1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÁC TIÊU CHÍ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

17 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 467,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm Mác xít: Nếu mặt số lượng của lối sống chủ yếu thể hiện ở hệ thống chỉ tiêu về phúc lợi vật chất thì CLCS hoặc nói đúng hơn mặt chất lượng của lối sống trước hết thể hiện

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ CÁC TIÊU CHÍ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG

ThS Vũ Hải Thiên Nga, NCS Nguyễn Trí

1 Một số khái niệm

1.1 Chất lượng

Chất lượng biểu hiện những thuộc tính của sự vật hiện tượng, mang tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, được biểu hiện ra bên ngoài bằng các thuộc tính của nó là sự liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như là một tổng thể bao quát toàn bộ sự vật

và không tách khỏi sự vật

Chất lượng của sự vật luôn luôn gắn liền với số lượng, mỗi sự vật bao giờ cũng có

sự thống nhất giữa số lượng và chất lượng

Theo tiêu chuẩn ISO, chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có Như vậy chất lượng là khả năng thỏa mãn các nhu cầu của con người

về hàng hóa vật chất cũng như các dịch vụ tinh thần Các hàng hóa, dịch vụ đáp ứng tốt cho nhu cầu của con người thì loại hàng hóa dịch vụ đó được coi là có chất lượng

1.2 Chất lượng cuộc sống

Ngay từ xa xưa con người đã quan tâm đến CLCS của con người Con người có cuộc sống tốt, hạnh phúc khi con người được ăn no, mặc ấm, cuộc sống vui vẻ Aristotle đã khẳng định: “Người dân sống tốt, hạnh phúc thông qua học tâp và rèn luyện các đức tính tốt” Ông cũng cho rằng một quốc gia tốt nhất là quốc gia đảm bảo cho con người có cuộc sống hạnh phúc, tức là có CLCS cao

* Theo Các Mác và Ph Ăngghen

CLCS là phải giải phóng con người khỏi áp bức bóc lột, đảm bảo cho con người thực sự sống trong hòa bình và hạnh phúc Theo quan điểm Mác xít: Nếu mặt số lượng của lối sống chủ yếu thể hiện ở hệ thống chỉ tiêu về phúc lợi vật chất thì CLCS hoặc nói đúng hơn mặt chất lượng của lối sống trước hết thể hiện ở trình độ tự do XH và ở những điều kiện phát triển của cá nhân ở những giá trị tinh thần và văn hóa của nó

Như vậy, có thể hiểu “CLCS là thước đo về phúc lợi vật chất và giá trị tinh thần, được dùng để đánh giá mức độ sự sảng khoái, hài lòng về thể chất, tâm thần và xã

Trang 2

hội Trong thời đại ngày nay, việc không ngừng nâng cao CLCS cho con người là một nỗ lực của các quốc gia, xã hội và cả công đồng Quốc tế”

* Theo giáo sư Vũ Khiêu:

CLCS được hiểu là sự thỏa mãn một số nhu cầu cơ bản của con người, CLCS được thể hiện qua hai mặt : lối sống và mức sống

- Mức sống là trình độ sinh hoạt vật chất của con người phản ánh trình độ đạt được

về mặt sản xuất và là phương tiện để đánh giá CLCS

- Lối sống là một phạm trù xã hội học khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân

tộc, giai cấp, nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái KT - XH nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động, hưởng thụ, trong quan hệ, giữa người với người trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa

* Liên Hiệp Quốc cũng đưa ra chỉ tiêu để đánh giá CLCS của con người bao gồm

cả thu nhập quốc dân bình quân đầu người, thành tựu y tế XH và trình độ văn hóa, giáo dục Tổng hợp lại là chỉ số phát triển con người (viết tắt HDI) Giá trị của HDI sẽ từ 0,00 đến 1 Nước nào có HDI lớn hơn chứng tỏ sự phát triển con người cao hơn Chỉ tiêu HDI

sẽ thể hiện toàn diện và đầy đủ hơn về sự phát triển, trình độ văn minh của một quốc gia, trên cơ sở đó cho phép nhìn nhận các nước giàu, nghèo tương đối chính xác và khách quan hơn Ngoài ra còn có thể kể đến tiêu chí như thu nhập bình quân đầu người theo sức mua tương đương (PPP) để có thể đánh giá mức sống chính xác hơn

Khái niệm mức sống chủ yếu nói lên khía cạnh số lượng của đời sống, khía cạnh KT của phúc lợi con người còn lối sống lại bao hàm cả đặc trưng chất lượng của hoạt động sống của con người

Do vậy, khó có thể định nghĩa một cách hoàn chỉnh thế nào là CLCS, nhưng có thể

định nghĩa một cách khái quát là : “CLCS là khả năng đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần của con người trong hoạt động sống nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về vật chất – tinh thần”

2 Các nhân tố ảnh hưởng đến CLCS

CLCS dân cư chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố: Vị trí điạ lí, ĐKTN, TNTN, điều kiện KT - XH

2.1 Vị trí địa lí

Vị trí điạ lí ảnh hưởng đến khả năng giao thông buôn bán, đi lại, phát triển KT -XH

Do đó ảnh hưởng rất lớn đến CLCS dân cư VD: dân cư ở vùng hải đảo xa xôi cách trở, sẽ gặp nhiều khó khăn trong giao thông, giao lưu KT - XH

Trang 3

2.2 ĐKTN và TNTN

Các vùng có ĐKTN thuận lợi cho sản xuất và đời sống như : Đất đai màu mỡ, khí hậu ôn hòa sinh vật đa dang sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, tạo khả năng cung cấp đầy đủ nhu cầu LT - TP cho dân cư Ngược lại các vùng ĐKTN khó khăn: Khí hậu khắc nghiệt , đất đai cằn cỗi sẽ gây khó khăn cản trở cho việc nâng cao CLCS dân

TNTN phong phú đa dạng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển KT, trao đổi hàng hóa tăng thu nhập góp phần nâng cao CLCS dân cư

ĐKTN và TNTN tạo điều kiện thuận lợi cho cư trú, sản xuất và giao thông đi lại cho dân cư Tuy nhiên trong thời kì hiện đại sản xuất phát triển mạnh mẽ, khai thác TNTN quá nhiều Nếu con người không chú ý bảo vệ môi trường thì TNTN sẽ bị thoái hóa, cạn kiệt nghiêm trọng gây khó khăn trong việc nâng cao CLCS dân cư VD: nguy cơ biến đổi khí hâu, xói mòn, sạt lở đất, lũ lụt

2.3 Điều kiện KT - XH

❖ Dân cư gia tăng dân số và sự phân bố dân cư

Dân cư là vốn quý của quốc gia, dân cư cung cấp lực lượng lao động đồng thời tiêu

thụ sản phẩm kích thích sản xuất phát triển Do vậy số lương, chất lượng dân cư ảnh hưởng rất lớn đến CLCS dân cư theo 2 phương diên tích cực và tiêu cực Nên phải chú ý đến quy

mô và cơ cấu dân số phù hợp với khả năng phát triển KT và năng cao CLCS Đặc biệt, các dân tộc khác nhau có CLCS khác biệt nhau phụ thuộc vào phong tục tập quán và quan niệm sống

❖ Trình độ phát triển KT - XH

Các quốc gia có nền KT phát triển, thu nhập cao, trình độ văn hóa, KHKT cao, nên

có điều kiện thuận lợi để nâng cao CLCS Ngược lại các nước nghèo KT chậm phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp gây khó khăn trong việc nâng cao CLCS dân cư

Trên thực tế các nước giầu CLCS cao, các nước nghèo CLCS thấp

❖ Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật

Mạng lưới GTVT, hệ thống điện, nước không chỉ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt mà còn là điều kiện để phát triển sản xuất Cho nên ở các vùng có cơ sở hạ tầng

kĩ thuật tốt thường là những vùng có khả năng đảm bảo CLCS ở mức cao Ngược lại, những vùng cơ sở vật chất kĩ thuật kém là vùng CLCS dân cư còn thấp

❖ Vốn, KHKT và công nghệ

Trang 4

Các vùng có vốn đầu tư lớn, KHKT công nghệ cao là vùng có điều kiên phát triển

KT Đồng thời là vùng có điều kiện thuận lợi để nâng cao CLCS dân cư

❖ Đường lối chính sách

Đường lối chính sách đúng đắn, hợp lí sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển

KT và điều chỉnh thu nhập, chú ý đến các vấn đề XH giúp cho viêc nâng cao CLCS nhanh chóng có hiệu quả cao

VD: chính sách của nước ta đa thúc đẩy tăng trưởng CLCS cao hơn hẳn chỉ số tăng trưởng GDP, đồng thời đẩy nhanh tốc độ xóa đói, giảm nghèo

3 Các tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc sống dân cư

Các tiêu chí đánh giá CLCS là những vấn đề thiết yếu đối với cuộc sống con người

Đó chính là vấn đề lương thực dinh dưỡng, thu nhập, nhu cầu nhà ở, điện nước; …

3.1 Thu nhập và thu nhập bình quân đầu người

Tiêu chuẩn được nêu ra trước tiên để so sánh, đánh giá quy mô trình độ phát triển

KT và CLCS giữa các nước với nhau, đó chính là Tổng thu nhập quốc gia (GNI) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng các sản phẩm hàng hóa cuối cùng mà một nền KT tạo ra bên trong một quốc gia (không phân biệt người nước ngoài hay người trong nước)

So sánh GNI và GDP cho thấy, các nước trên thế giới thường rơi vào một trong ba trường hợp sau: Những nước có GNI lớn hơn GDP là những nước có nền KT phát triển có đầu tư ra nước ngoài nhiều, các khoản thu gửi từ nước ngoai về nước lớn trong khi các khoản tiền phải chuyển trả cho người nước ngoài ít hơn Những nước này thường là các nước có nền KT phát triển như: Mỹ, Nhật, Tây Âu…

Ngược lại những nước có GDP lớn hơn GNI thường là những nước đang hoặc kém phát triển, các nước này đang tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài vì vậy, giá trị được tạo ra trên lãnh thổ đất nước đó, phần lớn do các chủ sở hữu người nước ngoài

Trường hợp thứ ba là GNI và GDP bằng nhau xảy ra trong hai trường hợp: Thứ nhất

là do nền KT nước đó đóng cửa, không đầu tư ra nước ngoài cũng như không nhận đầu tư nước ngoài vào nước mình Thứ hai khi thu nhập của nươc đó đầu tư ra nước ngoài và thu nhâp của người nước ngoài trên lãnh thổ nước đó ngẫu nhiên bằng nhau

Để đánh giá chính xác sự phát triển của một quốc gia và nhận xét sự chênh lệch về đời sống vật chất giữa các quốc gia thì người ta dùng chỉ tiêu GNI và GDP tính bình quân đâu người (GNI/người hoặc GDP/người) Chỉ số này được tính theo tiền riêng của mỗi quốc gia sau đó quy đổi ra USD theo tỉ giá hối đoái chính thức giữa hai loại tiền, nhưng chưa tính đến giá cả sinh hoạt của từng nước Như thế thu nhâp thưc tế sẽ bị giá cả chi phối lại có nghĩa mức sống sẽ tăng giảm phụ thuộc vào mức độ tăng hay giảm của giá cả

Trang 5

Chỉ số mức sống theo GDP/đầu người và điều chỉnh theo sức mua tương đương và GDP/người của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới cho thấy sự chênh lệch giữa hai cách tính qua bảng 1.1 và bảng 1.2

Bảng 1.1 GDP bình quân đầu người và GDP/ người theo PPP của một số quốc gia

năm 2014

Hạng

GDP/người Quốc gia

GDP/người (USD)

GDP/người (USD)theo PPP HDI

Thứ hạng HDI

Nguồn: IMF và “Human Development Report 2014” Bảng 1.2 Các quốc gia có GDP/ người; GDP/ người theo PPP và chỉ số HDI thấp

Quốc gia GDP/ người

(USD)

GDP/ người (USD) theo PPP Chỉ số HDI

Thứ hạng HDI

Nguồn: IMF và “Human Development Report 2014”

Trang 6

Bảng 1.1 và bảng 1.2 cho thấy, không phải bất cứ nước nào có thu nhập cao thì CLCS đều cao Vì CLCS là khái niệm rất rộng, phụ thuộc vào nhiều tiêu chí Nhiều nước thu nhập tương đương nhau nhưng có chỉ số phát triển con người (HDI) – là chỉ số thể hiện CLCS rõ nhất lại khác biệt nhau Do mức độ đầu tư y tế, giáo dục và giá cả sinh hoạt khác nhau, đáp ứng phúc lợi xã hội cho con người khác nhau Ngược lại, có những quốc gia tuy

có thu nhập bình quân đầu người thấp, đời sống vật chất còn khó khăn nhưng lại quan tâm tới mục tiêu giáo dục, y tế, sức khỏe cho dân cư nhiều hơn nên chỉ số HDI lại cao hơn Chính vì vậy, Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) đã đưa ra chỉ số phát triển con người (HDI)

3.2 Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI)

HDI là chỉ số so sánh, định lượng về mức thu nhập, tỷ lệ biết chữ, tuổi thọ và một số nhân tố khác của các quốc gia trên thế giới HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát

về sự phát triển của một quốc gia Chỉ số này được phát triển bởi một KT gia người Pakistan là Mahbub ul Haq và nhà KT học người Ấn Độ Amartya Sen vào năm 1990

Những chỉ số tổng hợp thể hiện HDI trên toàn thế giới đã được tính toán từ thập kỉ

90 của thế kỉ XX đến nay đã cho thấy cơ bản các tiêu chí chính của CLCS dân cư các quốc gia trên Thế giới đã tăng lên rõ rệt Tuổi thọ dân cư Thế giới tăng lên và đạt mức 67,2 tuổi (2014), tỉ lệ dân số biết chữ cũng tăng lên nhanh chóng, đạt tỉ lệ gần như tuyệt đối ở nhóm nước giàu - nhóm nước KT phát triển (bảng 1.3)

Ngược lại những nước nghèo thu nhập thấp, tỉ lệ biết chữ rất khiêm tốn như Burkina Faso: 12,8%, Niger: 14,4%; Mali: 19 % dân số biết chữ Trong khi Úc, Áo, Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Hà Lan tỉ lệ dân số biết chữ lên tới trên 99,9% Còn Việt Nam thu nhấp thấp nhưng chỉ số biết chữ lên tới 97,3%

Bảng 1.3 Mười quốc gia có tỷ lệ dân cư biết chữ cao nhất và thấp nhất thế giới, năm 2014

STT

Thứ hạng

tỉ lệ biết

chữ so

thế giới

Quốc gia

Tỉ lệ dân

số biết chữ

Thứ hạng

tỉ lệ biết chữ so thế giới

Quốc gia Tỉ lệ dân

số biết chữ

Trang 7

7 1 Phần Lan 99,9 172 Tchad 25,5

Nguồn: UNDP 2014

Ở nước ta nhờ chính sách và sự quan tâm tới phát triển con người của Đảng và Nhà nước, các chỉ số phát triển con người có sự tiến bộ rõ rệt, với đặc điểm nổi bật là các chỉ số

về mặt XH cao hơn chỉ số phát triển KT

Ở Việt Nam, GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua tương đương và đã tăng liên tục qua các năm: năm 1995 mới đạt 1.236 USD, năm 2003 đạt khoảng 2.493 USD, năm 2004 đạt khoảng 2.644 USD và năm 2014 đạt khoảng 5294 USD Theo báo cáo năm 2014 của UNDP Việt Nam xếp 121 trên 187 nước theo chỉ số HDI Xếp hạng của Việt Nam về HDI đã cao hơn xếp hạng về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỉ giá sức mua tương đương

So với mức bình quân của ĐNA, chỉ số HDI của Việt Nam chỉ trên Myanmar, Lào, Đông Timor và Campuchia, vẫn xếp sau Philippines, Thái Lan, Malaysia Nếu xếp GDP bình quân đầu người theo PPP của Việt Nam cũng còn có khoảng cách rất xa với các nươc phát triển mạnh trong khu vực

3.3 Lương thực và dinh dưỡng

Con người sống không thể thiếu lương thực cung cấp cho nhu cầu hàng ngày của mình Nhu cầu về cung cấp năng lượng cũng thay đổi theo vùng (ôn đới, nhiệt đới) theo độ tuổi, giới, mức độ lao động…Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá mức sống dân cư Không một chỉ tiêu KT nào đo lường mức độ thịnh vượng hay phát triển của một nước lại có ý nghĩa bằng sự cung cấp lương thực thực phẩm đủ đáp ứng nhu cầu calori hàng ngày và đảm bảo cân đối giữa các hàm lượng chất đạm, chất béo, chất đường và các loại khoáng chất, vitamin trong bữa ăn Tuy vậy khả năng đáp ứng lương thực cũng khác nhau trên toàn thế giới Có nơi thiếu và thiếu trầm trọng lương thực thực phẩm như các nước kém phát triển tiêu biểu là châu Phi Ví dụ: Sômali 25 kg/ người, Sênêgal 86 kg/ người, Ethiopia 120 kg/ người (1998)

Theo FAO nếu mức gia tăng dân số là 1% thì mức lương thực phải tăng là 2,5% thì mới đảm bảo cho cuộc sống Theo các chuyên gia KT để đủ no về chất lượng mỗi người cần khoảng 800-1000 kg lương thực/năm

Để đảm bảo dinh dưỡng cung cấp đầy đủ lượng calo cần thiết cho mỗi người, cơ cấu bữa ăn là rất quan trọng Nó bao gồm các chất giàu đường, đạm, chất béo, vitamin và muối

Trang 8

khoáng Trong đó, quan trọng nhất là lượng đạm cung cấp cho cơ thể Bởi không đủ lượng đạm lấy từ thực phẩm như cá, thịt, trứng con người sẽ bị thiếu dinh dưỡng, chóng mệt mỏi không đủ sức khỏe để tham gia lao động Số calo tiêu thụ hàng ngày cho 1 người được coi

là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu Theo tổ chức Lương Nông của Liên Hiệp Quốc đưa ra lượng calo tối thiểu cho một người là 2360 calori/ ngày Trong khi

đó tổ chức y tế thế giới lại đưa ra con số 2100 làm ranh giới cho sự nghèo đói

Tuy nhiên ranh giới này giữa các nước, các khu vực có sự khác nhau Đối với các nước phát triển lượng calo cung cấp luôn thừa với nhu cầu của cơ thể Khẩu phần bữa ăn hàng ngày đạt 3377 calo/ người, cao hơn 749 calo so với các nước đang phát triển Để đạt được từ 2500-3000 calo/ người/ ngày ở các nước phát triển Đối với các nước kém phát triển lượng calo luôn thiếu hụt

Theo số liệu của tổ chức Y tế thế giới, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 40.000 trẻ

em chết do thiếu dinh dưỡng nặng, hàng năm có khoảng 250.000 trẻ em bị mù do thiếu vitamin A Số người bị thiếu máu dinh dưỡng ước tính đến 2000 triệu người và 400 triệu người khác bị bướu cổ do thiếu iốt Ở nhiều nước đã phát triển, lượng calo bình quân hằng ngày đạt trên 3000 kcalo/ người ( châu âu 3000 Kcal, Bắc Mỹ 3100 Kcalo, Úc 3200 kcal) lượng chất béo sử dụng hàng ngày trên 100g/người ( Bắc Mỹ 146 g, Tây Âu 118 g, Úc 136

g ) chiếm 40% tổng số nhiệt lượng ăn vào Ở các nước này bệnh béo phì , vừa xơ động mạch, bệnh cao huyết áp và tim mạch, bệnh đái đường là những vấn đề sức khỏe xã hội quan trọng

3.4 Chăm sóc sức khỏe, dịch vụ y tế

Sức khỏe là điều kiện quan trọng để phát triển xã hội trong hiện tại và tương lai Chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y tế thể hiện sự quan tâm đến cộng đồng, là nhiệm vụ quan trọng trong việc nâng cao mức sống dân cư của mỗi khu vực, mỗi quốc gia Theo WHO, chỉ tiêu sức khỏe - dịch vụ y tế gồm mức đầu tư ngân sách cho chăm sóc sức khỏe và dịch

vụ y tế tính theo tổng chi ngân sách hoặc GDP, chất lượng và số lượng y bác sĩ , cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho khám chữa bệnh - chăm sóc sức khỏe, tuổi thọ bình quân của dân

cư, tỉ suất tử vong nói chung Đặc biệt là tỉ suất chết của trẻ em, tỉ lệ dân số mắc các loại bệnh ở một gia đình, một quốc gia Sức khoẻ là cơ sở để loài người tồn tại và phát triển tốt,

có sức khỏe con người mới có hiệu suất làm việc cao nhất

Trang 9

Bảng 1.6 Tình hình đảm bảo sức khỏe theo khu vực và theo thu nhập

Tỉ lệ trẻ em

>1tuổi được tiêm phòng (%)

Số người dân/1bác sĩ

Tỉ lệ chi y tế

so với GNP(%)

Khu vực

Thu nhập

Nguồn: Nguyễn Minh Tuệ Dân số và sự phát triển KTXH, ĐHSP Hà Nội.1996

Qua bảng 1.7 cho thấy ở các nước KT phát triển, có thu nhập bình quân đầu người cao thì mức độ đầu tư cho y tế cao và chăm sóc sức khỏe tốt Số lượng bác sĩ nhiều, trình

độ cao, trang thiết bị hiện đại, có khả năng chữa được những bệnh hiểm nghèo

Ở các nước đang phát triển thu nhập bình quân thấp hơn rất nhiều, dân số phát triển nhanh cho nên việc đầu tư phát triển y tế và chăm sóc sức khỏe không theo kịp Chi cho y

tế thấp chỉ có 1.7% so với GNP chỉ bằng 1/5 so với các nước có thu nhập cao Hơn nữa, các dịch vụ y tế thường quá ít và phân bố không đều, tập trung ở khu vực thành thị nhiều gấp nhiều lần so với nông thôn Ở các nước kém phát triển thu nhập chủ yếu cho ăn uống

Tỉ lệ chi cho y tế, giáo dục, vui chơi giải trí ít Chất lượng khám chữa bệnh chưa đáp ứng kịp thời với nhu cầu thực tế Tỉ lệ bác sỹ/1 vạn dân thấp Việc quan tâm đến các loại bệnh nhất là bệnh truyền nhiễm tại các nước này chưa được chú trọng, 3 nhóm bệnh phổ biến nhất là bệnh truyền nhiễm, bệnh hô hấp, bệnh do ký sinh trùng chiếm gần nửa số nguyên nhân tử vong Trong khi đó ở những nước phát triển thì những bệnh này được kiểm soát khá tốt

Trang 10

Bảng 1.7 Mười quốc gia có tỉ lệ lây nhiễm HIV-AIDS cao nhất thế giới năm 1999

Các quốc gia Tỉ lệ % người từ 15-49 tuổi

Nguồn:ONUSIDA-Trong thế giới toàn cảnh

Qua bảng trên có thể thấy trong số 10 quốc gia có tỉ lệ nhiễm virút HIV cao nhất thế giới thì đã có tới 9 quốc gia là những nước có nền KT kém phát triển Đặc biệt những quốc gia này tập trung chủ yếu ở vùng hạ Sahara

Thật sự là một mối lo lớn cho việc nâng cao mức sống cư dân ở những nước khi mà nạn đói, bệnh tật đói nghèo luôn luôn đe dọa cuộc sống của họ Việc chăm sóc điều trị cho các bệnh không chỉ đối với bệnh AIDS mà còn đối với nhiều bệnh lây nhiễm khác cũng gặp nhiều trở ngại

Trên toàn cầu, ước tính 35,3 triệu người sống chung với HIV trong năm 2012 Có 2,3 triệu ca nhiễm mới HIV (7000 ca nhiễm mới ca/ ngày) trên toàn cầu, cho thấy một sự suy giảm 33% trong số các ca nhiễm mới từ 3,4 triệu trong năm 2001 Đồng thời số lượng người chết vì AIDS cũng đang giảm với 1,6 triệu người chết vì AIDS trong năm 2012, giảm từ 2,3 triệu vào năm 2005 Như vậy, tình hình dịch HIV/AIDS cũng đang có chiều hướng “sáng sủa” dần lên, đây là kết quả của những nỗ lực không ngừng trong công tác truyền thông phòng chống HIV và việc mở rộng tiếp cận điều trị kháng virus

Ngày đăng: 24/09/2021, 16:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo Anh (2015), Bình Dương: Tích cực chăm lo cho đồng bào dân tộc thiểu số, Báo Bình Dương, cập nhật ngày 2/12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích cực chăm lo cho đồng bào dân tộc thiểu số, Báo Bình Dương
Tác giả: Bảo Anh
Năm: 2015
2. Báo Bình Dương, Đồng bào các tôn giáo ở Bình Dương: đoàn kết, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, Ban Tôn giáo Chính Phủ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng bào các tôn giáo ở Bình Dương: đoàn kết, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc
3. Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012, Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam, Hà Nội 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và những thách thức mới
5. Nguyễn Đình Cử (1997), Giáo trình dân số và phát triển, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dân số và phát triển
Tác giả: Nguyễn Đình Cử
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1997
6. Đô thị hóa và sự phát triển bền vững của Bình Dương nhìn từ hội thảo khoa học quốc gia “20 năm đô thị hóa Nam bộ, lí luận và thực tiễn”, Đại học Thủ Dầu Một Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm đô thị hóa Nam bộ, lí luận và thực tiễn
7. Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn viết Thịnh, Vũ Như Vân (2007), Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam – tập 2, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam – tập 2
Tác giả: Đỗ Thị Minh Đức, Nguyễn viết Thịnh, Vũ Như Vân
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2007
8. Nguyễn Thị Kim Hồng, Nguyễn Thị Bé Ba (2011), An ninh lương thực vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Tạp chí khoa học ĐHSP TP Hồ Chí Minh, số 32, trang 3 – 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh lương thực vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Hồng, Nguyễn Thị Bé Ba
Năm: 2011
9. TS. Đào Thị Minh Hương (2014), Tăng trưởng kinh tế và phát triển con người: một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay (Phần I: Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập), Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 3 (72), trang 3-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và phát triển con người: một số vấn đề thực tiễn ở Việt Nam hiện nay (Phần I: Tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập)
Tác giả: TS. Đào Thị Minh Hương
Năm: 2014
10. ThS – KTS Huỳnh Văn Minh, Bình Dương – Quá trình phát triển công nghiệp, đô thị và các bài học kinh nghiệm, Viện Quy hoạch phát triển đô thị Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình Dương – Quá trình phát triển công nghiệp, đô thị và các bài học kinh nghiệm
13. Lê Thâm, Trịnh Bình, Đột phá giảm nghèo bền vững ở Bình Dương, Báo Điện tử Nhân dân, cập nhật ngày 21/6/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đột phá giảm nghèo bền vững ở Bình Dương
14. Dương Đức Thọ, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở tỉnh Bình Dương, Tạp chí XDĐSVH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở tỉnh Bình Dương
16. TS. Pham Thị Xuân Thọ (2008), Địa lí đô thị, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lí đô thị
Tác giả: TS. Pham Thị Xuân Thọ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
18. Tổng cục thống kê (2009), kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: kết quả khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2008
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2009
19. Nguyễn Minh Tuệ (1996), Dân số và sự phát triển KTXH, ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số và sự phát triển KTXH
Tác giả: Nguyễn Minh Tuệ
Năm: 1996
20. Giáp Văn Vượng, Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Bắc Giang
21. Thái Sơn, Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương qua 30 năm đổi mới và một số định hướng trong thời gian tới, Sở Kế hoạch và Đầu tư Tỉnh Bình Dương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương qua 30 năm đổi mới và một số định hướng trong thời gian tới
4. Cục thống kê tỉnh Bình Dương, Niên giám thống kê tỉnh Bình Dương các năm 1997, 1998, … , 2014 Khác
11. Thủ tướng Chính phủ (2007), Quyết định về Định hướng phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020 Khác
12. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển KT - XH tỉnh Bình Dương đến 2020, bổ sung quy hoạch đến năn 2025 Khác
15. Phạm Thị Xuân Thọ, Nghiên cứu chất lượng cuộc sống dân cư các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ phục vụ giảng dạy và học tập (Trường hợp tỉnh Bình Thuận) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm