1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM

57 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách trồng - Đặt cây vào đúng tâm hố; tháo bỏ túi bầu, bao nilon, lưu ý hạn chế việc vỡ bầu, mặt bầu ngang so với mặt đất sàn, những vị trí dốc thì đặt ngang so với phía dưới của mặt đấ

Trang 1

QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM

(Ban hành kèm theo Quyết định số: 755 /QĐ-SNN, ngày 02 tháng 12

năm 2020 của Sở Nông nghiệp & PTNT Hòa Bình )

I Kỹ thuật trồng mới và chăm sóc giai đoạn kiến thiết cơ bản

1.Kỹ thuật trồng

1.1 Tuyển chọn cây giống

- Cam là cây trồng lâu năm, yêu cầu đầu tư thâm canh lớn, sau trồng từ 3-4 năm mới cho thu hoạch, do đó việc chọn cây giống để trồng là rất quan trọng, ảnh

hưởng rất lớn tới hiệu quả đầu tư, có thể nói đây là yêu cầu số một

- Giống đảm bảo không mang mầm bệnh vàng lá Greening và bệnh Tristeza, độ thuần cao, sinh trưởng phát triển tốt, chiều cao cây tính từ mắt ghép trở lên tối thiểu là 30cm, đường kính gốc ghép đo cách mặt bầu 10cm đạt 0,8-1cm, đường kính thân cây đo trên mắt ghép 2cm đạt trên 0,6cm trở lên, mắt ghép tiếp hợp tốt với gốc ghép, đã liền sẹo và không có hiện tượng bong tróc Cây giống đảm bảo theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9302:2013 Cây giống cam, quýt, bưởi - Tiêu chuẩn kỹ thuật

- Hiện nay có nhiều loại giống cam khác nhau để bố trí dải vụ, kéo dài thời gian thu hoạch như:

Giống chín sớm: Cam CS1; cam BH (Marrs), cam CT36, cam Navel; thời gian thu hoạch từ cuối tháng 10 đến tháng 12 hàng năm;

Giống chính vụ: Cam Xã Đoài, cam Sông Con; thời gian thu hoạch từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau;

Giống chín muộn: Cam V2 thu hoạch từ tháng 2 đến tháng 4 năm sau

1.2 Chọn đất, làm đất, thiết kế lô thửa và mật độ trồng

- Chọn đất có tầng đất mặt sâu trên 1m, độ pH thích hợp là 5,5- 6,5; tưới tiêu thuận lợi, không bị úng ngập, có độ dốc < 15o, nếu độ dốc lớn hơn thì phải san ủi bậc thang có bề mặt rộng từ 4m trở lên theo đường đồng mức Khu đất trồng có đường giao thông, đường phân lô thuận lợi cho việc vận chuyển vật tư

và sản phẩm

- Đất được cày, bừa kỹ, tơi xốp

- Mật độ trồng: Tuỳ theo từng giống và vị trí đất trồng để bố trí mật độ cho hợp lý; mật độ trồng phổ biến hiện nay: 4x5m hoặc 5x5m (400cây/ha đến 500 cây/ha)

1.3 Đào hố, bón lót

- Hố được đào với quy cách tối thiểu rộng 80cm, sâu 70cm Khi đào lớp đất mặt được để riêng sang một phía sau này trộn với phân chuồng đưa xuống hố

- Lượng phân bón cho từng hố như sau:

+ Phân chuồng hoai mục 40-60 kg/hố

+ Phân lân Văn Điển 1,5-2kg/hố

Trang 2

+ Phân kali 0,5kg/hố

+ Vôi bột khoảng 0,5kg/hố tuỳ độ pH đất Vôi bột được xử lý trên toàn bộ diện tích và xung quanh thành hố

- Phân hữu cơ được trộn đều với lớp đất mặt, với phân lân và kali sau đó

đưa xuống hố lấp kín phân

* Lưu ý: Sau khi xuống phân ít nhất 1 tháng mới tiến hành trồng

1.4 Thời vụ trồng

- Thời vụ trồng tốt nhất tháng 3,4 hoặc tháng 8, 9 Khi thời tiết đang có

mưa hoặc vừa tạnh mưa thì không được trồng cây, đất quá nhão cũng không nên

trồng, đợi cho đất tơi xốp trở lại tiến hành trồng là tốt nhất

1.5 Cách trồng

- Đặt cây vào đúng tâm hố; tháo bỏ túi bầu, bao nilon, lưu ý hạn chế việc vỡ

bầu, mặt bầu ngang so với mặt đất sàn, những vị trí dốc thì đặt ngang so với phía

dưới của mặt đất, riêng những khu vực đất thấp, trũng, hay bị ngập úng vào mùa

mưa thì phải làm bầu cao và trồng cây nổi hẳn lên so mặt đất sàn khoảng 20-30cm

- Khi trồng cần đặt hướng mắt ghép ngược với hướng gió chính, ngắm cây

cho thẳng hàng rồi vun dần đất nhỏ xuống trước, ấn chặt đất xung quanh bầu để

cây đứng thẳng và tiếp xúc với nước Lấy cọc cắm buộc vào thân chính để hạn

chế bị mưa, gió to làm lay gốc, bầu cây, sau đó tưới nước cho cây

1.6 Chăm sóc sau trồng

Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, chắc chắn, bầu có đường

kính khoảng 1m, cao hơn so với mặt đất trong bầu từ 10-15cm để giữ nước Tưới

nước và tủ gốc bằng rơm rạ, cỏ khô để giữ ẩm giúp cây nhanh chóng phục hồi,

bén rễ (tủ gốc cách xa gốc cây từ 25-30cm) Khi cây sinh trưởng bình thường thì

mới tiến hành bón thúc phân đạm (bón khi đất ẩm hoặc tranh thủ khi có mưa) với

lượng nhỏ khoảng 30-50 gam/cây, cần bón cách xa gốc, không được bón quá sát

gốc sẽ làm chết cây; có thể hòa phân ra nước tưới cho cây

2 Kỹ thuật chăm sóc thời kỳ kiến thiết cơ bản

2.1 Bón phân

* Lượng phân bón hàng năm cho một cây thời kỳ KTCB như sau:

Stt Loại phân &

lượng bón

(kg/cây)

Tuổi cây Ghi chú

1 năm sau trồng

2 năm sau trồng

3 – 4 năm sau trồng

3 Supe lân, hoặc

lân nung chẩy

0,5 0,5-1,0 1,0-1,5

4 Hữu chuồng hoai 30-35 40-50 50-60

Trang 3

mục, hoặc phân

hữu cơ qua xử lý

mà bón nhiều hay ít

Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 4-6 kg/cây, lượng phân tăng theo tuổi cây và tuỳ theo đất Với lượng phân đơn đạm, lân, kali nêu trên, cần tính toán quy đổi nếu sử dụng sang phân hỗn hợp NPK để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây

Ngoài ra cần bổ sung thêm các loại phân vi lượng qua lá cho cây

* Thời gian và phương pháp bón:

+ Bón thúc: Hỗn hợp đạm, kali rắc đều xung quanh mép tán, tranh thủ lúc

trời mưa nhỏ hoặc mới mưa xong để bón Trường hợp không mưa phải tưới nước sau khi bón hoặc rạch rãnh xung quanh tán và lấp đất

- Lần 1 bón vào cuối tháng 1- đầu tháng 2 để thúc lộc xuân, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali, thời kỳ này thường không có mưa nên cần kết hợp tưới nước đảm bảo luôn đủ độ ẩm 60-70%

- Lần 2 bón vào cuối tháng 4 để thúc lộc hè, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali

- Lần 3 bón vào tháng 7 để thúc lộc thu, bón nốt lượng đạm và kali còn lại

Lưu ý: lượng phân thúc có thể chia nhỏ bón làm nhiều lần, tùy điều kiện chăm sóc

+ Bón phân qua đông: Vào tháng 11-12 bón toàn bộ lượng phân hữu cơ,

phân lân và vôi bột Phân hữu cơ được đảo trộn đều với phân lân ủ trước khi bón

từ 1-2 tháng, đào rãnh thẳng mép tán, rãnh đào sâu 10-15cm, rộng 35-30cm để rắc phân xong lấp kín đất Vôi bột rắc rải trên toàn bộ diện tích bề mặt

2.2 Làm cỏ, cuốc ải, cày bừa giữa hàng trồng xen

- Làm sạch cỏ trước những lần bón phân thúc trong phạm vi tán, rộng hơn mép tán 20-30cm Diện tích bên ngoài tán cây nên để cỏ giữ ẩm và nơi cư trú cho thiên địch, nếu cỏ tốt quá thì phát sát gốc Đất có độ dốc thấp thì trồng xen các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh,vv để cải tạo đất, chống cỏ dại, hạn chế xói mòn Đất có độ dốc lớn có thể trồng cây cốt khí theo đường đồng mức, cắt thân lá khi cây lớn làm phân xanh, vừa có tác dụng giữ ẩm, cải tạo đất, hạn chế xói mòn

- Vào tháng 11,12 tiến hành cày ải giữa hàng cam cách mép tán khoảng 50cm tạo cho đất tơi xốp; trường hợp đất dốc không thể cày bằng máy thì dùng cuốc, xẻng

2.3 Tưới nước giữ ẩm

Trang 4

- Tưới nước thường xuyên vào mùa khô để giữ ẩm, đảm bảo độ ẩm đất đạt 60-70% độ ẩm bão hoà Đối với vườn kiến thiết sau khi bón phân hữu cơ khoảng 1-2 tuần thì tiến hành tưới kết hợp bón phân vô cơ lần 1, nhưng lần sau có thể tưới nước 1 tuần /lần cho đến khi có mưa, cây ra lộc xuân ổn định

- Trường hợp không chủ động nước tưới thì phải tủ gốc, để cỏ, trồng xen cây đậu đỗ để giữ ẩm

2.5 Nhổ bỏ những cây bị bệnh và dặm lại cây

- Để đảm bảo độ đồng đều về mật độ và tốc độ sinh trưởng, cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện các cây bị bệnh như bệnh Greening, bệnh Tristeza, cây bị thối rễ, còi cọc,… để loại bỏ kịp thời Với những bệnh nguy hiểm khác như bệnh chảy gôm, thối rễ, loét, sẹo cần xử lý dứt điểm ngay khi phát hiện, những cây bị nặng khó phục hồi cần nhổ bỏ, khử trùng đất và trồng dặm cây khác

- Với những cây bị bệnh phải thay, cần xử lý vôi bột sau 3-4 tháng thì trồng dặm lại

- Lưu ý: Khi trồng dặm chọn những cây phát triển tốt, có khung cành ổn định, lấy chỗ đất mới để đưa vào ủ với phân hữu cơ trước khi trồng nhằm tránh cho cây bị nhiễm lại bệnh qua đất, nhất là bệnh thối rễ Các cây trồng dặm phải được chăm sóc đặc biệt hơn

II Kỹ thuật chăm sóc thời kỳ kinh doanh

1 Lượng phân bón (kg/cây/năm)

Loại phân

bón

KD từ năm 1-4

KD từ năm

Đạm urê 0,6 - 1,5 1,6 - 2,5 Bón thúc:

- Lần 1: 1/3 bón cuối tháng 1, đầu tháng 2

- Lần 2: 1/3 bón thúc cành hè

và quả vào cuối tháng 4

Kali Sunphat

hoặc Clorua 0,5 - 1,2 1,2 - 1,5

Trang 5

- Lần 3: 1/3 bón nốt vào tháng 7 để thúc quả, cành thu Lân nung

bộ diện tích Sau khi bón vôi 1 tháng thì bón phân đạm, rắc vòng theo tán kết hợp tưới nước Những vườn cây giáp tán thì nên đào rãnh bón phân theo hình ô vuông

- Bón thúc phân vô cơ lần 1,2,3 vào lúc thời tiết có mưa hoặc kết hợp với các lần tưới nước

- Ngoài ra phải thường xuyên theo dõi bổ sung phân bón trung, vi lượng qua lá cho cây

Chú ý: Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế bằng

các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 5 - 8 kg/ cây, lượng phân tăng theo tuổi cây và tuỳ theo đất

Với phân bón thúc có thể chia nhỏ ra để bón làm nhiều lần Lượng phân bón cho cây nhiều hay ít tùy thuộc tình trạng của cây mang nhiều quản hay ít quả, cây sinh trưởng khỏe hay yếu và độ phì của đất để bón cho phù hợp Lượng phân đơn đạm, lân, kali cần tính toán quy đổi nếu sử dụng sang phân hỗn hợp NPK để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây

2 Làm cỏ

Đối với cam trong thời kỳ kinh doanh, phải thường xuyên quản lý khống chế cỏ dại một cách hợp lý Trong phạm vi tán cây và cách tán cây 30-50 cm luôn phải làm sạch cỏ, còn ngoài phạm vi đó thì nên phát cỏ, thường xuyên khống chế

Trang 6

3.1 Tạo hình, tỉa cành: Sau khi thu hoạch quả tiến hành cắt bỏ những cành

tăm nằm bên trong tán và cành sát mặt đất, những cành bị khô, gãy, cành bị sâu bệnh, các chồi vượt để cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnh hại Dụng cụ cắt phải

sắc, vết cắt sát vào cành mẹ Thu dọn cành cắt đưa đi tiêu huỷ

3.2 Vệ sinh vườn cây

- Việc vệ sinh vườn phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình sản xuất như: Làm cỏ, cắt tỉa những cành bị sâu bệnh hại, thu gom quả thối rụng, cắt cành khô, gãy, kể cả việc đào bỏ cây bị nhiễm bệnh Virus đem đi tiêu huỷ bằng cách chôn sâu ngoài khu vực sản xuất hoặc đem đốt để hạn chế nguồn sâu bệnh hại Đặc biệt không được đem những cành sâu bệnh, quả thối rụng, quả bị ruồi vàng gây hại, đổ ra ngoài đường lô sẽ làm ô nhiễm môi trường và lây lan sâu bệnh trong khu vực

- Vào tháng 11, 12 tiến hành quét gốc cho cây cam bằng nước vôi đặc để hạn chế bệnh hại, nấm địa y sống ký sinh trên thân cây; độ cao quét gốc tuỳ theo

độ cao của cây, thường từ 1- 1,5 m

3.3 Tưới nước, giữ ẩm

Cây cam có hai giai đoạn rất cần nước là giai đoạn phân hoá lộc xuân, mầm hoa đến lúc quả nhỏ (từ 1-2cm) và khi quả đang phát triển mạnh; đặc biệt giai đoạn trước khi ra hoa (cuối tháng 1 đầu tháng 2), giai đoạn phát triển quả (cuối tháng 3 đầu tháng 4) nhất thiết phải tưới đủ ẩm Độ ẩm đất phải đạt 70%

độ ẩm bão hòa của đất Thời kỳ sau thu hoạch không cần nhiều nước lắm do

đó chỉ nên tưới một cách hợp lý để giúp cây chóng phục hồi

* Trường hợp những vườn không có điều kiện tưới nước thì phải chủ động tìm biện pháp giữ ẩm phù hợp bằng cách:

- Thiết kế lô thửa có dải băng cây xanh trên đường lô, những diện tích có

độ dốc cao thì trên đỉnh đồi nhất thiết phải trồng cây rừng để giữ ẩm và hạn chế xói mòn

- Bảo vệ lớp thảm thực vật trong hàng cam để giữ ẩm cho vườn cây vào thời kỳ khô hạn (từ tháng 2-5) Che phủ bằng rơm rạ, thân lá ngô, cỏ khô, trấu, vv… quanh tán cây và trên các đường băng có tác dụng để hạn chế cỏ dại, hạn chế sâu bệnh hại, hạn chế xói mòn và giữ ẩm rất tốt

- Bón phân hữu cơ hoai mục ngay sau khi đào rãnh bón phân để hạn chế nước bốc hơi

- Trồng xen cây cốt khí trong các đường băng và cắt tỉa dần, vừa làm phân xanh, vừa giữ ẩm

- Thu hoạch đúng thời vụ để giúp cây có sức chống chịu tốt hơn với điều kiện khô hạn

III Phòng trừ sâu bệnh hại

Trang 7

1 Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Cây cam thường bị rất nhiều các loại sâu

bệnh gây hại, việc phòng trừ tốt nhất phải xác định đối tượng gây hại chính là gì

để chọn thuốc đặc trị, không phun thuốc định kỳ, không nên hỗn hợp nhiều loại

thuốc một cách tuỳ tiện, … Sâu bệnh hại cam thường có các loại chính như sau:

- Các đối tượng sâu hại: Sâu vẽ bùa; Rầy chổng cánh gây hại quanh năm, chúng là môi giới truyền bệnh Greening gây ra hiện tượng vàng lá gân xanh; Câu cấu; Xén tóc đục thân, cành; Một số loại rệp (Rệp vảy ốc, rệp sáp đen, rệp muội, ); nhóm Nhện nhỏ; Bọ trĩ; Tuyến trùng hại rễ

- Nhóm bệnh hại: Bệnh vàng lá Greening (Vàng lá chè); Bệnh tàn lụi Tristera và bệnh rỗ thân; Bệnh loé; Bệnh chảy gôm; Bệnh vàng lá thối rễ

2 Thời kỳ kinh doanh: Ngoài các đối tượng sâu bệnh hại trên cây cam

còn bị các đối tượng sâu bệnh hại như: Dòi đục nụ hoa; Nhện rám vàng (nhện

trắng, nhện ống, nhện vàng); Ruồi vàng, ngài hút quả Bệnh thối nâu quả

IV Thu hoạch

- Thời vụ thu hoạch kéo dài từ tháng cuối tháng 10 đến tháng 4 năm sau tùy thuộc vào giống Không nên thu hoạch muộn hơn sẽ ảnh hưởng tới năng suất năm sau

- Trong quá trình thu hoạch phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ như dao, kéo, thang, sọt, Không được bẻ cành, hạn chế thấp nhất việc gãy cành./

Phụ lục 2

Trang 8

QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY BƯỞI

(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-SNN, ngày tháng 12

năm 2020 của Sở Nông nghiệp & PTNT Hòa Bình )

I Kỹ thuật trồng mới và chăm sóc giai đoạn kiến thiết cơ bản

1.Kỹ thuật trồng

1.1 Tuyển chọn cây giống

- Bưởi là cây trồng lâu năm, yêu cầu đầu tư thâm canh lớn, sau trồng 4 năm mới cho thu hoạch, do đó việc chọn cây giống để trồng là rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả đầu tư, có thể nói đây là yêu cầu số một

- Cây giống phải được xác nhận không mang mầm bệnh vàng lá Greening

và bệnh Tristeza, độ thuần cao, sinh trưởng phát triển tốt, chiều cao cây tính từ mắt ghép trở lên tối thiểu là 30cm, đường kính gốc ghép đo cách mặt bầu 10cm đạt 0,8-1cm, đường kính thân cây đo trên mắt ghép 2cm đạt trên 0,6cm trở lên, mắt ghép tiếp hợp tốt với gốc ghép, đã liền sẹo và không có hiện tượng bong tróc Cây giống xuất vườn đảm bảo theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9302:2013 Cây giống cam, quýt, bưởi- Tiêu chuẩn kỹ thuật

- Trên địa bàn tỉnh hiện nay có nhiều loại bưởi khác nhau; nhưng trồng phổ biến là các giống như: Bưởi Diễn, Bưởi đỏ Tân Lạc (Bưởi đỏ Hòa Bình), Bưởi

Da Xanh,

1.2 Chọn đất, làm đất, thiết kế lô thửa và mật độ trồng

- Chọn đất trồng bưởi nơi có tầng canh tác sâu trên 1 mét, độ pH thích hợp 5,5- 6,5; tưới tiêu thuận lợi, không bị úng ngập, có độ dốc < 15o, nếu độ dốc lớn hơn

thì phải san ủi bậc thang có bề mặt rộng từ 3m trở lên theo đường đồng mức

- Đất được cày, bừa kỹ, tơi xốp

- Thiết kế đường phân lô thuận tiện cho việc vận chuyển vật tư và sản phẩm

- Mật độ trồng: 200 -300cây/ha, khoảng cách 6x6m đến 7x7m, tùy điều

kiện địa hình và giống bưởi

1.3 Đào hố, bón phân

- Hố được đào với quy cách tối thiểu rộng 80cm, sâu 70cm Khi đào lớp đất

mặt được để riêng sang một phía sau này chộn với phân chuồng đưa xuống hố

- Lượng phân bón cho từng hố như sau: Phân hữu cơ hoai mục 40-60kg; Phân lân Văn Điển 1,5-2kg; Phân kali 0,5kg; vôi bột khoảng 0,5kg tuỳ độ pH đất

Vôi bột được xử lý trên toàn bộ diện tích và xung quanh thành hố

- Phân hữu cơ được trộn đều với lớp đất mặt và phân lân, kali sau đó đưa xuống hố lấp kín phân

* Lưu ý: Sau khi xuống phân ít nhất 1 tháng mới tiến hành trồng

Trang 9

1.4 Thời vụ trồng: Tốt nhất là tháng 3, 4 hoặc tháng 8, 9 Khi thời tiết

đang có mưa hoặc vừa tạnh mưa thì không được trồng cây, đất quá nhão cũng

chưa nên trồng mà phải đợi cho đất tơi xốp trở lại

1.5 Cách trồng

- Khi trồng cần xác định vị trí đặt cây vào đúng tâm hố; tháo bỏ túi bầu, bao nilon hoặc cỏ bầu cây giống, hạn chế việc vỡ bầu, đặt bầu cây sao cho mặt bầu ngang mặt đất sàn, những vị trí dốc thì đặt ngang so với mặt dốc phía dưới của hố, những khu vực đất thấp, trũng, hay bị ngập úng vào mùa mưa thì phải lên

luống cao 20-30cm

- Trồng cần đặt hướng mắt ghép ngược với hướng gió chính, ngắm cây cho thật thẳng hàng rồi vun dần đất nhỏ xuống trước, ấn chặt đất xung quanh bầu để cây đứng thẳng và tiếp xúc với nước Lấy cọc cắm buộc vào thân chính tạo cho cây hạn

chế bị mưa, gió to làm lay gốc, bầu cây, sau đó tưới nước cho cây

1.6 Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo,

chắc chắn, bầu có đường kính khoảng 1m, cao hơn so với mặt đất trong bầu khảng 10 -15cm để giữ nước Tưới nước và tủ gốc bằng rơm rạ để giữ ẩm giúp cây nhanh chóng phục hồi, bén rễ (tủ gốc cần cách xa gốc cây từ 20-30cm) Khi cây sinh trưởng bình thường thì tiến hành bón thúc phân đạm (bón khi đất ẩm hoặc khi trời có mưa) với lượng nhỏ khoảng 30-50 gam/cây, cần bón cách xa gốc,

không được bón quá sát gốc sẽ làm chết cây, có thể hòa phân ra nước để tưới

2 Kỹ thuật chăm sóc thời kỳ kiến thiết cơ bản

Sau trồng 2 năm

Sau trồng

3 – 4 năm

3 Lân nung chẩy

hoặc Supe lân

0,5 0,5-1,0 1,0-1,5

4 Hữu chuồng hoai

mục, phân hữu cơ

Trang 10

nêu trên, cần tính toán quy đổi nếu sử dụng sang phân hỗn hợp NPK để đảm bảo

đủ dinh dưỡng cho cây

- Thời gian và phương pháp bón:

+ Bón thúc: Hỗn hợp đạm, kali rắc đều xung quanh mép tán, tranh thủ lúc

trời mưa nhỏ hoặc mới mưa xong để bón Trường hợp không mưa phải tưới nước sau khi bón hoặc rạch rãnh xung quanh tán và lấp đất

- Lần 1 bón vào cuối tháng 1- đầu tháng 2 để thúc lộc xuân, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali, thời kỳ này thường không có mưa nên cần kết hợp tưới nước đảm bảo luôn đủ độ ẩm 60-70%

- Lần 2 bón vào cuối tháng 4 để thúc lộc hè, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali

- Lần 3 bón vào tháng 7 để thúc lộc thu, bón nốt lượng đạm và kali còn lại

Lưu ý: lượng phân thúc có thể chia nhỏ bón làm nhiều lần, tùy điều kiện chăm sóc

- Bón phân qua đông: Vào tháng 11 đầu tháng 12 bón toàn bộ lượng phân hữu

cơ, phân lân và vôi bột Đào rãnh cách mép tán rộng nhất 20cm, rãnh đào sâu 15cm, rộng 30-35cm rắc phân rồi lấp kín Vôi bột rắc rải trên toàn bộ diện tích bề mặt

2.2 Làm cỏ, cuốc ải, cày bừa giữa hàng trồng xen

- Làm sạch cỏ trước những lần bón phân thúc trong phạm vi tán, rộng hơn mép tán 20-30cm Diện tích còn lại nên để cỏ giữ ẩm và nơi cư trú cho thiên địch, nếu cỏ tốt quá thì phát sát gốc Đất có độ dốc thấp thì trồng xen các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh,vv để cải tạo đất, chống cỏ dại, hạn chế xói mòn Đất

có độ dốc lớn thì trồng cây cốt khí theo đường đồng mức, cắt thân lá khi cây lớn làm phân xanh, vừa có tác dụng giữ ẩm, cải tạo đất, hạn chế xói mòn vv

- Vào tháng 11,12 nên tiến hành cày ải giữa hàng bưởi cách mép tán từ 50cm trở lên tạo cho đất tơi xốp Trường hợp đất dốc không thể cày bằng máy thì dùng cuốc, xẻng

- Vào tháng 3-4 khi có gió lào, khô hạn, không nên phát hay dãy sạch cỏ

mà nên để cỏ giữ ẩm chống hạn cho vườn cây

2.3 Tưới nước giữ ẩm

- Tưới nước thường xuyên vào mùa khô để giữ ẩm, đảm bảo độ ẩm đất đạt 60-70% độ ẩm bão hoà, sau khi bón phân hữu cơ khoảng 1-2 tuần tiến hành tưới nước kết hợp bón phân vô cơ lần 1, sau đó cứ khoảng 1 tuần tưới nước 1 lần cho đến khi có mưa, cây ra lộc xuân ổn định

- Trường hợp không chủ động nước tưới thì phải tủ gốc, trồng xen cây cốt khí để giữ ẩm

2.4 Tạo hình, tỉa cành

- Sau khi cây ổn định tiến hành cắt định hình bộ khung tán, vị trí cắt cách mắt ghép từ 25-35cm nơi có những mắt mầm nổi rõ (mắt thức) Mỗi cây tỉa chỉ

Trang 11

để lại 3-4 cành cấp 1 so le về các phía, phân đều trên dưới Khi cành cấp 1 cao 25-30cm lại bấm ngọn để tạo ra 3-4 cành cấp 2, từ đây bắt đầu chăm sóc ổn định

để cây ra lộc tạo các cấp cành khác Sau khi đã tạo được bộ khung cành ổn định, trong những năm đầu hạn chế cắt tỉa đau

- Thường xuyên cắt bỏ những cành lộc quá dài làm lệch tán, các cành bị bệnh, cành khô chết Tỉa bỏ những chồi bưởi, chồi vượt, chồi quá thấp mọc trên thân già đã hoá gỗ Việc tạo hình một năm tiến hành một lần vào tháng 11-12 khi cây đang nghỉ đông, còn việc tỉa bấm ngọn ta làm thường xuyên

2.5 Loại bỏ những cây bị bệnh và dặm lại cây

Xử lý sớm, dứt điểm những cây bị bệnh chảy gôm, bệnh thối rễ, bệnh loét,

- Để đảm bảo độ đồng đều về mật độ và tốc độ sinh trưởng, cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện và nhổi bỏ kịp thời các cây bị bệnh Greening, bệnh Tristeza, cây

bị thối rễ năng, cây còi cọc,

- Những hố cây bị bệnh phải thay cần xử lý vôi bột sau 3-4 tháng thì mới trồng dặm lại

- Lưu ý: khi trồng dặm chọn những cây phát triển tốt, có khung cành ổn định, lấy chỗ đất mới để đưa vào ủ với phân hữu cơ trước khi trồng nhằm tránh cho cây bị nhiễm lại bệnh qua đất, nhất là bệnh thối rễ Các cây trồng dặm phải được chăm sóc đặc biệt hơn

II Kỹ thuật chăm sóc thời kỳ kinh doanh

1 Lượng phân bón cho một cây/năm

Loại phân

bón

KD từ năm 1-4

KD từ năm

Đạm urê 0,6 - 1,5 1,6 - 2,5 Bón thúc:

- Lần 1: 1/3 bón cuối tháng 1, đầu tháng 2

- Lần 2: 1/3 bón thúc cành hè và quả vào cuối tháng 4

- Lần 3: 1/3 bón nốt vào tháng 7 để thúc quả, cành thu

Trang 12

Chú ý: Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân

chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 5 - 8 kg/ cây, lượng phân tăng theo tuổi cây và tuỳ theo đất

Với phân bón thúc có thể chia nhỏ ra để bón làm nhiều lần tùy theo điều kiện chăm sóc Lượng phân bón cho cây nhiều hay ít tùy thuộc tình trạng của cây mang nhiều quản hay ít quả, cây sinh trưởng khỏe hay yếu và độ phì của đất để tính lượng phân cho phù hợp Lượng phân đơn đạm, lân, kali cần tính toán quy đổi nếu sử dụng sang phân hỗn hợp NPK để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây

2 Làm cỏ, cuốc ải

Đối với Bưởi trong thời kỳ kinh doanh, phải thường xuyên quản lý khống chế cỏ dại một cách hợp lý Trong phạm vi tán cây và cách tán cây 30-50 cm luôn phải làm sạch cỏ, còn ngoài phạm vi đó thì nên phát cỏ, thường xuyên khống chế

để cỏ mọc từ 5-10 cm trở lại

Vào tháng 11,12 nên cày ải giữa hàng bưởi cách mép tán khoảng 50cm tạo

cho đất tơi xốp

3 Tạo hình, tỉa cành, vệ sinh đồng ruộng

3.1 Tạo hình, tỉa cành: Sau khi thu hoạch quả phải tiến hành cắt bỏ những

cành tăm nằm bên trong tán và cành sát mặt đất, những cành bị khô, gãy, cành bị sâu bệnh, các chồi vượt, chồi gốc để cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnh hại Dụng cụ

cắt phải sắc, vết cắt sát vào cành mẹ Thu dọn cành cắt đưa đi tiêu huỷ xa khu vườn 3.2 Vệ sinh vườn cây

- Việc vệ sinh đồng ruộng phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình sản xuất như: Làm cỏ, cắt tỉa những cành bị sâu bệnh hại, thu gom quả thối rụng, quả bị ruồi hại, cắt cành khô, gãy, đem đi tiêu huỷ bằng cách chôn sâu ngoài khu vực sản xuất hoặc đem đốt để hạn chế nguồn sâu bệnh hại Đặc biệt không được đem những cành sâu bệnh, quả thối rụng, quả bị ruồi vàng gây hại, đổ ra ngoài đường lô sẽ làm ô nhiễm môi trường và lây lan sâu bệnh trong khu vực

- Vào tháng 11, 12 hàng năm tiến hành quét gốc bưởi bằng nước vôi đặc để hạn chế sâu bệnh hại, nấm địa y sống ký sinh trên thân cây Độ cao quét gốc tuỳ theo độ cao của cây, thường từ mắt đất lên độ cao 1- 1,5 m

Trang 13

3.3 Tưới nước, giữi ẩm

Cây Bưởi có hai giai đoạn rất cần nước là giai đoạn phân hoá lộc xuân, mầm hoa đến lúc quả nhỏ (từ 1-2cm) và khi quả đang phát triển mạnh; đặc biệt giai đoạn trước khi ra hoa (cuối tháng 1 đầu tháng 2), giai đoạn phát triển quả (cuối tháng 3 đầu tháng 4) nhất thiết phải tưới đủ ẩm Độ ẩm đất phải đạt 70%

độ ẩm bão hòa của đất Thời kỳ sau thu hoạch không cần nhiều nước lắm do

đó chỉ nên tưới một cách hợp lý để giúp cây chóng phục hồi

* Những vườn không có điều kiện tưới nước thì phải chủ động tìm biện pháp giữ ẩm phù hợp bằng cách:

- Thiết kế lô thửa có dải băng cây xanh trên đường lô, những diện tích có

độ dốc cao thì trên đỉnh đồi nhất thiết phải trồng cây rừng để giữ ẩm và hạn chế xói mòn

- Bảo vệ lớp thảm thực vật trong hàng Bưởi để giữ ẩm cho vườn cây vào thời kỳ khô hạn (từ tháng 2-5) Che phủ bằng rơm rạ, thân lá ngô, cỏ khô, trấu, vv… quanh tán cây và trên các đường băng có tác dụng để hạn chế cỏ dại, hạn chế sâu bệnh hại, hạn chế xói mòn và giữ ẩm rất tốt

- Bón phân hữu cơ hoai mục ngay sau khi đào rãnh bón phân để hạn chế nước bốc hơi

- Trồng xen cây cốt khí trong các đường băng và cắt tỉa dần, vừa làm phân xanh, vừa giữ ẩm

- Thu hoạch đúng thời vụ để giúp cây có sức chống chịu tốt hơn với điều kiện khô hạn

III Phòng trừ sâu bệnh hại

1 Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Cây bưởi thường bị rất nhiều các loại sâu

bệnh gây hại, việc phòng trừ tốt nhất phải xác định đối tượng gây hại chính là gì

để chọn thuốc đặc trị, không phun thuốc định kỳ, không nên hỗn hợp nhiều loại

thuốc một cách tuỳ tiện, … Sâu bệnh hại thường có các loại chính như sau:

- Các đối tượng sâu hại: Sâu vẽ bùa; Rầy chổng cánh gây hại quanh năm, chúng là môi giới truyền bệnh Greening gây ra hiện tượng vàng lá gân xanh; Câu cấu; Xén tóc đục thân, cành; Một số loại rệp (Rệp vảy ốc, rệp sáp đen, rệp muội, ); nhóm Nhện nhỏ; Bọ trĩ; Tuyến trùng hại rễ

- Nhóm bệnh hại: Bệnh vàng lá Greening (Vàng lá chè); Bệnh tàn lụi Tristera

và bệnh rỗ thân; Bệnh loét, sẹo (ghẻ); Bệnh chảy gôm; Bệnh vàng lá thối rễ

2 Thời kỳ kinh doanh: Ngoài các đối tượng sâu bệnh hại trên cây bưởi

còn bị các đối tượng sâu bệnh hại như: Dòi đục nụ hoa; Nhện rám vàng (nhện

trắng, nhện ống, nhện vàng); Ruồi vàng, Bệnh thối quả, Bệnh đốm nâu

IV Thu hoạch

- Thời vụ thu hoạch bưởi thường từ tháng 9 đến tháng 12 tùy theo từng giống Không nên thu hoạch quá muộn sẽ ảnh hưởng tới năng suất năm sau

Trang 14

- Trong quá trình thu hoạch phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ như dao, kéo, thang, sọt, Không được bẻ cành, hạn chế thấp nhất việc gãy cành./

Trang 15

Phụ lục 3 QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY QUÝT

(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ- SNN, ngày tháng 12

năm 2020 của Sở Nông nghiệp & PTNT Hòa Bình )

I Kỹ thuật trồng mới và chăm sóc giai đoạn kiến thiết cơ bản

1.Kỹ thuật trồng

1.1 Tuyển chọn cây giống

- Quýt là cây trồng lâu năm, yêu cầu đầu tư thâm canh lớn, sau trồng từ 3-4 năm mới cho thu hoạch, do đó việc chọn cây giống để trồng là rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả đầu tư, có thể nói đây là yêu cầu số một

- Giống không mang mầm bệnh vàng lá Greening và bệnh Tristeza, độ thuần cao, sinh trưởng phát triển tốt, chiều cao cây tính từ mắt ghép trở lên tối thiểu là 30cm, đường kính gốc ghép đo cách mặt bầu 10cm đạt 0,8-1cm, đường kính thân cây đo trên mắt ghép 2cm đạt trên 0,6cm trở lên, mắt ghép tiếp hợp tốt với gốc ghép, đã liền sẹo và không có hiện tượng bong tróc Cây giống xuất vườn đảm bảo theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 9302:2013 Cây giống cam, quýt, bưởi- Tiêu chuẩn kỹ thuật

- Hiện nay trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có nhiều loại giống quýt khác nhau

để bố trí rải vụ, kéo dài thời gian thu hoạch như: Giống chín sớm có Quýt Ôn Châu (thu hoạch từ tháng 8-9); Giống chính vụ có Quýt Hà Giang, các giống quýt bản địa, (thu hoạch tháng 11, 12) Giống chín muộn có Quýt Đường canh (Cam canh, thu hoạch tháng 12, tháng 1)

1.2 Chọn đất, làm đất, thiết kế lô thửa và mật độ trồng

- Chọn đất có tầng đất mặt sâu trên 1m, đất thịt pha, mầu mỡ, độ pH thích hợp là 5,5- 6,5; tưới tiêu thuận lợi, không bị úng ngập, có độ dốc < 15o, nếu độ dốc lớn hơn thì phải san ủi bậc thang có bề mặt rộng từ 3m trở lên theo đường đồng mức Khu đất trồng có đường giao thông, đường phân lô thuận lợi cho việc

vận chuyển vật tư và sản phẩm

- Đất được cày, bừa kỹ, tơi xốp

- Mật độ trồng: Tuỳ theo từng giống và vị trí đất trồng để bố trí mật độ cho hợp lý Trong điều kiện đất tốt, có thể trồng dày hơn đất xấu, đất nghèo dinh dưỡng Thông thường, quýt trồng mật độ 3x4m hoặc 3x4m (tương đương mật độ khoảng 600 - 800 cây/ha)

1.3 Đào hố, bón lót

- Hố được đào với quy cách rộng 80 cm, sâu 70 cm Khi đào lớp đất mặt được

để riêng sang một phía sau này trộn với phân chuồng đưa xuống hố

+ Lượng phân bón cho từng hố như sau:

- Phân hữu cơ hoai mục 20-40 kg/hố

- Phân lân nung chẩy 1,5-2kg/hố

Trang 16

- Phân kali 0,3- 0,5kg/hố

- Vôi bột khoảng 0,5kg/hố tuỳ độ pH đất Vôi bột được xử lý trên toàn bộ

diện tích và xung quanh thành hố

- Phân hữu cơ được trộn đều với lớp đất mặt, phân lân và kali sau đó đưa

xuống hố lấp kín phân

* Lưu ý: Sau khi xuống phân ít nhất 1 tháng mới tiến hành trồng

1.4 Thời vụ trồng: Thời vụ trồng tốt nhất tháng 3,4 hoặc tháng 8, 9 Khi

thời tiết đang có mưa hoặc vừa tạnh mưa, đất quá nhão không nên trồng, đợi cho

đất tơi xốp trở lại tiến hành trồng là tốt nhất

1.5 Cách trồng

- Đặt cây vào đúng tâm hố; tháo bỏ túi bầu, bao nilon, lưu ý hạn chế việc

vỡ bầu, mặt bầu cao ngang mặt đất sàn; những vị trí dốc thì đặt ngang so với mặt

đất phía dưới của hố, những khu vực đất thấp, trũng, hay bị ngập úng vào mùa

mưa thì phải lên luống cao cách mặt đất từ 25-35cm, khi trồng mặt bầu đặt cao

ngang mặt luống

- Khi trồng cần đặt hướng mắt ghép ngược với hướng gió chính, ngắm cây

cho thẳng hàng rồi vun dần đất nhỏ xuống trước, ấn chặt đất xung quanh bầu để

cây đứng thẳng Lấy cọc cắm và buộc thân chính để hạn chế bị mưa, gió to làm

lay gốc, lay bầu, sau đó tưới nước cho cây

1.6 Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo,

chắc chắn, bầu có đường kính khoảng 1m, cao hơn so với mặt đất trong bầu từ

10-15cm để giữ nước Tưới nước và làm cỏ bầu thường xuyên và tủ gốc bằng

rơm rạ để giữ ẩm giúp cây nhanh chóng phục hồi, bén rễ Tủ gốc cần cách xa gốc

cây từ 25-35cm Khi cây sinh trưởng bình thường thì mới tiến hành bón phân

đạm (bón khi đất ẩm hoặc tranh thủ khi có mưa) với lượng nhỏ khoảng

20-30gam/cây, cần bón cách xa gốc, không được bón quá sát gốc sẽ làm chết cây, có

thể hòa phân ra nước để tưới

2 Kỹ thuật chăm sóc thời kỳ kiến thiết cơ bản

2.1 Bón phân

Lượng phân bón hàng năm cho một cây quýt thời kỳ KTCB như sau:

Stt Loại phân &

3 Lân nung chẩy

hoặc Supe lân

0,5 0,5-1,0 1,0-1,5

4 Hữu chuồng hoai

mục

Trang 17

*Thời gian và phương pháp bón:

+ Bón thúc: Hỗn hợp đạm, kali rắc đều xung quanh mép tán, tranh thủ lúc

trời mưa nhỏ hoặc mới mưa xong để bón Trường hợp không mưa phải tưới nước sau khi bón hoặc rạch rãnh xung quanh tán và lấp đất

- Lần 1 bón vào cuối tháng 1- đầu tháng 2 để thúc lộc xuân, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali, thời kỳ này thường không có mưa nên cần kết hợp tưới nước đảm bảo luôn đủ độ ẩm 60-70%

- Lần 2 bón vào cuối tháng 4 để thúc lộc hè, bón 1/3 lượng đạm và 1/3 lượng kali

- Lần 3 bón vào tháng 7 để thúc lộc thu, bón nốt lượng đạm và kali còn lại

Lưu ý: lượng phân thúc có thể chia nhỏ bón làm nhiều lần, tùy điều kiện chăm sóc Lượng phân NPK bón thúc nhiều hay ít tùy theo tình trang của từng cây

và độ phì của đất

+ Bón phân lót qua đông: Vào tháng 11-12 bón toàn bộ lượng phân hữu cơ,

phân lân và vôi bột Đào rãnh cách mép tán rộng nhất khoảng 20cm, sâu 15cm, rộng 20-30cm rắc phân rồi lấp kín Vôi bột rắc trên toàn bộ diện tích bề mặt

2.2 Làm cỏ, cuốc ải, cày bừa giữa hàng trồng xen

- Làm sạch cỏ trước những lần bón phân thúc trong phạm vi tán, rộng hơn mép tán 20-30cm Diện tích còn lại nên để cỏ giữ ẩm và nơi cư trú cho thiên địch, nếu cỏ tốt quá thì phát sát gốc Đất có độ dốc thấp thì trồng xen các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh,vv để cải tạo đất, chống cỏ dại, hạn chế xói mòn Đất có độ dốc lớn thì trồng cây cốt khí theo đường đồng mức, cắt thân lá khi cây lớn làm phân xanh, vừa có tác dụng giữ ẩm, cải tạo đất, hạn chế xói mòn

- Tiến hành cày ải giữa các hàng quýt vào tháng 11,12 cách mép tán từ 50cm trở lên tạo cho đất tơi xốp Trường hợp đất dốc không thể cày bằng máy thì dùng cuốc, xẻng

2.3 Tưới nước giữ ẩm

- Tưới nước thường xuyên vào mùa khô để giữ ẩm, đảm bảo độ ẩm đất đạt 60-70% độ ẩm bão hoà, sau khi bón phân hữu cơ 1, 2 tuần thì tiến hành tưới nước kết hợp bón phân vô cơ lần 1, sau đó cứ 1 tuần tưới nước 1 lần cho đến khi có mưa

Trang 18

- Trường hợp không chủ động nước tưới thì phải tủ gốc, để cỏ, trồng xen cây cốt khí để giữ ẩm

2.4 Tạo hình, tỉa cành

- Quýt là cây phân cành sớm, nhiều cành dăm; do vậy việc tạo tán cần chú

ý giai đoạn mới trồng giúp cây có bộ tán xòe ngang, có bộ khung tán ổn định, hạn chế phát triển chiều cao Mỗi cây chỉ để lại 3 - 4 cành cấp 1 so le về các phía, phân đều trên dưới; chăm sóc ổn định để cây ra lộc tạo các cấp cành khác Sau khi đã tạo được bộ khung cành ổn định; trong những năm đầu hạn chế cắt tỉa đau

- Thường xuyên cắt bỏ những cành lộc quá dài làm lệch tán, các cành bị bệnh, cành bị khô chết Tỉa bỏ những chồi vượt, chồi quá thấp mọc trên thân già

đã hoá gỗ Việc tạo hình một năm tiến hành một lần vào tháng 11-12 khi cây đang nghỉ đông, còn việc tỉa bấm ngọn làm thường xuyên

2.5 Loại bỏ những cây bị bệnh và dặm lại cây

- Để đảm bảo độ đồng đều về mật độ và tốc độ sinh trưởng, trước khi vào giai đoạn kinh doanh cần thường xuyên kiểm tra, phát hiện các cây bị bệnh như bệnh Greening, bệnh Tristeza,bị bệnh thối rễ năng, cây còi cọc, cần nhổ bỏ kịp thời

- Những hố cây bị bệnh phải thay cần xử lý vôi bột sau 3-4 tháng thì trồng dặm lại

- Lưu ý: Khi trồng dặm chọn những cây phát triển tốt, có khung cành ổn định, lấy chỗ đất mới để đưa vào ủ với phân hữu cơ trước khi trồng nhằm tránh cho cây bị nhiễm lại bệnh qua đất, nhất là bệnh thối rễ Các cây trồng dặm phải được chăm sóc đặc biệt hơn

II Kỹ thuật chăm sóc thời kỳ kinh doanh

1 Lượng phân bón (kg/cây/năm)

Loại phân bón năm 1-4 KD từ năm thứ 5 KD từ Thời gian bón

Đạm urê 0,6 - 1,5 1,5-2 Bón thúc:

- Lần 1: 1/3 bón cuối tháng 1, đầu tháng 2

- Lần 2: 1/3 bón thúc cành hè và quả vào cuối tháng 4

- Lần 3: 1/3 bón nốt vào tháng 7

để thúc quả, cành thu

Kali sunphát 0,5 - 1,2 1,2-1,5

Lân nung chẩy

hoặc Super lân 2,0 - 3,0 2,0 - 3,0 Bón phục hồi cho cây: Sau khi

thu hoạch

Phân chuồng

hoai mục 30 - 40

Từ 40kg trở lên

Vôi bột 1 - 2 1- 2 Sau thu hoạch và tuỳ theo pH đất.

Trang 19

* Phương pháp bón:

- Bón qua đông (sau khi thu hoạch): Đào rãnh vòng quanh tán cây cách mép tán ngoài ít nhất là 20 cm, rãnh có độ sâu x rộng khoảng 15 x 30 cm Bón phân hữu cơ đã được trộn với phân lân rồi lấp kín đất Sau đó rắc vôi bột lên toàn

bộ diện tích Sau khi bón vôi 1 tháng thì bón phân đạm, rắc vòng theo tán kết hợp tưới nước Những vườn cây giáp tán thì nên đào rãnh bón phân theo hình ô vuông

- Bón thúc phân vô cơ lần 1,2,3 vào lúc thời tiết có mưa hoặc kết hợp với các lần tưới nước

- Ngoài ra phải thường xuyên theo dõi bổ sung thêm phân bón trung, vi lượng cho cây

Chú ý: Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân

chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 5 - 8 kg/ cây (lượng phân tăng theo tuổi cây và tuỳ theo đất)

Với phân thúc có thể chia nhỏ ra để bón làm nhiều lần tùy theo điều kiện chăm sóc Lượng phân bón cho cây nhiều hay ít tùy thuộc tình trạng của cây mang nhiều quản hay ít quả, cây sinh trưởng khỏe hay yếu và độ phì của đất để tính lượng bón cho phù hợp Phân đơn đạm, lân, kali cần tính toán quy đổi nếu

sử dụng sang phân hỗn hợp NPK để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây

2 Làm cỏ, cuốc ải

Đối với Bưởi trong thời kỳ kinh doanh, phải thường xuyên quản lý khống chế cỏ dại một cách hợp lý Trong phạm vi tán cây và cách tán cây 30-50 cm luôn phải làm sạch cỏ, còn ngoài phạm vi đó thì nên phát cỏ, thường xuyên khống chế

để cỏ mọc từ 5-10 cm trở lại

Vào tháng 11,12 nên cày ải giữa hàng bưởi cách mép tán khoảng 50cm tạo

cho đất tơi xốp

3 Tạo hình, tỉa cành, vệ sinh đồng ruộng

3.1 Tạo hình, tỉa cành: Sau khi thu hoạch quả tiến hành cắt bỏ những cành

tăm nằm bên trong tán và cành sát mặt đất, những cành bị khô, gãy, cành bị sâu bệnh, các chồi vượt, chồi bưởi để cây thông thoáng, hạn chế sâu bệnh hại Dụng

cụ cắt phải sắc, cắt phải sát vào thân cành chính Thu dọn cành cắt đưa đi tiêu

huỷ xa khu vườn

3.2 Vệ sinh vườn cây

- Việc vệ sinh đồng ruộng phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình sản xuất như: Làm cỏ, cắt tỉa những cành bị sâu bệnh hại, thu gom quả thối rụng, quả bị ruồi hại, cắt cành khô, gãy, kể cả việc đào bỏ cây bị nhiễm bệnh Virus sau đó đem đi tiêu huỷ bằng cách chôn sâu ngoài khu vực sản xuất hoặc đem đốt để hạn chế nguồn sâu bệnh hại Đặc biệt không được đem những cành sâu bệnh, quả thối rụng, quả bị ruồi vàng gây hại, đổ ra ngoài đường lô sẽ làm ô nhiễm môi trường và lây lan sâu bệnh trong khu vực

Trang 20

- Vào tháng 11, 12 tiến hành quét gốc cho cây quýt bằng nước vôi pha đặc

để hạn chế sâu bệnh hại, nấm địa y sống ký sinh trên thân cây Độ cao quét gốc tuỳ theo độ cao của cây, thường từ 1- 1,5 m

3.3 Tưới nước, giữ ẩm

Cây Quýt có hai giai đoạn rất cần nước là giai đoạn phân hoá lộc xuân, mầm hoa đến lúc quả nhỏ (từ 1-2cm) và khi quả đang phát triển mạnh; đặc biệt giai đoạn trước khi ra hoa (cuối tháng 1 đầu tháng 2), giai đoạn phát triển quả (cuối tháng 3 đầu tháng 4) nhất thiết phải tưới đủ ẩm Độ ẩm đất phải đạt 70%

độ ẩm bão hòa của đất Thời kỳ sau thu hoạch không cần nhiều nước lắm do

đó chỉ nên tưới một cách hợp lý để giúp cây chóng phục hồi

* Trường hợp những vườn không có điều kiện tưới nước thì phải chủ động tìm biện pháp giữ ẩm phù hợp bằng cách:

- Thiết kế lô thửa có dải băng cây xanh trên đường lô, những diện tích có

độ dốc cao thì trên đỉnh đồi nhất thiết phải trồng cây rừng để giữ ẩm và hạn chế xói mòn

- Bảo vệ lớp thảm thực vật trong hàng cây để giữ ẩm cho vườn cây vào thời

kỳ khô hạn (từ tháng 2-5) Che phủ bằng rơm rạ, thân lá ngô, cỏ khô, trấu, vv… quanh tán cây và trên các đường băng có tác dụng để hạn chế cỏ dại, hạn chế sâu bệnh hại, hạn chế xói mòn và giữ ẩm rất tốt

- Bón phân hữu cơ hoai mục ngay sau khi đào rãnh bón phân để hạn chế nước bốc hơi

- Trồng xen cây cốt khí trong các đường băng và cắt tỉa dần, vừa làm phân xanh, vừa giữ ẩm

- Thu hoạch đúng thời vụ để giúp cây có sức chống chịu tốt hơn với điều kiện khô hạn

III Phòng trừ sâu bệnh hại

1 Thời kỳ kiến thiết cơ bản: Cây Quýt thường bị rất nhiều các loại sâu

bệnh gây hại, việc phòng trừ tốt nhất phải xác định đối tượng gây hại chính là gì

để chọn thuốc đặc trị, không phun thuốc định kỳ, không nên hỗn hợp nhiều loại

thuốc một cách tuỳ tiện, … Sâu bệnh hại cam thường có các loại chính như sau:

- Các đối tượng sâu hại: Sâu vẽ bùa; Rầy chổng cánh gây hại quanh năm, chúng là môi giới truyền bệnh Greening gây ra hiện tượng vàng lá gân xanh; Câu cấu; Xén tóc đục thân, cành; Một số loại rệp (Rệp vảy ốc, rệp sáp đen, rệp muội, ); nhóm Nhện nhỏ; Bọ trĩ; Tuyến trùng hại rễ

- Nhóm bệnh hại: Bệnh vàng lá Greening (Vàng lá chè); Bệnh tàn lụi Tristera và bệnh rỗ thân; Bệnh loét, sẹo (ghẻ); Bệnh chảy gôm; Bệnh vàng lá thối

rễ

2 Thời kỳ kinh doanh: Ngoài các đối tượng sâu bệnh hại trên cây Quýt

còn bị các đối tượng sâu bệnh hại như: Dòi đục nụ hoa; Nhện rám vàng (nhện

trắng, nhện ống, nhện vàng); Ruồi vàng, ngài hút quả Bệnh thối nâu quả

Trang 21

IV Thu hoạch

- Thời vụ thu hoạch quýt kéo dài từ tháng 8 đến tháng 01 năm sau tùy thuộc vào giống Không nên thu hoạch quá muộn sẽ ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây năm sau

- Trong quá trình thu hoạch phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ như dao, kéo, thang, sọt, Không được bẻ cành, hạn chế thấp nhất việc gãy cành./

Trang 22

Phụ lục 4 QUY TRÌNH

KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY NHÃN

(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-SNN, ngày tháng 12

năm 2020 của Sở Nông nghiệp & PTNT Hòa Bình )

Nhãn là cây ăn quả lâu năm có tính thích ứng rộng, chịu nóng và chịu rét tốt; nhãn trồng được trên nhiều loại đất như: đất phù sa, đất thịt nhẹ, đất đồi Nhãn cần nhiều ánh sáng nhưng khả năng chịu bóng râm tốt hơn vải Rễ nhãn ăn sâu và rộng, ở những vùng đất tơi xốp rễ có thể ăn sâu tới 4 đến 5 m, nhưng tập trung chủ yếu ở tầng đất mặt 50cm Thời gian thu hoạch của nhãn ở miền Bắc tương đối dài từ tháng 7 đến tháng 9, tùy theo giống

I Kỹ thuật trồng mới và chăm sóc giai đoạn kiến thiết cơ bản

1 Kỹ thuật trồng

1.1 Tiêu chuẩn cây giống khi trồng: Cây giống phải được ươm trong túi

bầu nilon có đường kính 10 - 12 cm, chiều cao 22 - 25 cm Cây giống phải xanh tốt, không có các đối tượng sâu bệnh nguy hiểm gây hại, đạt tiêu chuẩn vườn ươm Vật liệu nhân giống được lấy từ cây đầu dòng, vườn cây đầu dòng, ở các cơ

sở sản xuất giống được công nhận (đảm bảo theo Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 464:2001 về cây giống nhãn)

- Hiện nay trên thị trường có nhiều giống nhãn khác nhau để bố trí rải vụ, kéo dài thời gian thu hoạch như: Giống chín sớm có giống PHS2, PHS99-1.1 (thu hoạch từ giữa tháng 7 ); Giống chính vụ có nhãn Hương Chi, PHT99-1.1, (thu hoạch từ tháng 8 đến đầu tháng 9); Giống chín muộn có PHM99-1.1, PHM99-2.1, HTM-2, (thu hoạch từ cuối tháng 8 đến giữa tháng 9)

1.2 Chọn đất, làm đất, thiết kế lô thửa trồng

* Chọn đất, thiết kế vườn trồng

Đất có tầng dầy trên 70 cm, tỷ lệ mùn 2%, độ chua nhẹ (PH từ 5,0-6,5) Tuỳ theo quy mô, diện tích và địa hình đất mà thiết kế vườn trồng cho phù hợp Những nơi đất thấp, trũng, mùa mưa hay bị ngập cần đào mương, đắp ụ để tránh ngập úng; ở gò đồi, núi thấp với độ dốc 5 - 70

phải trồng cây theo đường đồng mức Với độ dốc 8 - 100

nên thiết kế vườn trồng theo kiểu bậc thang đơn giản, ở độ dốc trên 100 phải thiết kế đường đồng mức theo kiểu bậc thang kiên cố Để bảo vệ đất, chống xói mòn khi mùa mưa cần trồng thêm các băng cây phân xanh hoặc dứa để cản bớt dòng chảy, giữ độ ẩm cho đất, chống xói mòn

* Mật độ, khoảng cách trồng:

- Khoảng cách trồng thích hợp đối với nhãn vùng đồi là 7m x 7m, đối với đất đồng bằng là 8m x 8m, tương đương với mật độ trồng khoảng 200 cây và 160 cây/ha

Trang 23

1.3 Chuẩn bị hố trồng, bón lót

- Với đất bãi bằng đào hố có kích thước dài x rộng x sâu: 0,8 x 0,7 x 0,5 m

- Vùng đồi núi đào hố có kích thước dài x rộng x sâu: 1,0 x 0,9 x 0,8 m

- Khi đào cần để riêng lớp đất mặt, lượng phân bón lót cho một hố là 30 -

50 kg phân chuồng, 0,7 - 1 kg supelân, 0,2 - 0,3 kg kaliclorua Trộn đều toàn bộ lượng phân với lớp đất mặt cho xuống đáy hố (đến 3/4 hố) và lấp đất cho đầy phần hố còn lại Vùng đồi cần bón thêm 0,5 - 1kg vôi bột cho mỗi hố trồng

- Toàn bộ công việc chuẩn bị hố trồng, bón lót phải được tiến hành trước khi trồng khoảng 1 tháng

1.4 Thời vụ trồng: Thời vụ trồng tốt nhất tháng 3,4 hoặc tháng 8, 9 Khi

thời tiết đang có mưa hoặc vừa tạnh mưa, đất quá nhão không nên trồng, đợi cho

đất tơi xốp trở lại tiến hành trồng là tốt nhất

1.5 Cách trồng

- Đặt cây vào đúng tâm hố; tháo bỏ túi bầu, bao nilon cho rễ tỏa tự nhiên, lấp đất và dùng tay nén chặt xung quanh gốc Lưu ý hạn chế việc vỡ bầu, mặt bầu cao ngang mặt đất sàn; những vị trí dốc thì đặt ngang so với mặt đất phía dưới của hố, những khu vực đất thấp, trũng, hay bị ngập úng vào mùa mưa thì phải lên luống cao cách mặt đất từ 20-30cm, khi trồng mặt bầu đặt cao ngang mặt luống

- Khi trồng cần đặt hướng mắt ghép ngược với hướng gió chính, ngắm cây cho thẳng hàng rồi vun dần đất nhỏ xuống trước, ấn chặt đất xung quanh bầu để cây đứng thẳng Lấy cọc cắm và buộc thân chính để hạn chế bị mưa, gió to làm lay gốc, lay bầu, sau đó tưới nước cho cây

1.6 Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo,

chắc chắn, bầu có đường kính khoảng 1m, cao hơn so với mặt đất trong bầu từ 10-15cm để giữ nước Tưới nước và tủ gốc bằng rơm rạ cách gốc 20 - 30 cm để giữ ẩm giúp cây nhanh chóng phục hồi, bén rễ Khi cây sinh trưởng bình thường thì mới tiến hành bón phân đạm (bón khi đất ẩm hoặc tranh thủ khi có mưa) với lượng nhỏ khoảng 20-30gam/cây, cần bón cách xa gốc, không được bón quá sát gốc sẽ làm chết cây, có thể hòa phân ra nước để tưới Thường xuyên chăm sóc, làm cỏ bầu

2 Chăm sóc nhãn thời kỳ kiến thiết cơ bản (KTCB)

2.1 Bón phân: Sau trồng 1 tháng tiến hành bón thúc lần thứ nhất, cứ sau

mỗi đợt lộc non thành thục thì lại tiếp tục bón thúc cho cây

+ Liều lượng bón: Tính cho cả năm

Tuổi cây

Chủng loại phân bón (kg/cây/năm)

Phân chuồng hoai mục hoặc phân hữu cơ qua xử lý

Đạm urê Lân nung chẩy

hoặc Super lân Kali

Trang 24

Cây 1 năm

sau trồng 20 - 30 0,3 - 0,4 0,7 - 1,0 0,2 - 0,3 Cây 2 năm

sau trồng 30 - 40 0,5 - 0,6 1,0 - 1,2 0,2 - 0,3 Cây 3 năm

sau trồng 40-50 0,5 - 0,7 1,2 - 1,5 0,3 - 0,5

(Nếu không chủ động được nguồn phân chuồng có thể thay thế phân chuồng bằng các loại phân hữu cơ vi sinh với liều lượng 3 - 6 kg/ cây (lượng phân tăng theo tuổi cây và tuỳ theo đất); Với lượng phân đơn đạm, lân, kali nêu trên, cần tính toán quy đổi nếu sử dụng sang phân hỗn hợp NPK để đảm bảo đủ dinh dưỡng cho cây

- Bón thúc: Toàn bộ lượng phân vô cơ đạm và kali được chia 4 - 5 lần bón,

chủ yếu để thúc theo các đợt lộc từ tháng 2 đến tháng 9

Cách bón: Hoà với nước tưới hoặc bón trực tiếp theo hình chiếu tán cây Có thể tận dụng khi trời mưa rào, đất ẩm để rắc phân xung quanh hình chiếu tán cây

- Bón phân cuối năm: Toàn bộ lượng phân chuồng và phân lân được bón 1

lần vào cuối năm Xẻ rãnh quanh hình chiếu tán cây để bón, cách mép tán ngoài khoảng 15 cm, rãnh có độ sâu x rộng khoảng 15 x 30 cm

2.2 Làm cỏ, trồng xen

- Dãy cỏ sạch trước những lần bón phân thúc trong phạm vi tán, rộng hơn mép tán 20-30cm Diện tích còn lại nên để cỏ giúp giữ ẩm đất, hạn chế xói mòn và nơi cư trú cho thiên địch, nếu cỏ tốt quá thì phát sát gốc Đất có độ dốc thấp thì trồng xen các loại cây họ đậu như lạc, đậu tương, đậu xanh, để cải tạo đất, chống cỏ dại, hạn chế xói mòn, (cây trồng xen phải trồng cách gốc 0,8 - 1,0 m) Đất có độ dốc lớn thì trồng cây cốt khí theo đường đồng mức, cắt thân lá khi cây lớn làm phân xanh, vừa có tác dụng giữ ẩm, cải tạo đất, hạn chế xói mòn vv

- Vào tháng 11, 12 nên tiến hành cày ải giữa hàng nhãn tạo cho đất tơi xốp, đường cày cách mép tán từ 50cm trở lên Trường hợp đất dốc không thể cày bằng máy thì dùng cuốc, xẻng

2.3 Tưới nước giữ ẩm Tưới nước thường xuyên vào mùa khô để giữ ẩm,

đảm bảo độ ẩm đất đạt 60-70% độ ẩm bão hoà Trường hợp không chủ động nước tưới thì phải tủ gốc để giữ ẩm

2.4 Đốn tỉa tạo hình: Sau khi trồng 40 - 45 ngày tiến hành cắt ngọn cành

ghép cách mắt ghép 20 - 30cm, khi cây bật mầm phải tỉa bớt mầm, chỉ để lại 3 - 4 mầm khoẻ và phân bố đều về các hướng (cành cấp 1), khi cành cấp 1 dài 30 - 35cm lại tiến hành bấm ngọn để tạo cành cấp 2, cứ như vậy tới hết năm thứ hai hoặc thứ ba Đối với những cây nhãn ra hoa sau hai năm trồng nên ngắt bỏ hoa để cho cây tập trung phát triển thân tán

3 Kỹ thuật ghép cải tạo nhãn: Cây ghép cải tạo có tuổi dưới 15 năm Cây

sinh trưởng khỏe, cây xanh tốt, không bị sâu bệnh nguy hiểm gây hại

Trang 25

* Cành ghép: Được lấy từ cây đầu dòng các giống đã được công nhận

Cành có độ tuổi từ 30-65 ngày tuổi Chồi non khỏe, không sâu bệnh

Cách lấy và bảo quản mắt ghép: Cành ghép được cắt vào buổi sáng, khi thời tiết mát mẻ Cắt bỏ toàn bộ lá trên đoạn cành ghép Bọc cành ghép trong giẻ

ẩm thành từng bó 200-300 mắt hoặc xếp mắt ghép vào thùng xốp thành từng lớp

15 – 20 cm rồi phủ kín vải ẩm lên trên Bảo quản cành ghép nơi râm mát, kín gió

Dẻ quấn cành ghép được giữ ẩm liên tục trong quá trình bảo Với cành ghép non, 30-35 ngày tuổi, dùng dây ghép chuyên dụng quấn kín đoạn cành ghép trước khi bảo quản, vận chuyển đến nơi ghép Thời gian bảo quản tối đa là 4 ngày Mắt ghép sau bảo quản phải tươi

* Chuẩn bị cây gốc ghép: Cưa đốn hạ độ cao cây cây gốc ghép đến cành

cấp 1 hoặc cấp 2 (cây gốc ghép dưới 10 năm tuổi được đốn đến cành cấp 1, cây gốc ghép từ 10-15 năm tuổi được đốn đến cành cấp 2) Cưa đốn tạo chồi tái sinh được tiến hành vào vụ Xuân hoặc vụ Thu, tùy điều kiện từng vùng Bón phân cho cây ngay trước hoặc sau khi cưa đốn

Thường xuyên tỉa định chồi, để lại từ 2-4 chồi/cành cưa đốn, các cành này phân bố đều về các hướng

Tưới ẩm vườn trước khi ghép 1 ngày

Chồi tái sinh đạt 30-60 ngày tuổi (chồi tái sinh còn non) thì tiến hành ghép

* Thời vụ ghép:

Với cành ghép tuổi từ 30-35 ngày tuổi ghép vào vụ Đông, tránh ngày mưa

ẩm, hoặc ngày có nhiệt độ dưới 170C, giữ nguyên cả ngọn chồi non khi ghép

Với cành ghép từ 40- 50 ngày tuổi ghép vào vụ Thu và vụ Đông, tránh ngày mưa ẩm, hoặc ngày có nhiệt độ dưới 170

C

Cành ghép 60 ngày tuổi ghép vào vụ Xuân và Thu

* Kỹ thuật ghép: Sử dụng phương pháp ghép đoạn cành

Xác định điểm ghép trên chồi tái sinh cây gốc ghép, cắt bỏ phần ngọn chồi tái sinh Dùng dao chuyên dụng, sắc, cắt một lát vát, phẳng trên cành mắt ghép Chiều dài vết cắt khoảng 1,0 – 1,5 cm Độ dài đoạn cành để ghép dài 6-7 cm, giữ nguyên đỉnh ngọn cành ghép (đối với cành ghép non 30-35 ngày tuổi) Dùng dao chẻ một lát thật phẳng từ đỉnh chồi tái sinh xuống dưới tạo ra mặt phẳng tương đương với mặt phẳng được tạo ra trên cành ghép Chêm đoạn cành ghép vào gốc ghép, dùng dây chuyên dụng quấn chặt, kín vết ghép

* Chăm sóc sau ghép

Tưới nước giữ ẩm: sau khi ghép 3 - 5 ngày, thường xuyên tưới nước giữ ẩm

gốc cây

Tỉa bỏ mầm dại: sau khi ghép, vặt bỏ toàn bộ các chồi bất định mọc ra trên

gốc ghép Công việc này được tiến hành thường xuyên khi mầm dại dưới 5 cm

Cắt dây ghép: khi đợt lộc thứ hai của mầm ghép thành thục, dùng dao sắc cắt dứt dây ghép quấn quanh vết ghép Công việc này cần làm kịp thời và triệt để,

Trang 26

không để dây ghép thắt vào cành ghép

Phòng trừ sâu bệnh: Phun thuốc phòng trừ sâu ăn lá, rầy, rệp ngay mỗi lần

xuất hiện đợt lộc mới, khi lộc nhú dài 5 – 10 cm

Bón thúc: khi lộc thứ 2 thuần thục, hòa loãng phân đạm (0,2%) tưới xung quanh gốc vào các buổi chiều mát với lượng từ 10-20 lít/cây Bổ xung thêm phân bón qua lá khi đợt lộc thứ nhất dài 5-10 cm, mỗi lần cách nhau 20-30 ngày

Sau khi ghép cải tạo từ 12 tháng trở lên, cây bắt đầu ra hoa và cho quả

II Kỹ thuật chăm sóc nhãn thời kỳ kinh doanh

1 Bón phân cho nhãn

Lượng phân bón cho nhãn ở thời kỳ mang quả

(Áp dụng cho vườn nhãn có năng suất quả trung bình)

Loại phân

Lượng phân bón theo tuổi cây (kg/năm)

Cây 4 - 6 năm tuổi

Cây 7 - 10 năm tuổi Cây trên 10 tuổi

Phân chuồng hoai

mục, hoặc phân hữu

+ Thời kỳ bón: Toàn bộ lượng phân bón được chia làm 3 - 5 lần bón trong năm tùy điều kiện chăm sóc

- Lần 1: Bón thúc hoa và nuôi lộc xuân Bón vào tháng 2 - 3 với 30% phân đạm, 20-30% kali và 10 - 20% phân lân Lần bón này có thể chia nhỏ: Bón vào đầu tháng 2 giúp cho cây phân hoá mầm hoa tốt lần tiếp theo bón vào cuối tháng

3 - đầu tháng 4 làm cho chùm hoa phát triển tốt, giảm tỷ lệ rụng quả sinh lý

- Lần 2: Bón thúc quả: giúp quả phát triển tốt và giảm tỷ lệ rụng quả, bón vào tháng cuối tháng 5 – tháng 6 với 40% phân đạm và 40-50% phân kali

- Lần 3: Bón sau khi thu hoạch quả giúp cây phục hồi sinh trưởng, thúc đẩy lộc thu Bón vào tháng 9 với toàn bộ lượng phân hữu cơ, phân lân, phân đạm, kali còn lại

+ Cách bón

- Bón phân vô cơ (lần 1 + lần 2): Khi trời khô hạn thì hoà tan phân trong

Trang 27

nước để tưới hoặc có thể rải phân trên mặt đất theo hình chiếu tán cây, sau đó tưới nước cho phân tan đều vào đất

- Bón phân hữu cơ: bón vào cuối năm, đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 20- 30cm, sâu khoảng 15cm, rải phân hữu cơ xuống trước rồi đến phân vô cơ, lấp đất

2 Tưới nước cho cây: Cây nhãn rất cần nước giai đoạn ra hoa, đậu quả và

khi quả đang phát triển mạnh Đặc biệt giai đoạn trước ra hoa, giai đoạn phát triển quả tức là vào tháng 2 đến tháng 4 nhất thiết phải tưới đủ ẩm Độ ẩm đất phải đạt 70% độ ẩm bão hòa của đất

- Thường xuyên làm cỏ xung quanh gốc theo hình chiếu của tán cây để hạn chế

sự cạnh tranh dinh dưỡng, hạn chế sự cư trú, xâm nhập của sâu bệnh gây hại

3 Tỉa hoa, tỉa quả

Vào những năm sai quả, cần tỉa bớt đi một số chùm hoa, quả trên cây, tập trung ở những chùm hoa, quả của các cành trên đỉnh ngọn (cành chổng lên), những chùn quá to hoặc quá nhỏ giúp cho quả to đều, tạo nhiều cành hè và cành thu là cành mẹ cho năm sau

Thời gian tỉa hoa thích hợp là vào tháng 3 khi chùm hoa đã dài khoảng 12 -

15 cm, nụ hoa trông đã rõ nhưng chưa nở Tuỳ thuộc vào khả năng cho ra hoa của từng cây mà có thể tỉa bỏ 20 - 30% số chùm hoa, tỉa bỏ các chùm hoa bị sâu bệnh, các chùm hoa nhỏ, hoa ở những cành trên ngọn

Sau khi kết thúc đợt rụng quả sinh lý, khi quả đã lớn bằng hạt đậu tương, tiến hành tỉa bỏ những quả bị sâu bệnh, quả dị hình Những chùm quả quá lớn cần tỉa bỏ bớt những quả đầu chùm, chỉ để lại 60 - 80 quả non

4 Cắt tỉa tạo tán sau thu hoạch

- Sau khi thu hoạch phải cắt tỉa toàn bộ những cành tăm, cành bị sâu bệnh, cành trong tán, cành vượt, cành sát mặt đất cành già cỗi tạo cho cây thông thoáng Ngoài ra trong suốt quá trình sinh trưởng cần phải thường xuyên cắt tỉa những cành vô hiệu cho cây

III Phòng trừ một số đối tượng sâu bệnh gây hại

Nhãn chủ yếu bị số số sâu bệnh hại chính như: Bọ xít nhãn; Rệp hại hoa và quả non; Sâu ăn lá (sâu đo, sâu khoang, câu cấu, bọ nẹt); Sâu tiện vỏ, sâu đục gân

lá và sâu đục thân, đục cành Bệnh chổi rồng; Bệnh sương mai, thán thư

Ngoài ra cần chú ý một số đối tượng sâu bệnh giai đoạn cận thu hoạch như: sau đục cuống quả, ruồi vàng, bệnh thối quả

IV Thu hoạch nhãn

* Thời điểm thu hoạch

- Thu hoạch khi vỏ quả chuyển sang màu nâu vàng, vỏ quả mỏng và nhẵn, quả mềm, cùi có vị thơm, hạt có màu đen Khi sử dụng cho chế biến có thể thu hoạch quả khi đạt 80 - 90% độ chín hoàn toàn

Trang 28

- Thu hoạch quả vào những ngày trời tạnh ráo vào buổi sáng hoặc buổi chiều mát, tránh thu hoạch vào giữa trưa khi trời quá nóng

* Kỹ thuật thu hái

Dùng kéo cắt sát đến nhánh quả cuối cùng và có kèm theo một vài cành lá, không nên dùng tay để bẻ sẽ làm xước cành và ảnh hưởng đến vụ quả sau, khi thu hoạch quả cần phải có thang chuyên dụng

* Kỹ thuật bao gói và vận chuyển

Quả sau khi thu hoạch được để nơi râm mát, đợi cho ráo nước trên bề mặt quả, xếp vào sọt có lót lá nhãn, lá chuối hoặc rơm rạ chuyển đến địa điểm tập trung Khi xếp vào sọt chú ý để quả quay xung quanh thành sọt, cuống quả chụm vào giữa, xếp theo lớp nhẹ tay, giữa sọt hình thành khe trống để thông khí, tránh toả nhiệt làm biến chất và đổi màu quả

Có thể sử dụng kỹ thuật xông khí sulfur dioxide (SO2) bằng bình khí chứa

SO2 lỏng để phòng trừ nấm bệnh gây thối hỏng quả và làm màu vỏ quả đẹp sáng hơn Nồng độ SO2 để xông khoảng 2 - 2,5% thời gian khoảng 30 phút;

Hoặc bảo quản trong điều kiện nhiệt độ thấp 3-50C và độ ẩm 95%./

Ngày đăng: 24/09/2021, 16:53

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, chắc chắn, bầu có đường kính khoảng 1m, cao hơn so với mặt đất trong bầu từ 10-15cm để giữ nước - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
au khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, chắc chắn, bầu có đường kính khoảng 1m, cao hơn so với mặt đất trong bầu từ 10-15cm để giữ nước (Trang 2)
2.4. Tạo hình, tỉa cành - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
2.4. Tạo hình, tỉa cành (Trang 4)
3. Tạo hình, tỉa cành, vệ sinh vườn cây. - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
3. Tạo hình, tỉa cành, vệ sinh vườn cây (Trang 5)
1.6. Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
1.6. Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, (Trang 9)
1.6. Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
1.6. Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, (Trang 16)
1.4. Thời vụ trồng: Thời vụ trồng tốt nhất tháng 3,4 hoặc tháng 8, 9. Khi thời tiết đang có mưa hoặc vừa tạnh mưa, đất quá nhão không nên trồng, đợi cho  - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
1.4. Thời vụ trồng: Thời vụ trồng tốt nhất tháng 3,4 hoặc tháng 8, 9. Khi thời tiết đang có mưa hoặc vừa tạnh mưa, đất quá nhão không nên trồng, đợi cho (Trang 16)
2.4. Tạo hình, tỉa cành - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
2.4. Tạo hình, tỉa cành (Trang 18)
1.6. Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
1.6. Chăm sóc sau trồng: Sau khi trồng tiến hành lên bầu hình lòng chảo, (Trang 23)
Cách bón: Hoà với nước tưới hoặc bón trực tiếp theo hình chiếu tán cây. Có thể tận dụng khi  trời mưa rào, đất ẩm để rắc phân xung quanh hình chiếu tán cây - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
ch bón: Hoà với nước tưới hoặc bón trực tiếp theo hình chiếu tán cây. Có thể tận dụng khi trời mưa rào, đất ẩm để rắc phân xung quanh hình chiếu tán cây (Trang 24)
Cách bón: Hoà với nước tưới hoặc bón trực tiếp theo hình chiếu tán cây. Có thể tận dụng khi  trời mưa rào, đất ẩm để rắc phân xung quanh hình chiếu tán cây - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
ch bón: Hoà với nước tưới hoặc bón trực tiếp theo hình chiếu tán cây. Có thể tận dụng khi trời mưa rào, đất ẩm để rắc phân xung quanh hình chiếu tán cây (Trang 30)
- Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 20- 30cm, sâu khoảng 15cm, rải phân hữu cơ xuống trước rồi  đến phân vô cơ, lấp đất - QUY TRÌNH KỸ THUẬT CANH TÁC CÂY CAM
n phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 20- 30cm, sâu khoảng 15cm, rải phân hữu cơ xuống trước rồi đến phân vô cơ, lấp đất (Trang 31)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w