NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. ……………………………………………………………………………………. Điểm: ………………………… KÝ TÊN MỤC LỤC Contents MỤC LỤC 1 LỜI NÓI ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA MÁC – LÊ NIN VỀ DỊCH VỤ VÀ HÀNG HÓA ĐẶC BIỆT 2 1.1. Các khái niệm liên qua 2 1.1.1. Khái niệm dịch vụ 2 1.1.2. Khái niệm hàng hóa đặc biệt 2 1.2. Đặc điểm của dịch vụ 2 1.3. Bản chất dịch vụ 3 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 4 2.1. Đặc điểm kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam 4 2.1.1. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cấp, tự túc và quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường. 4 2.1.2. Nền kinh tế hàng hóa phát triển theo định hướng XHCN thông qua bản chất và vai trò quản lý của Nhà nước 4 2.1.3. Nền kinh tếquan hệ với kinh tế các nước trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức… 5 2.1.4. Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần 6 2.2. Đánh giá về nền kinh tế hàng hóa taị Việt Nam 6 2.2.1. Thị trường Việt Nam. 6 2.2.2. Lực lượng sản xuất 7 2.2.3. Cơ chế thị trường ở Việt Nam. 8 2.2.4. Những thành tựu đạt được với nền kinh tế hàng hóa. 10 2.3. Các giải pháp phát triển nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam 12 2.3.1. Đa dạng hoá các hình thức tư liệu sản xuất 12 2.3.2. Tiến hành phân công lao động xã hội chú ý đến các nghành nghề truyền thống… 13 2.3.3. Hình thành đồng bộ các loại thị trường. 13 2.3.4. Tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước 13 2.3.5Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách nền hành chính quốc gia 14 2.3.6.Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. 14 KẾT LUẬN 16 LỜI NÓI ĐẦU Từ khi hòa bình độc lập lại năm 1954, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độ tiến lên CNXH với đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói Đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH không phải qua giai đoạn phát triển TBCN. Từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước thì cả nước cùng tiến hành cách mạng XHCN, cùng quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đảng ta từ đại hội VI đã mở ra mô hình kinh tế mới đó là mô hình kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Đặc biệt Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thời kỳ lịch sử mà: Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,… tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoá khoa học tiên tiến. Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phỉa cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài. Nền kinh tế mới đó là phải xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế có sự điều tiết của nhà nước. Trong nền kinh tế mở đó không thể thiếu được kinh tế hàng hóa đó là một mô hình kinh tế kích thích tính năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế. Song trong nền kinh tế hàng hóa không thể tránh khỏi những khó khăn khi quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhân đây, trong bài tiểu luận: Lý luận của kinh tế chính trị học Mác lenin về dịch vụ và một số hàng hóa đặc biệt. Liên hệ thực tiễn., em xin được chỉ ra những đặc điểm và những điểm hạn chế của Nền kinh tế hàng hóa nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với những điều kiện và phương hướng phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA MÁC – LÊ NIN VỀ DỊCH VỤ VÀ HÀNG HÓA ĐẶC BIỆT 1.1. Các khái niệm liên qua 1.1.1. Khái niệm dịch vụ Trong kinh tế học, dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Philip Kotler cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất”. PGS.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao động sáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phú hoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, những nét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trả tiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”. Dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thù riêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùng phát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền. 1.1.2. Khái niệm hàng hóa đặc biệt Trong kinh tế chính trị MarxLenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sản phẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán. Hàng hóa có thể là hữu hình như sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động. Karl Marx định nghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầu con người nhờ vào các tính chất của nó. Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa đặc biệt là sức lao động bao hàm yếu tố tinh thần và lịch sử. Thể hiện ở chỗ: nhu cầu vật chất của công nhân và nhu cầu về tinh thần (vui chơi, giải trí…) 1.2. Đặc điểm của dịch vụ ❖ Tính vô hình: Tính vô hình được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ. ❖ Tính không thể tách rời: Dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác với hàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấc trung gian, rồi sau đó mới dến tay người tiêu dùng cuối cùng. ❖ Tính không đồng nhất: Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch vụ. (thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng – nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũng rất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều). ❖ Tính không thể cất trữ: Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời. Ở đây nhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ khả năng cung cấp dịch vụ cho những lần tiếp theo. Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp. Do vậy, DV không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi có nhu cầu thị trường thì đem ra bán. ❖ Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thành chủ sở hữu hàng hoá mình đã mua. Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi. 1.3. Bản chất dịch vụ Bản chất của dịch vụ bao gồm 3 đặc tính sau đây: – Dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng. – Dịch vụ là một quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước khác nhau. Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêm nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm. – Dịch vụ gắn liền với hiệu suất thành tích bởi mỗi dịch vụ đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng. Hiệu suất ở đây chính là những tiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà khách hàng nhận được sau khi sử dụng dịch vụ. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 2.1. Đặc điểm kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam 2.1.1. Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cấp, tự túc và quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường. Đi lên CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN nên nước ta thiếu cái “cốt vật chất” của một nền kinh tế phát triển. Do hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển, của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, …nền kinh tế của nước ta đã tụt hậu nghiêm trọng so với khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, KTTT là điều kiện rất quan trọng đưa nền kinh tế nước ta ra khỏi khủng hoảng, phục hồi sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bước tiến của thời đại. Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, đất nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là phù hợp với quy luật khách quan, hợp lòng dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống. Nhờ chuyển sang KTTT mà nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi căn bản, nhờ cơ chế thị trường mà phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn. Các động lực lợi ích đã phát huy tác dụng, cơ chế quản lý mới đã được vận hành và ngày càng tham gia tốt hơn vào phân công lao động quốc tế. Nhưng, Đảng ta chủ trương chuyển sang KTTT, không phải là một thị trường bất kỳ, mà là thị trường định hướng XHCN. Về bản chất đó là cơ chế hỗn hợp mang tính định hướng XHCN, vừa kế thừa những thành tựu của loài người, vừa gắn liền vớiđặcđiểm và mục tiêu chính trịlà sựkết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Đó là nguyên tắc chiến lược như sự tìm tòi cho một thiết chế mới. Trước đây, có lúc chúng ta hiểu chưa đúng, đồng nhất KTTT với kinh tế TBCN, mà cho rằng thị trường là bản chất. Vì vậy, mà không tận dụng được sức mạnh của thị trường để phát triển kinh tế. Giờ đây, chúng ta đã hiểu được rằng thị trường không mang bản chất chế độ, mà chỉ có chế độ xã hội nào biết hay không biết tận dụng những lợi thế đóđể phục vụ chế độ mình. Thị trường được coi là một phương tiện quan trọng để xây dựng và phát triển kinh tế. Vì vậy, càng đổi mới kinh tế, càng gần với CNXH hơn. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hợp tác, đua tranh phát triển ấy có thể đi lên sản xuất lớn XHCN bằng chế độ hợp tác trên nền tảng của một nền sản xuất xã hội hóa. 2.1.2. Nền kinh tế hàng hóa phát triển theo định hướng XHCN thông qua bản chất và vai trò quản lý của Nhà nước Sự vận động của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường không thể nào giải quyết hết được những vấn đề do chính cơ chế đó và bản thân đời sống KT XH đặt ra. Đó là tình trạng thất nghiệp, lạm phát, khủng hoảng, phân hóa bất bình đẳng, ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ dân số cũng như những hiện tượng xã hội khác. Những tình trạng và hiện tượng trên ở những mức độ khác nhau, trực tiếp hay gián tiếp đều có tác động ngược trở lại, làm cản trở sự phát triển “bình thường” của một xã hội nói chung và của nền kinh tế hàng hóa nói riêng. Vì vậy sự tác động của Nhà nước một chủ thể có khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan vào nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển KT XH. Thiếu sự “can thiệp” của Nhà nước vào kinh tế để cho nền KTTT tự do hoạt động, thì việc điều hành nền kinh tế nước ta sẽ không thể có hiệu quả, cũng giống như người ta muốn vỗ tay mà chỉ dùng một “bàn tay”. Sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế hàng hóa ở nước ta được thực hiện bằng luật pháp và các công cụ chính sách vĩ mô khác. Nhà nước sử dụng những công cụ đó để quản lý các hoạtđộng kinh tế làm cho nền kinh tế “ lành mạnh” hơn, giảm bớt những thăng trầm,đột biến xấu trên conđường phát triển của nó, khắc phục được tình trạng phân hóa bất bình đẳng, baơ vệ được tài nguyên môi trường của đất nước. Như vậy, sự vận động của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta là một sự vận động được điều tiết bởi sự thống nhất giữa cơ chế thị trường “bàn tay vô hinh”, và sự quản lý của Nhà nước “bàn tay hữu hình”. 2.1.3. Nền kinh tếquan hệ với kinh tế các nước trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức Kinh tế “khép kín” thường gắn liền với nền kinh tế phong kiến, gắn với sản xuất nhỏ, với tình trạng “bế quan toả cảng” tự cung tự cấp và với nền kinh tế “chỉ huy”. Nhìn chung, đó là một nền kinh tế kém phát triển, bảo thủ, trì trệ. Sự ta đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã làm phá vỡ các mối quan hệ kinh tế truyền thống của nền kinh tế khép kín. Đặc biệt đến giai đoạn TBCN, sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã làm cho thị trường dân tộc hoạt động gắn bó với thị trường thế giới. Chinh sự giao lưu và các mối liên hệ kinh tế được mở rộng ra nước ngoài đã làm cho nền kinh tế hàng hóaTBCN có những bước phát triển nhanh chóng. Mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài là tất yếu vì sản xuất và trao đổi hàng hóa tất yếu vượt khỏi phạm vi quốc gia mang tính chất quốc tế. đồng thời đó cũng là tất yếu của sự phát triển nhu cầu. Biệt lập trong sự phát triển kinh tế tất yếu dẫn tới đói nghèo. Do đó việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài dưới nhiều dạng khác nhau đối với nước ta như là một tất yếu trong sự phát triển, khi trình độ khoa học kỹ thuật thế giới cho phép đáp ứng nhu cầu cả về sản xuất lẫn tiêu dùng. Thông qua mởrộng quan hệ kinh tế với nước ngoài để biến nguồn lực bên ngoài thành nguồn lực bên trong. Điều đó tạo điều kiện cho quá trình phát triển rút ngắn ở nước ta. Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài bằng nhiều hình thức như tăng cường hoạtđộng ngoại thương, hợp tác, liên doanh, liên kếtđểthu hút vốnđầu tư vào nước ta. Gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực. Tranh thủ nắm bắt những ngành, những mặt hàng “mũi nhọn” có tương lai gắn với công nghệ mới, tiến tới có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, nhanh chóng đưa nền kinh tế nước ta hội nhập voà nhịp điệu của kinh tế thế giới. Việc mở cửa nền kinh tế, đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đảm bảo chủ quyền và cùng có lợi. 2.1.4. Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất: Kinh tế Nhà nước Kinh tế tư bản Nhà Nước Kinh tế hợp tác Kinh tế tư bản tư nhân Kinh tế cá thể tiểu chủ Nền kinh tế nhiều thành phần trong sự vận động của cơ chế thị trường ở nước ta là nguồn lực tổng hợp to lớn để đưa nền kinh tế vượt khỏi thực trạng thấp kém, đưa nền kinh tế hàng hóa phát triển kể cả trong điều kiện ngân sách Nhà nước hạn hẹp. Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong phú trong việc đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lý theo định hướng XHCN. Do đó, việc “phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phải đi đôi với tăng cường quản lý của Nhà nước về KTXH”. Để hạn chế và khắc phục những hậu quả của mặt trái kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường mang lại, giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát huy bản chất tốt đẹp của CNXH, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý KTXH bằng luật pháp, kế hoạch, chính sách, thông tin, tuyên truyền, giáo dục và các công cụ khác. Nhận thức tính chất nhiều thành phần của nền kinh tếlà một tất yếu khách quan, từ đó có thái độ đúng đắn trong việc khuyến khích sự phát triển của chúng theo nguyên tắc tự nhiên của kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp đi lên CNXH ở nước ta.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬNMÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ĐỀ
TÀI: LÝ LUẬN CỦA KINH TẾ CHÍNH TRỊ HỌC MÁC – LÊNIN VỀ DỊCH VỤ VÀ MỘT SỐ HÀNG HÓA ĐẶC BIỆT LIÊN HỆ THỰC TIỄN
Thành Phố Hồ Chí Minh, tháng năm
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
……….
Điểm: ………
KÝ TÊN
Trang 3MỤC LỤC
Contents
MỤC LỤC 1
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA MÁC – LÊ NIN VỀ DỊCH VỤ VÀ HÀNG HÓA ĐẶC BIỆT 2
1.1.Các khái niệm liên qua 2
1.1.1.Khái niệm dịch vụ 2
1.1.2.Khái niệm hàng hóa đặc biệt 2
1.2.Đặc điểm của dịch vụ 2
1.3.Bản chất dịch vụ 3
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 4
2.1 Đặc điểm kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam 4
2.1.1 Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cấp, tự túc và quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường 4
2.1.2 Nền kinh tế hàng hóa phát triển theo định hướng XHCN thông qua bản chất và vai trò quản lý của Nhà nước 4
2.1.3 Nền kinh tếquan hệ với kinh tế các nước trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức… 5
2.1.4 Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần 6
2.2 Đánh giá về nền kinh tế hàng hóa taị Việt Nam 6
2.2.1.Thị trường Việt Nam 6
Trang 42.2.2.Lực lượng sản xuất 7
2.2.3.Cơ chế thị trường ở Việt Nam 8
2.2.4.Những thành tựu đạt được với nền kinh tế hàng hóa 10
2.3 Các giải pháp phát triển nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam 12
2.3.1.Đa dạng hoá các hình thức tư liệu sản xuất 12
2.3.2.Tiến hành phân công lao động xã hội chú ý đến các nghành nghề truyền thống… 13
2.3.3.Hình thành đồng bộ các loại thị trường 13
2.3.4.Tiếp tục đổi mới và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước 13
2.3.5Đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp và cải cách nền hành chính quốc gia 14
2.3.6.Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần 14
KẾT LUẬN 16
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi hòa bình độc lập lại năm 1954, miền Bắc nước ta đã bước vào thời
kỳ quá độ tiến lên CNXH với đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Đặcđiểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiếnthẳng lên CNXH không phải qua giai đoạn phát triển TBCN"
Từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất, cách mạng dân tộc dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước thì cả nướccùng tiến hành cách mạng XHCN, cùng quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta
từ đại hội VI đã mở ra mô hình kinh tế mới đó là mô hình kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Đặc biệt Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thời kỳ lịch sử mà: " Nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,…tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hoákhoa học tiên tiến Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phỉa cảitạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt
và lâu dài"
Nền kinh tế mới đó là phải xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp,phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế có sự điều tiết củanhà nước Trong nền kinh tế "mở" đó không thể thiếu được kinh tế hàng hóa đó làmột mô hình kinh tế kích thích tính năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế Songtrong nền kinh tế hàng hóa không thể tránh khỏi những khó khăn khi quá độ lên
chủ nghĩa xã hội Nhân đây, trong bài tiểu luận: " Lý luận của kinh tế chính trị học Mác lenin về dịch vụ và một số hàng hóa đặc biệt Liên hệ thực tiễn.", em
xin được chỉ ra những đặc điểm và những điểm hạn chế của Nền kinh tế hàng hóanước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với những điều kiện vàphương hướng phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta
Trang 6NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CỦA MÁC – LÊ NIN VỀ DỊCH VỤ VÀ HÀNG
HÓA ĐẶC BIỆT 1.1 Các khái niệm liên qua
PGS.TS Nguyễn Văn Thanh cho rằng: “Dịch vụ là một hoạt động lao độngsáng tạo nhằm bổ sung giá trị cho phần vật chất và làm đa dạng hoá, phong phúhoá, khác biệt hoá, nổi trội hoá… mà cao nhất trở thành những thương hiệu, nhữngnét văn hoá kinh doanh và làm hài lòng cao cho người tiêu dùng để họ sẵn sàng trảtiền cao, nhờ đó kinh doanh có hiệu quả hơn”
Dịch vụ là hoạt động sáng tạo của con người, là hoạt động có tính đặc thùriêng của con người trong xã hội phát triển, có sự cạnh tranh cao, có yếu tố bùngphát về công nghệ, minh bạch về pháp luật, minh bạch chính sách của chính quyền
1.1.2 Khái niệm hàng hóa đặc biệt
Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, hàng hóa cũng được định nghĩa là sảnphẩm của lao động thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể là hữu hìnhnhư sắt thép, quyển sách hay ở dạng vô hình như sức lao động Karl Marx địnhnghĩa hàng hóa trước hết là đồ vật mang hình dạng có khả năng thỏa mãn nhu cầucon người nhờ vào các tính chất của nó
Trang 7Khác với hàng hóa thông thường, hàng hóa đặc biệt là sức lao động bao hàmyếu tố tinh thần và lịch sử Thể hiện ở chỗ: nhu cầu vật chất của công nhân và nhucầu về tinh thần (vui chơi, giải trí…)
1.2.Đặc điểm của dịch vụ
❖ Tính vô hình:
Tính vô hình được thể hiện ở chỗ người ta không thể nào dùng các giác quan
để cảm nhận được các tính chất cơ lý hóa của dịch vụ
❖ Tính không thể tách rời:
Dịch vụ thường được cung ứng và tiêu dùng một cách đồng thời, khác vớihàng hoá vật chất thường phải sản xuất ra rồi nhập kho, phân phối qua nhiều nấctrung gian, rồi sau đó mới dến tay người tiêu dùng cuối cùng
❖ Tính không đồng nhất:
Khó có thể có một tiêu chuẩn chung nào để đánh giá được chất lượng của dịch
vụ (thậm chí cùng một loại hình dịch vụ cũng không có tiêu chí để đánh giá chất lượng bởi vì chất lượng của sản phẩm nói chung sẽ được đánh giá trước tiên thể hiện qua chỉ số kỹ thuật, tuy nhiên vì dịch vụ mang tính vô hình nên rất khó có được những chỉ số kỹ thuật và ở đây chất lượng dịch vụ được thể hiện ở sự thỏa mãn, hài lòng của người tiêu dùng – nhưng sự hài lòng của người tiêu dùng cũngrất khác nhau, nó có thể thay đổi rất nhiều)
❖ Tính không thể cất trữ:
Tính không thể cất trữ là hệ quả của tính vô hình và không thể tách rời Ở đâynhà cung cấp dịch vụ không cất trữ những dịch vụ nhưng họ cất trữ khả năng cungcấp dịch vụ cho những lần tiếp theo Dịch vụ chỉ tồn tại vào thời gian mà nó đượccung cấp Do vậy, DV không thể sản xuất hàng loạt để cất vào kho dự trữ, khi cónhu cầu thị trường thì đem ra bán
❖ Tính không chuyển quyền sở hữu được:
Khi mua một hàng hoá, khách hàng được chuyển quyền sở hữu và trở thànhchủ sở hữu hàng hoá mình đã mua Khi mua DV thì khách hàng chỉ được quyền sử
Trang 8dụng DV, được hưởng lợi ích mà DV mang lại trong một thời gian nhất định mà thôi.
1.3 Bản chất dịch vụ
Bản chất của dịch vụ bao gồm 3 đặc tính sau đây:
– Dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vôhình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa doanh nghiệp với khách hàng
– Dịch vụ là một quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồmnhiều giai đoạn, nhiều bước khác nhau Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêmnhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm
– Dịch vụ gắn liền với hiệu suất/ thành tích bởi mỗi dịch vụ đều gắn với mụctiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng Hiệu suất ở đây chính là nhữngtiện ích, giá trị và giá trị gia tăng mà khách hàng nhận được sau khi sử dụng dịchvụ
Trang 9CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NỀN KINH TẾ HÀNG HÓA Ở NƯỚC TA
HIỆN NAY 2.1 Đặc điểm kinh tế hàng hóa nhiều thành phần phát triển theo định hướng XHCN ở Việt Nam
2.1.1 Nền kinh tế nước ta đang trong quá trình chuyển biến từ nền kinh tế kém phát triển, mang nặng tính tự cấp, tự túc và quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa, vận hành theo cơ chế thị trường.
Đi lên CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN nên nước ta thiếu cái
“cốt vật chất” của một nền kinh tế phát triển Do hậu quả nặng nề của nhiều nămchiến tranh, của nền kinh tế kém phát triển, của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp,
…nền kinh tế của nước ta đã tụt hậu nghiêm trọng so với khu vực và quốc tế.Trong bối cảnh đó, KTTT là điều kiện rất quan trọng đưa nền kinh tế nước ta rakhỏi khủng hoảng, phục hồi sản xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng, bắt kịp bướctiến của thời đại
Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, đất nước ta chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước là phù hợp với quy luật khách quan, hợp lòng dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc sống Nhờ chuyển sang KTTT mà nền kinh tế nước
ta đã có những thay đổi căn bản, nhờ cơ chế thị trường mà phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn Các động lực lợi ích đã phát huy tác dụng, cơ chế quản lý mới đã được vận hành và ngày càng tham gia tốt hơn vào phân công lao động quốc
tế Nhưng, Đảng ta chủ trương chuyển sang KTTT, không phải là một thị trường bất kỳ, mà là thị trường định hướng XHCN Về bản chất đó là cơ chế hỗn hợp mang tính định hướng XHCN, vừa kế thừa những thành tựu của loài người, vừa gắn liền vớiđặcđiểm và mục tiêu chính trịlà sựkết hợp giữa tăng trưởng kinh tế
và tiến bộ xã hội Đó là nguyên tắc chiến lược như sự tìm tòi cho một thiết chế mới.Trước đây, có lúc chúng ta hiểu chưa đúng, đồng nhất KTTT với kinh tế TBCN,
mà cho rằng thị trường là bản chất Vì vậy, mà không tận dụng được sức mạnh củathị trường để phát triển kinh tế Giờ đây, chúng ta đã hiểu được rằng thị trường
Trang 10không mang bản chất chế độ, mà chỉ có chế độ xã hội nào biết hay không biết tậndụng những lợi thế đóđể phục vụ chế độ mình Thị trường được coi là một phươngtiện quan trọng để xây dựng và phát triển kinh tế.
Vì vậy, càng đổi mới kinh tế, càng gần với CNXH hơn Nền kinh tế hàng hóanhiều thành phần hợp tác, đua tranh phát triển ấy có thể đi lên sản xuất lớn XHCNbằng chế độ hợp tác trên nền tảng của một nền sản xuất xã hội hóa
2.1.2 Nền kinh tế hàng hóa phát triển theo định hướng XHCN thông qua bản chất và vai trò quản lý của Nhà nước
Sự vận động của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường không thể nào giải quyết hết được những vấn đề do chính cơ chế đó và bản thân đời sống KT- XHđặt ra Đó là tình trạng thất nghiệp, lạm phát, khủng hoảng, phân hóa bất bình đẳng,
ô nhiễm môi trường, sự bùng nổ dân số cũng như những hiện tượng xã hội khác.Những tình trạng và hiện tượng trên ở những mức độ khác nhau, trực tiếp hay giántiếp đều có tác động ngược trở lại, làm cản trở sự phát triển “bình thường” của một
xã hội nói chung và của nền kinh tế hàng hóa nói riêng Vì vậy sự tác động của Nhànước- một chủ thể có khả năng nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan- vào nền kinh tế là một tất yếu của sự phát triển KT- XH Thiếu sự “can thiệp” củaNhà nước vào kinh tế để cho nền KTTT tự do hoạt động, thì việc điều hành nền kinh tế nước ta sẽ không thể có hiệu quả, cũng giống như người ta muốn vỗ tay màchỉ dùng một “bàn tay”
Sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế hàng hóa ở nước ta được thực hiện bằng luật pháp và các công cụ chính sách vĩ mô khác Nhà nước sử dụng những công cụ đó để quản lý các hoạtđộng kinh tế làm cho nền kinh tế “ lành mạnh” hơn, giảm bớt những thăng trầm,đột biến xấu trên conđường phát triển của
nó, khắc phục được tình trạng phân hóa bất bình đẳng, baơ vệ được tài nguyên môi trường của đất nước Như vậy, sự vận động của nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ở nước ta là một sự vận động được điều tiết
Trang 11bởi sự thống nhất giữa cơ chế thị trường- “bàn tay vô hinh”, và sự quản lý của Nhànước- “bàn tay hữu hình”.
2.1.3 Nền kinh tếquan hệ với kinh tế các nước trên thế giới tồn tại dưới nhiều hình thức
Kinh tế “khép kín” thường gắn liền với nền kinh tế phong kiến, gắn với sản xuất nhỏ, với tình trạng “bế quan toả cảng” tự cung tự cấp và với nền kinh tế “chỉ huy” Nhìn chung, đó là một nền kinh tế kém phát triển, bảo thủ, trì trệ
Sự ta đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa đã làm phá vỡ các mối quan
hệ kinh tế truyền thống của nền kinh tế khép kín Đặc biệt đến giai đoạn TBCN, sựphát triển của kinh tế hàng hóa đã làm cho thị trường dân tộc hoạt động gắn bó vớithị trường thế giới Chinh sự giao lưu và các mối liên hệ kinh tế được mở rộng ranước ngoài đã làm cho nền kinh tế hàng hóaTBCN có những bước phát triển nhanhchóng
Mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài là tất yếu vì sản xuất và traođổi hàng hóa tất yếu vượt khỏi phạm vi quốc gia mang tính chất quốc tế đồng thời
đó cũng là tất yếu của sự phát triển nhu cầu
Biệt lập trong sự phát triển kinh tế tất yếu dẫn tới đói nghèo Do đó việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài dưới nhiều dạng khác nhau đối với nước ta như là một tất yếu trong sự phát triển, khi trình độ khoa học kỹ thuật thế giới cho phép đáp ứng nhu cầu cả về sản xuất lẫn tiêu dùng Thông qua mởrộng quan hệ kinh tế với nước ngoài để biến nguồn lực bên ngoài thành nguồn lực bên trong Điều đó tạo điều kiện cho quá trình phát triển rút ngắn ở nước ta
Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài bằng nhiều hình thức như tăng cường hoạtđộng ngoại thương, hợp tác, liên doanh, liên kếtđểthu hút vốnđầu tư vào nước ta Gia nhập vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực Tranh thủ nắmbắt những ngành, những mặt hàng “mũi nhọn” có tương lai gắn với công nghệ mới,tiến tới có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới, nhanh chóng đưa nền kinh
tế nước ta hội nhập voà nhịp điệu của kinh tế thế giới
Trang 12Việc mở cửa nền kinh tế, đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, đảm bảo chủ quyền và cùng có lợi.
2.1.4 Nền kinh tế hàng hóa dựa trên cơ sở nền kinh tế nhiều thành phần
Cơ sở khách quan của sự tồn tại nhiều thành phần đó là do còn nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất:
Nền kinh tế nhiều thành phần vừa phản ánh tính đa dạng phong phú trongviệc đáp ứng nhu cầu xã hội vừa phản ánh tính chất phức tạp trong việc quản lýtheo định hướng XHCN Do đó, việc “phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phầnphải đi đôi với tăng cường quản lý của Nhà nước về KT-XH” Để hạn chế và khắcphục những hậu quả của mặt trái kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo
cơ chế thị trường mang lại, giữ cho công cuộc đổi mới đi đúng hướng và phát huybản chất tốt đẹp của CNXH, Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò quản lý KT-XHbằng luật pháp, kế hoạch, chính sách, thông tin, tuyên truyền, giáo dục và các công
cụ khác
Nhận thức tính chất nhiều thành phần của nền kinh tếlà một tất yếu kháchquan, từ đó có thái độ đúng đắn trong việc khuyến khích sự phát triển của chúngtheo nguyên tắc tự nhiên của kinh tế, phục vụ cho sự nghiệp đi lên CNXH ở nướcta
2.2 Đánh giá về nền kinh tế hàng hóa taị Việt Nam
Trang 132.2.1 Thị trường Việt Nam
Để phát triển kinh tế hàng hóa ở nước ta, cần đẩy mạnh chú trọng phát triểncác loại thị trường Quá trình chuyển đổi ở nước ta cần phải từng bước hình thànhthị trường thống nhất và thông suốt cả nước Từng bước hình thành và mở rộngđồng bộ trường thống nhất và thông suốt cả nước , Từng bước hình thành và mởrộng đồng bộ thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, dịch vụ, thị trường vốn vàtiền tệ Cần phải mở mở rộng giao lưu giao lưu hàng hóa, phát triển thị trườngtrong nước, chú trọng nông thôn, miền núi , miền núi, xóa bỏ triệt để mọi hình thứcchia cắt thị trường theo ranh giới hành chính Đồng thời gắn thị trường trong nướcvới thị trường quốc tế, giải quyết mối quan hệ giữa tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu, có chính sách khuyến khích sản xuất nội địa để phát triển mạnh mẽ thị trườngnước ta, hội nhập với thị trường khu vực và thế giới
Ở nước ta, kinh tế hàng hóa mà Đảng chủ trương xây dựng và phát triểntrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là “ nền kinh tế hàng hóa nhiều thànhphần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận động theo cơ chế thị trường có quán línhà nước”
Trong suốt quá trình phát triển của kinh tế hàng hóa nước ta, đã có rât nhiềunhững làng nghề truềyn thống ra đời và phát triển rực rỡ( đó là minh chứng sinhđộng cho việc phân công lao động trong nền kinh tế hàng hóa) Và thực tế cho thấyrằng việc phân công lao động như thế rất có hiệu quả, thể hiện ở chỗ sản phẩm củacác làng nghề đó có chất lượng rất tốt , ko chỉ có chỗ đứng trong thị trường nội địa
mà còn rất được ưa chuộng tại các thị trường nước ngòai ( tuy nhiên do sự pháttriển không đồng bộ của nền kinh tế cũng như các tác động của bên ngoai, nhiềulàng nghềtruyền thốngđã bịmai một,Đảng và nhà nước tađang cốgắng phục hồi
và phát triển) Bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay ngày nay xuất hiện ngày càng nhiềunhững ngành nghề mới
2.2.2 Lực lượng sản xuất