Theo quan điểm Mác xít: Nếu mặt số lượng của lối sống chủ yếu thể hiện ở hệ thống chỉ tiêu về phúc lợi vật chất thì CLCS hoặc nói đúng hơn mặt chất lượng của lối sống trước hết thể hiện
Trang 1CHUYÊN ĐỀ CÁC TIÊU CHÍ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
ThS Vũ Hải Thiên Nga, NCS Nguyễn Trí
1 Một số khái niệm
1.1 Chất lượng
Chất lượng biểu hiện những thuộc tính của sự vật hiện tượng, mang tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, được biểu hiện ra bên ngoài bằng các thuộc tính của nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như là một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật
và không tách khỏi sự vật
Chất lượng của sự vật luôn luôn gắn liền với số lượng, mỗi sự vật bao giờ cũng có
sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng
Theo tiêu chuẩn ISO, chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có Như vậy chất lượng là khả năng thỏa mãn các nhu cầu của con người
về hàng hóa vật chất cũng như các dịch vụ tinh thần Các hàng hóa, dịch vụ đáp ứng tốt cho nhu cầu của con người thì loại hàng hóa dịch vụ đó được coi là có chất lượng
1.2 Chất lượng cuộc sống
Ngay từ xa xưa con người đã quan tâm đến CLCS của con người Con người có cuộc sống tốt, hạnh phúc khi con người được ăn no, mặc ấm, cuộc sống vui vẻ Aristotle đã khẳng định: “Người dân sống tốt, hạnh phúc thông qua học tâp và rèn luyện các đức tính tốt” Ông cũng cho rằng một quốc gia tốt nhất là quốc gia đảm bảo cho con người có cuộc sống hạnh phúc, tức là có CLCS cao
* Theo Các Mác và Ph Ăngghen
CLCS là phải giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, đảm bảo cho con người thực sự sống trong hòa bình và hạnh phúc Theo quan điểm Mác xít: Nếu mặt số lượng của lối sống chủ yếu thể hiện ở hệ thống chỉ tiêu về phúc lợi vật chất thì CLCS hoặc nói đúng hơn mặt chất lượng của lối sống trước hết thể hiện ở trình độ tự do XH và ở những điều kiện phát triển của cá nhân ở những giá trị tinh thần và văn hóa của nó
Như vậy, có thể hiểu “CLCS là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần, được dùng để đánh giá mức độ sự sảng khoái, hài lòng về thể chất, tâm thần và xã
Trang 2hội Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao CLCS cho con người là một nỗ lực của các quốc gia, xã hội và cả công đồng Quốc tế”
* Theo giáo sư Vũ Khiêu:
CLCS được hiểu là sự thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản của con người, CLCS được thể hiện qua hai mặt : lối sống và mức sống
- Mức sống là trình độ sinh hoạt vật chất của con người phản ánh trình độ đạt được
về mặt sản xuất và là phương tiện để đánh giá CLCS
- Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân
tộc, giai cấp, nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT - XH nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động, hưởng thụ, trong quan hệ, giữa người với người trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa
* Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá CLCS của con người bao gồm
cả thu nhập quốc dân bình quân đầu người, thành tựu y tế XH và trình độ văn hóa, giáo dục Tổng hợp lại là chỉ số phát triển con người (viết tắt HDI) Giá trị của HDI sẽ từ 0,00 đến 1 Nước nào có HDI lớn hơn chứng tỏ sự phát triển con người cao hơn Chỉ tiêu HDI
sẽ thể hiện toàn diện và đầy đủ hơn về sự phát triển, trình độ văn minh của một quốc gia, trên cơ sở đó cho phép nhìn nhận các nước giàu, nghèo tương đối chính xác và khách quan hơn Ngoài ra còn có thể kể đến tiêu chí như thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương (PPP) để có thể đánh giá mức sống chính xác hơn
Khái niệm mức sống chủ yếu nói lên khía cạnh số lượng của đời sống, khía cạnh KT của phúc lợi con người còn lối sống lại bao hàm cả đặc trưng chất lượng của hoạt động sống của con người
Do vậy, khó có thể định nghĩa một cách hoàn chỉnh thế nào là CLCS, nhưng có thể
định nghĩa một cách khái quát là : “CLCS là khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người trong hoạt động sống nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về vật chất – tinh thần”
2 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS
CLCS dân cư chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: Vị trí điạ lí, ĐKTN, TNTN, điều kiện KT - XH
2.1 Vị trí địa lí
Vị trí điạ lí ảnh hưởng đến khả năng giao thông buôn bán, đi lại, phát triển KT -XH
Do đó ảnh hưởng rất lớn đến CLCS dân cư VD: dân cư ở vùng hải đảo xa xôi cách trở, sẽ gặp nhiều khó khăn trong giao thông, giao lưu KT - XH
Trang 32.2 ĐKTN và TNTN
Các vùng có ĐKTN thuận lợi cho sản xuất và đời sống như : Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa sinh vật đa dang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tạo khả năng cung cấp đầy đủ nhu cầu LT - TP cho dân cư Ngược lại các vùng ĐKTN khó khăn: Khí hậu khắc nghiệt , đất đai cằn cỗi sẽ gây khó khăn cản trở cho việc nâng cao CLCS dân
cư
TNTN phong phú đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT, trao đổi hàng hóa tăng thu nhập góp phần nâng cao CLCS dân cư
ĐKTN và TNTN tạo điều kiện thuận lợi cho cư trú, sản xuất và giao thông đi lại cho dân cư Tuy nhiên trong thời kì hiện đại sản xuất phát triển mạnh mẽ, khai thác TNTN quá nhiều Nếu con người không chú ý bảo vệ môi trường thì TNTN sẽ bị thoái hóa, cạn kiệt nghiêm trọng gây khó khăn trong việc nâng cao CLCS dân cư VD: nguy cơ biến đổi khí hâu, xói mòn, sạt lở đất, lũ lụt
2.3 Điều kiện KT - XH
❖ Dân cư gia tăng dân số và sự phân bố dân cư
Dân cư là vốn quý của quốc gia, dân cư cung cấp lực lượng lao động đồng thời tiêu
thụ sản phẩm kích thích sản xuất phát triển Do vậy số lương, chất lượng dân cư ảnh hưởng rất lớn đến CLCS dân cư theo 2 phương diên tích cực và tiêu cực Nên phải chú ý đến quy
mô và cơ cấu dân số phù hợp với khả năng phát triển KT và năng cao CLCS Đặc biệt, các dân tộc khác nhau có CLCS khác biệt nhau phụ thuộc vào phong tục tập quán và quan niệm sống
❖ Trình độ phát triển KT - XH
Các quốc gia có nền KT phát triển, thu nhập cao, trình độ văn hóa, KHKT cao, nên
có điều kiện thuận lợi để nâng cao CLCS Ngược lại các nước nghèo KT chậm phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp gây khó khăn trong việc nâng cao CLCS dân cư
Trên thực tế các nước giầu CLCS cao, các nước nghèo CLCS thấp
❖ Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật
Mạng lưới GTVT, hệ thống điện, nước không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt mà còn là điều kiện để phát triển sản xuất Cho nên ở các vùng có cơ sở hạ tầng
kĩ thuật tốt thường là những vùng có khả năng đảm bảo CLCS ở mức cao Ngược lại, những vùng cơ sở vật chất kĩ thuật kém là vùng CLCS dân cư còn thấp
❖ Vốn, KHKT và công nghệ
Trang 4Các vùng có vốn đầu tư lớn, KHKT công nghệ cao là vùng có điều kiên phát triển
KT Đồng thời là vùng có điều kiện thuận lợi để nâng cao CLCS dân cư
❖ Đường lối chính sách
Đường lối chính sách đúng đắn, hợp lí sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển
KT và điều chỉnh thu nhập, chú ý đến các vấn đề XH giúp cho viêc nâng cao CLCS nhanh chóng có hiệu quả cao
VD: chính sách của nước ta đa thúc đẩy tăng trưởng CLCS cao hơn hẳn chỉ số tăng trưởng GDP, đồng thời đẩy nhanh tốc độ xóa đói, giảm nghèo
3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư
Các tiêu chí đánh giá CLCS là những vấn đề thiết yếu đối với cuộc sống con người
Đó chính là vấn đề lương thực dinh dưỡng, thu nhập, nhu cầu nhà ở, điện nước; …
3.1 Thu nhập và thu nhập bình quân đầu người
Tiêu chuẩn được nêu ra trước tiên để so sánh, đánh giá quy mô trình độ phát triển
KT và CLCS giữa các nước với nhau, đó chính là Tổng thu nhập quốc gia (GNI) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng các sản phẩm hàng hóa cuối cùng mà một nền KT tạo ra bên trong một quốc gia (không phân biệt người nước ngoài hay người trong nước)
So sánh GNI và GDP cho thấy, các nước trên thế giới thường rơi vào một trong ba trường hợp sau: Những nước có GNI lớn hơn GDP là những nước có nền KT phát triển có đầu tư ra nước ngoài nhiều, các khoản thu gửi từ nước ngoai về nước lớn trong khi các khoản tiền phải chuyển trả cho người nước ngoài ít hơn Những nước này thường là các nước có nền KT phát triển như: Mỹ, Nhật, Tây Âu…
Ngược lại những nước có GDP lớn hơn GNI thường là những nước đang hoặc kém phát triển, các nước này đang tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì vậy, giá trị được tạo ra trên lãnh thổ đất nước đó, phần lớn do các chủ sở hữu người nước ngoài
Trường hợp thứ ba là GNI và GDP bằng nhau xảy ra trong hai trường hợp: Thứ nhất
là do nền KT nước đó đóng cửa, không đầu tư ra nước ngoài cũng như không nhận đầu tư nước ngoài vào nước mình Thứ hai khi thu nhập của nươc đó đầu tư ra nước ngoài và thu nhâp của người nước ngoài trên lãnh thổ nước đó ngẫu nhiên bằng nhau
Để đánh giá chính xác sự phát triển của một quốc gia và nhận xét sự chênh lệch về đời sống vật chất giữa các quốc gia thì người ta dùng chỉ tiêu GNI và GDP tính bình quân đâu người (GNI/người hoặc GDP/người) Chỉ số này được tính theo tiền riêng của mỗi quốc gia sau đó quy đổi ra USD theo tỉ giá hối đoái chính thức giữa hai loại tiền, nhưng chưa tính đến giá cả sinh hoạt của từng nước Như thế thu nhâp thưc tế sẽ bị giá cả chi phối lại có nghĩa mức sống sẽ tăng giảm phụ thuộc vào mức độ tăng hay giảm của giá cả
Trang 5Chỉ số mức sống theo GDP/đầu người và điều chỉnh theo sức mua tương đương và GDP/người của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới cho thấy sự chênh lệch giữa hai cách tính qua bảng 1.1 và bảng 1.2
Bảng 1.1 GDP bình quân đầu người và GDP/ người theo PPP của một số quốc gia
năm 2014
Hạng
GDP/người Quốc gia
GDP/người (USD)
GDP/người (USD)theo PPP HDI
Thứ hạng HDI
Nguồn: IMF và “Human Development Report 2014” Bảng 1.2 Các quốc gia có GDP/ người; GDP/ người theo PPP và chỉ số HDI thấp
Quốc gia GDP/ người
(USD)
GDP/ người (USD) theo PPP Chỉ số HDI
Thứ hạng HDI
Nguồn: IMF và “Human Development Report 2014”
Trang 6Bảng 1.1 và bảng 1.2 cho thấy, không phải bất cứ nước nào có thu nhập cao thì CLCS đều cao Vì CLCS là khái niệm rất rộng, phụ thuộc vào nhiều tiêu chí Nhiều nước thu nhập tương đương nhau nhưng có chỉ số phát triển con người (HDI) – là chỉ số thể hiện CLCS rõ nhất lại khác biệt nhau Do mức độ đầu tư y tế, giáo dục và giá cả sinh hoạt khác nhau, đáp ứng phúc lợi xã hội cho con người khác nhau Ngược lại, có những quốc gia tuy
có thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống vật chất còn khó khăn nhưng lại quan tâm tới mục tiêu giáo dục, y tế, sức khỏe cho dân cư nhiều hơn nên chỉ số HDI lại cao hơn Chính vì vậy, Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI)
3.2 Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI)
HDI là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát
về sự phát triển của một quốc gia Chỉ số này được phát triển bởi một KT gia người Pakistan là Mahbub ul Haq và nhà KT học người Ấn Độ Amartya Sen vào năm 1990
Những chỉ số tổng hợp thể hiện HDI trên toàn thế giới đã được tính toán từ thập kỉ
90 của thế kỉ XX đến nay đã cho thấy cơ bản các tiêu chí chính của CLCS dân cư các quốc gia trên Thế giới đã tăng lên rõ rệt Tuổi thọ dân cư Thế giới tăng lên và đạt mức 67,2 tuổi (2014), tỉ lệ dân số biết chữ cũng tăng lên nhanh chóng, đạt tỉ lệ gần như tuyệt đối ở nhóm nước giàu - nhóm nước KT phát triển (bảng 1.3)
Ngược lại những nước nghèo thu nhập thấp, tỉ lệ biết chữ rất khiêm tốn như Burkina Faso: 12,8%, Niger: 14,4%; Mali: 19 % dân số biết chữ Trong khi Úc, Áo, Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Hà Lan tỉ lệ dân số biết chữ lên tới trên 99,9% Còn Việt Nam thu nhấp thấp nhưng chỉ số biết chữ lên tới 97,3%
Bảng 1.3 Mười quốc gia có tỷ lệ dân cư biết chữ cao nhất và thấp nhất thế giới, năm 2014
STT
Thứ hạng
tỉ lệ biết
chữ so
thế giới
Quốc gia
Tỉ lệ dân
số biết chữ
Thứ hạng
tỉ lệ biết chữ so thế giới
Quốc gia Tỉ lệ dân
số biết chữ
Trang 77 1 Phần Lan 99,9 172 Tchad 25,5
Nguồn: UNDP 2014
Ở nước ta nhờ chính sách và sự quan tâm tới phát triển con người của Đảng và Nhà nước, các chỉ số phát triển con người có sự tiến bộ rõ rệt, với đặc điểm nổi bật là các chỉ số
về mặt XH cao hơn chỉ số phát triển KT
Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua tương đương và đã tăng liên tục qua các năm: năm 1995 mới đạt 1.236 USD, năm 2003 đạt khoảng 2.493 USD, năm 2004 đạt khoảng 2.644 USD và năm 2014 đạt khoảng 5294 USD Theo báo cáo năm 2014 của UNDP Việt Nam xếp 121 trên 187 nước theo chỉ số HDI Xếp hạng của Việt Nam về HDI đã cao hơn xếp hạng về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua tương đương
So với mức bình quân của ĐNA, chỉ số HDI của Việt Nam chỉ trên Myanmar, Lào, Đông Timor và Campuchia, vẫn xếp sau Philippines, Thái Lan, Malaysia Nếu xếp GDP bình quân đầu người theo PPP của Việt Nam cũng còn có khoảng cách rất xa với các nươc phát triển mạnh trong khu vực
3.3 Lương thực và dinh dưỡng
Con người sống không thể thiếu lương thực cung cấp cho nhu cầu hàng ngày của mình Nhu cầu về cung cấp năng lượng cũng thay đổi theo vùng (ôn đới, nhiệt đới) theo độ tuổi, giới, mức độ lao động…Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá mức sống dân cư Không một chỉ tiêu KT nào đo lường mức độ thịnh vượng hay phát triển của một nước lại có ý nghĩa bằng sự cung cấp lương thực thực phẩm đủ đáp ứng nhu cầu calori hàng ngày và đảm bảo cân đối giữa các hàm lượng chất đạm, chất béo, chất đường và các loại khoáng chất, vitamin trong bữa ăn Tuy vậy khả năng đáp ứng lương thực cũng khác nhau trên toàn thế giới Có nơi thiếu và thiếu trầm trọng lương thực thực phẩm như các nước kém phát triển tiêu biểu là châu Phi Ví dụ: Sômali 25 kg/ người, Sênêgal 86 kg/ người, Ethiopia 120 kg/ người (1998)
Theo FAO nếu mức gia tăng dân số là 1% thì mức lương thực phải tăng là 2,5% thì mới đảm bảo cho cuộc sống Theo các chuyên gia KT để đủ no về chất lượng mỗi người cần khoảng 800-1000 kg lương thực/năm
Để đảm bảo dinh dưỡng cung cấp đầy đủ lượng calo cần thiết cho mỗi người, cơ cấu bữa ăn là rất quan trọng Nó bao gồm các chất giàu đường, đạm, chất béo, vitamin và muối
Trang 8khoáng Trong đó, quan trọng nhất là lượng đạm cung cấp cho cơ thể Bởi không đủ lượng đạm lấy từ thực phẩm như cá, thịt, trứng con người sẽ bị thiếu dinh dưỡng, chóng mệt mỏi không đủ sức khỏe để tham gia lao động Số calo tiêu thụ hàng ngày cho 1 người được coi
là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu Theo tổ chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc đưa ra lượng calo tối thiểu cho một người là 2360 calori/ ngày Trong khi
đó tổ chức y tế thế giới lại đưa ra con số 2100 làm ranh giới cho sự nghèo đói
Tuy nhiên ranh giới này giữa các nước, các khu vực có sự khác nhau Đối với các nước phát triển lượng calo cung cấp luôn thừa với nhu cầu của cơ thể Khẩu phần bữa ăn hàng ngày đạt 3377 calo/ người, cao hơn 749 calo so với các nước đang phát triển Để đạt được từ 2500-3000 calo/ người/ ngày ở các nước phát triển Đối với các nước kém phát triển lượng calo luôn thiếu hụt
Theo số liệu của tổ chức Y tế thế giới, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 40.000 trẻ
em chết do thiếu dinh dưỡng nặng, hàng năm có khoảng 250.000 trẻ em bị mù do thiếu vitamin A Số người bị thiếu máu dinh dưỡng ước tính đến 2000 triệu người và 400 triệu người khác bị bướu cổ do thiếu iốt Ở nhiều nước đã phát triển, lượng calo bình quân hằng ngày đạt trên 3000 kcalo/ người ( châu âu 3000 Kcal, Bắc Mỹ 3100 Kcalo, Úc 3200 kcal) lượng chất béo sử dụng hàng ngày trên 100g/người ( Bắc Mỹ 146 g, Tây Âu 118 g, Úc 136
g ) chiếm 40% tổng số nhiệt lượng ăn vào Ở các nước này bệnh béo phì , vừa xơ động mạch, bệnh cao huyết áp và tim mạch, bệnh đái đường là những vấn đề sức khỏe xã hội quan trọng
3.4 Chăm sóc sức khỏe, dịch vụ y tế
Sức khỏe là điều kiện quan trọng để phát triển xã hội trong hiện tại và tương lai Chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế thể hiện sự quan tâm đến cộng đồng, là nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao mức sống dân cư của mỗi khu vực, mỗi quốc gia Theo WHO, chỉ tiêu sức khỏe - dịch vụ y tế gồm mức đầu tư ngân sách cho chăm sóc sức khỏe và dịch
vụ y tế tính theo tổng chi ngân sách hoặc GDP, chất lượng và số lượng y bác sĩ , cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho khám chữa bệnh - chăm sóc sức khỏe, tuổi thọ bình quân của dân
cư, tỉ suất tử vong nói chung Đặc biệt là tỉ suất chết của trẻ em, tỉ lệ dân số mắc các loại bệnh ở một gia đình, một quốc gia Sức khoẻ là cơ sở để loài người tồn tại và phát triển tốt,
có sức khỏe con người mới có hiệu suất làm việc cao nhất
Trang 9Bảng 1.6 Tình hình đảm bảo sức khỏe theo khu vực và theo thu nhập
Tỉ lệ trẻ em
>1tuổi được tiêm phòng (%)
Số người dân/1bác sĩ
Tỉ lệ chi y tế
so với GNP(%)
Khu vực
Thu nhập
Nguồn: Nguyễn Minh Tuệ Dân số và sự phát triển KTXH, ĐHSP Hà Nội.1996
Qua bảng 1.7 cho thấy ở các nước KT phát triển, có thu nhập bình quân đầu người cao thì mức độ đầu tư cho y tế cao và chăm sóc sức khỏe tốt Số lượng bác sĩ nhiều, trình
độ cao, trang thiết bị hiện đại, có khả năng chữa được những bệnh hiểm nghèo
Ở các nước đang phát triển thu nhập bình quân thấp hơn rất nhiều, dân số phát triển nhanh cho nên việc đầu tư phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe không theo kịp Chi cho y
tế thấp chỉ có 1.7% so với GNP chỉ bằng 1/5 so với các nước có thu nhập cao Hơn nữa, các dịch vụ y tế thường quá ít và phân bố không đều, tập trung ở khu vực thành thị nhiều gấp nhiều lần so với nông thôn Ở các nước kém phát triển thu nhập chủ yếu cho ăn uống
Tỉ lệ chi cho y tế, giáo dục, vui chơi giải trí ít Chất lượng khám chữa bệnh chưa đáp ứng kịp thời với nhu cầu thực tế Tỉ lệ bác sỹ/1 vạn dân thấp Việc quan tâm đến các loại bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm tại các nước này chưa được chú trọng, 3 nhóm bệnh phổ biến nhất là bệnh truyền nhiễm, bệnh hô hấp, bệnh do ký sinh trùng chiếm gần nửa số nguyên nhân tử vong Trong khi đó ở những nước phát triển thì những bệnh này được kiểm soát khá tốt
Trang 10Bảng 1.7 Mười quốc gia có tỉ lệ lây nhiễm HIV-AIDS cao nhất thế giới năm 1999
Các quốc gia Tỉ lệ % người từ 15-49 tuổi
Nguồn:ONUSIDA-Trong thế giới toàn cảnh
Qua bảng trên có thể thấy trong số 10 quốc gia có tỉ lệ nhiễm virút HIV cao nhất thế giới thì đã có tới 9 quốc gia là những nước có nền KT kém phát triển Đặc biệt những quốc gia này tập trung chủ yếu ở vùng hạ Sahara
Thật sự là một mối lo lớn cho việc nâng cao mức sống cư dân ở những nước khi mà nạn đói, bệnh tật đói nghèo luôn luôn đe dọa cuộc sống của họ Việc chăm sóc điều trị cho các bệnh không chỉ đối với bệnh AIDS mà còn đối với nhiều bệnh lây nhiễm khác cũng gặp nhiều trở ngại
Trên toàn cầu, ước tính 35,3 triệu người sống chung với HIV trong năm 2012 Có 2,3 triệu ca nhiễm mới HIV (7000 ca nhiễm mới ca/ ngày) trên toàn cầu, cho thấy một sự suy giảm 33% trong số các ca nhiễm mới từ 3,4 triệu trong năm 2001 Đồng thời số lượng người chết vì AIDS cũng đang giảm với 1,6 triệu người chết vì AIDS trong năm 2012, giảm từ 2,3 triệu vào năm 2005 Như vậy, tình hình dịch HIV/AIDS cũng đang có chiều hướng “sáng sủa” dần lên, đây là kết quả của những nỗ lực không ngừng trong công tác truyền thông phòng chống HIV và việc mở rộng tiếp cận điều trị kháng virus