tμi liệu chuẩn

do Bộ Nông nghiệp vμ PTNT ban hμnh, nhưng nội dung nghề chưa nhiều để lựa chọn

vμ sát với thực tế đμo tạo

IV Bμi học kinh nghiệm

Qua đμo tạo nghề cho LĐNT đã rút ra một số bμi học kinh nghiệm sau:

1 Nhất thiết phải phối hợp chặt chẽ với các phòng, Ban, ngμnh cấp tỉnh, huyện,

đặc biệt lμ UBND các xã vμ đội ngũ cán bộ khuyến nông cơ sở để thực hiện tốt công tác tuyên truyền cơ chế, chính sách vμ quyền lợi về học nghề Tư vấn vμ giúp đỡ người học lựa chọn nghề phù hợp với trình độ, năng lực vμ điều kiện sản xuất của họ

2 Để chủ động cho công tác dạy nghề, nhất lμ đối với các nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp cần phải xây dựng vμ phê duyệt kế hoạch sớm để triển khai đμo tạo phù hợp với thời vụ của từng cây trồng, vật nuôi (2 năm vừa qua lμ rất chậm)

3 Đμo tạo nghề phải xuất phát từ nhu cầu thực sự của người học, gắn với nhu cầu ngμnh nghề từng vùng, từng địa phương, lμng nghề, nghề truyền thống hoặc doanh nghiệp để tạo điều kiện cơ hội việc lμm, thu nhập cho người học sau học nghề

4 Thực hiện tốt công tác tuyển sinh, phân lớp, phân loại đối tượng, lựa chọn nội dung vμ xác định địa điểm đμo tạo hợp lý Nâng cao chất lượng tμi liệu, chuẩn bị đầy

đủ về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy vμ học Chú trọng nội dung thực hμnh để rèn luyện kỹ năng cho học viên 100% người học phải trực tiếp thực hμnh vμ thμnh thạo kỹ năng sau khoá học

5 Đội ngũ giáo viên phải được chuẩn hoá, có nghiệp vụ sư phạm, kỹ năng dạy nghề, có đủ năng lực, trình độ vμ kinh nghiệm trong công tác đμo tạo nghề

Trang 40

6 Tổ chức vμ quản lý tốt các lớp học, phải linh hoạt theo đặc thù từng ngμnh nghề vμ thực tế sản xuất Ghi chép hồ sơ phải được cập nhật kịp thời Thường xuyên kiểm tra vμ giám sát chặt chẽ các lớp đμo tạo nghề

V Một số kiến nghị

1 Nghiên cứu xem xét để điều chỉnh cho hợp lý đối với chính sách theo Quyết

định 1956/TTg nhằm hỗ trợ tích cực hơn cho các cơ sở dạy nghề, tăng kinh phí đμo tạo, hỗ trợ đối với các nhóm đối tượng vμ người học nghề nhằm tạo điều kiện thu hút, khuyến khích nhiều lao động nông thôn tham gia

2 Cần sớm có hướng dẫn mới, giao phần đμo tạo nghề cho lao động nông thôn lĩnh vực nông nghiệp về Sở Nông nghiệp vμ PTNT quản lý theo tinh thần chỉ đạo của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân

3 Bộ Nông nghiệp & PTNT cần chỉ đạo các Sở nông nghiệp Thμnh lập Ban chỉ

đạo dạy nghề cho lao động nông thôn để quản lý, chỉ đạo vμ hướng dẫn chung các đơn

vị thực hiện đμo tạo nghề nông nghiệp được đồng bộ, cụ thể chi tiết hơn

4 Bộ Nông nghiệp & PTNT cần khâu nối vμ chỉ đạo các tổng công ty, doanh nghiệp, nhμ máy, tham gia tích cực vμ thể hiện rõ trách nhiệm trong việc hỗ trợ công tác đμo tạo nghề nông nghiệp vμ bao tiêu sản phẩm cho người học nghề sau khi học

5 Kế hoạch đμo tạo nghề vμ kinh phí cần được phân bố vμ phê duyệt hμng năm sớm để đáp ứng đμo tạo nghề phù hợp với thời vụ, giai đoạn sinh trưởng cây, con Mặt khác giảm tải thủ tục hồ sơ, nhất lμ đối với dạy nghề thường xuyên (dưới 3 tháng)

6 Hỗ trợ, đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các đơn vị dạy nghề, đặc biệt

lμ các Trung tâm mới được bổ sung chức năng nhiệm vụ đμo tạo nghề cho LĐNT

Sau 2 năm tham gia công tác dạy nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn

theo Quyết định 1956/TTg của Thủ tướng Chính phủ bước đầu đã khẳng định được hiệu quả vμ thμnh công của Đề án nμy Việc phát triển đμo tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn đang lμ hướng đi hoμn toμn đúng đắn, phù hợp với tâm tư nguyện vọng vμ nhu cầu của lao động lμm nông nghiệp hiện nay Giúp lao động nông nghiệp

có thêm cơ hội học nghề, nâng cao năng lực, kỹ năng tay nghề, từ đó tạo thêm việc lμm, tăng thu nhập kinh tế trên một đơn vị diện tích, chuồng nuôi Tuy nhiên, Nhμ nước cần quan tâm nhiều hơn nữa về cơ chế chính sách, đặc biệt lμ cơ chế chính sách cho người sau học nghề để hỗ trợ họ duy trì, phát triển nghề sau học, nhằm đảm bảo

được tính hiệu quả vμ bền vững trong việc đμo tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn./

Mễ HèNH “CÁNH ĐỒNG MẪU LỚN” CỦA TỈNH SểC TRĂNG

Ngày đăng: 24/09/2021, 17:09

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

4- Kết quả thu hồi vốn vay: - BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG 20 NĂM (1993- 2013) VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 CỦA HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
4 Kết quả thu hồi vốn vay: (Trang 26)
4 Nông thôn vμ mô hình - BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG 20 NĂM (1993- 2013) VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 CỦA HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
4 Nông thôn vμ mô hình (Trang 26)
Bảng 1: Diễn biến qua cỏc vụ lỳa - BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG 20 NĂM (1993- 2013) VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 CỦA HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
Bảng 1 Diễn biến qua cỏc vụ lỳa (Trang 42)
Bảng 3: Vụ Đụng xuõn 2011-2012 T - BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG 20 NĂM (1993- 2013) VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 CỦA HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
Bảng 3 Vụ Đụng xuõn 2011-2012 T (Trang 43)
Qua bảng trờn cho thấy: - BÁO CÁO TỔNG KẾT HOẠT ĐỘNG 20 NĂM (1993- 2013) VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN ĐẾN NĂM 2020 CỦA HỆ THỐNG KHUYẾN NÔNG VIỆT NAM
ua bảng trờn cho thấy: (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w