1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀN VỀ QUY ĐỊNH CUNG CẤP THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CHO CƠ QUAN THUẾ

14 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 129,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tóm tắt: Bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng luôn là một chủ đề gây tranh cãi, đặc biệt là liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế mà không có sự can thiệp của cơ quan tư pháp. Bài viết đề cập đến cơ sở lý luận của việc cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế, xem xét lại giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ này, đưa ra một vài khuyến nghị nhằm bảo đảm quyền được bảo mật thông tin khách hàng, quyền của người nộp thuế trong sự hài hòa với nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế.

Trang 1

BÀN VỀ QUY ĐỊNH CUNG CẤP THÔNG TIN KHÁCH HÀNG TRONG HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG CHO CƠ QUAN THUẾ

Tóm tắt: Bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng luôn là một chủ đề gây tranh cãi, đặc biệt là liên quan đến nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế mà không có sự can thiệp của cơ quan tư pháp Bài viết đề cập đến

cơ sở lý luận của việc cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế, xem xét lại giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về nghĩa vụ này, đưa ra một vài khuyến nghị nhằm bảo đảm quyền được bảo mật thông tin khách hàng, quyền của người nộp thuế trong sự hài hòa với nghĩa vụ cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế.

Từ khóa: bảo mật, ngân hàng, cung cấp thông tin, khách

hàng, cơ quan thuế.

1 Cơ sở lý luận của việc cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế

Từ năm 2000, của Báo cáo Cải thiện tiếp cận thông tin cho mục đích thuế Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho rằng, việc không đủ khả năng tiếp cận thông tin ngân hàng là một trở ngại đối với việc quản lý thuế và thực thi pháp luật1 Theo

Information for Tax Purposes Tax Purposes, https://www.oecd.org/ctp/exchange-of-tax-information/2497487.pdf

Trang 2

công bố của tổ chức Mạng lưới pháp lý thuế quan (TJN) ngày 20/11/2021, mỗi năm các quốc gia đang mất tổng cộng hơn 427

tỷ USD tiền thuế do tình trạng lạm dụng thuế doanh nghiệp quốc

tế và trốn thuế tư nhân2

Thật vậy, trong hoạt động ngân hàng, song hành cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ là sự gia tăng các giao dịch quốc tế, điều này gây ra nhiều lo ngại trong việc quản lý thuế Việc từ chối cơ quan thuế truy cập thông tin ngân hàng có thể phát sinh những hậu quả bất lợi trong nước và quốc tế Trong nước, điều này có thể cản trở khả năng của cơ quan thuế trong việc xác định và thu đúng số tiền thuế Đồng thời, việc này cũng

có thể thúc đẩy sự bất bình đẳng về thuế giữa những người nộp thuế bởi một số người nộp thuế sẽ sử dụng nguồn lực về công nghệ và tài chính để trốn thuế hợp pháp thông qua các giao dịch với các tổ chức tài chính ở những quốc gia có quy định về bảo mật thông tin khách hàng của ngân hàng khỏi cơ quan thuế Rõ ràng

là, sự gia tăng các giao dịch tài chính của khách hàng với các tổ chức tài chính của nhiều nước trên thế giới do những tiến bộ của công nghệ gây ra nhiều lo ngại trong việc quản lý thuế Điều này cũng làm sai lệch việc phân bổ gánh nặng thuế và có thể dẫn đến

“sự thất vọng” về tính công bằng của hệ thống thuế

Thiếu khả năng tiếp cận thông tin ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi cho kế hoạch rửa tiền đạt được những thành công thông qua việc xử lý số tiền thu được từ tội phạm ngụy tạo nguồn gốc bất hợp pháp qua hệ thống ngân hàng Thông qua hệ hống ngân

https://vtv.vn/kinh-te/nan-tron-thue-khien-the-gioi-thiet-hai-khoang-427-ty-usd-nam-2020112011424309.htm

Trang 3

hàng, các kỹ thuật rửa tiền cũng được sử dụng để che giấu thu nhập chịu thuế bất hợp pháp và hợp pháp từ cơ quan thuế Điều này cũng thúc đẩy sự bất bình đẳng về thuế giữa những người nộp thuế tuân thủ luật thuế và những người tìm cách tránh thuế, trốn thuế Tương tự, sự bình đẳng giữa những người nộp thuế bị bóp méo bởi những người nộp thuế tuân thủ sẽ có thu nhập sau thuế thấp hơn những người có thể che giấu thu nhập của mình thông qua các việc lợi dụng việc bảo mật thông tin khách hàng bảo vệ

Hơn nữa, nếu cơ quan thuế không có quyền yêu cầu cung cấp thông tin ngân hàng sẽ làm giảm đáng kể nguồn thu từ thuế, các chính phủ sẽ phải cân nhắc để quyết định xem liệu có nên giảm các dịch vụ mà họ cung cấp hay phải thu phí tăng lên do vay vốn để tài trợ cho việc cung cấp các dịch vụ đó Thiếu tiếp cận thông tin ngân hàng có thể làm tăng chi phí quản lý thuế và chi phí tuân thủ cho người nộp thuế Trên bình diện quốc tế, thiếu khả năng tiếp cận thông tin ngân hàng đầy đủ cho mục đích thuế

có thể cản trở hoạt động hợp tác quốc tế liên quan đến thuế, từ

đó có thể dẫn đến hành động đơn phương của quốc gia tìm kiếm thông tin ngân hàng, gây thiệt hại cho khách hàng và nền tài chính quốc gia

Việc từ chối cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan thuế cũng có thể dẫn đến việc không tuân thủ thuế tự nguyện nhất là khi càng có nhiều cá nhân nhận thu nhập từ dịch vụ quảng cáo trực tuyến của Google, Yahoo, Youtube, hoặc kinh doanh thương mại điện tử qua các sàn thương mại điện tử như: Amazon, Lazada,

Trang 4

Tiki, Shopee,… Doanh thu của các dịch vụ quảng cáo trực tuyến, bán hàng trực tuyến có thể sẽ không được khai báo hoặc khai báo không đúng với thực tế, các dữ liệu giao dịch có thể bị sửa đổi hoặc xóa bỏ sau khi thực hiện Trốn thuế đang diễn ra phổ biến trên tất cả các lĩnh vực, gây thất thoát nghiêm trọng cho ngân sách nhà nước

Với những tác động như vậy, nhiều nước đã quy định việc cải thiện tiếp cận thông tin khách hàng cho mục đích thuế Ngày càng nhiều nước cũng công nhận rằng việc cho phép thuế các cơ quan chức năng truy cập thông tin ngân hàng cho các mục đích thuế có khả năng tăng cường việc thực thi pháp luật có liên quan Việc truy cập vào hồ sơ ngân hàng tạo điều kiện cho các cuộc điều tra của Chính phủ là cần thiết để ngăn chặc các tội phạm tài chính như gian lận, trốn thuế, rửa tiền

2 Cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng cho

cơ quan thuế liệu có vi nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

Ngân hàng có nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng của mình, không được để cho thông tin về cuộc sống riêng tư cá nhân, tài chính của khách hàng bị chủ thể khác tự do tiếp cận, khai thác nếu những thông tin mà ngân hàng có được do khách hàng cung cấp hoặc thông tin phát sinh trong quá trình giao dịch, cung ứng các nghiệp vụ ngân hàng, sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở hợp đồng giữa khách hàng với các ngân hàng Nghĩa vụ này được hình thành dựa trên sự tôn trọng quyền riêng tư của cá nhân, nghĩa vụ liên quan đến hoạt động chuyên môn nghề nghiệp và

Trang 5

nguyên tắc thiện chí, trung thực trong luật về hợp đồng, pháp luật

về đại lý Đây là nghĩa vụ mà các ngân hàng phải triệt để tuân thủ Bảo mật thông tin khách hàng góp phần khuyến khích mọi người gửi tiền vào các ngân hàng và ngăn cản việc tích trữ tiền cá nhân Ngân hàng khi thực hiện tốt nghĩa vụ này sẽ sẽ tạo lập được niềm tin của khách hàng, từ đó giúp ngân hàng có thể tránh được các rủi ro pháp lý khi không đủ thông tin của khách hàng, hoạt động kinh doanh ngân hàng sẽ đạt được hiệu quả, kích thích sự phát triển của ngành dịch vụ tài chính, sự phát triển của nền kinh tế

Sự phát triển của khoa học công nghệ thời gian qua, đã tạo nhiều thuận lợi cho khách hàng và hoạt động kinh doanh ngân hàng nhưng bên cạnh sự thuận lợi đó là những rủi ro và cơ hội gian lận phát sinh Chẳng hạn, việc khách hàng lợi dụng các quy định bảo mật để thực hiện việc che giấu tội phạm và hành vi sai trái như thực hiện các giao dịch liên quan đến tài trợ khủng bố, mua bán ma túy, rửa tiền, trốn thuế… điều này gây nhiều bất lợi cho xã hội Bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng đặt trước nhiều thách thức, có nên mở rộng khả năng tiếp cận thông tin khách hàng cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền không?

Nhà nước với tư cách là người đảm nhận chức năng bảo đảm tính có tổ chức của xã hội, có nghĩa vụ tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc thực hiện quyền được bảo mật thông tin của công dân trong khuôn khổ trật tự xã hội Tuy nhiên, khi cần thiết để bảo vệ an ninh công cộng, an toàn và phúc lợi chung, thì nhà

Trang 6

nước quyết định cần hạn chế đối với những gì mà mình bảo vệ và đương nhiên cần có sự cân bằng giữa lợi ích công cộng và quyền

tư nhân, quyền dân sự Điều này đã được khẳng định tại Điều 8 Công ước về bảo vệ Nhân quyền và những quyền tự do cơ bản

năm 1950: “Mọi người đều có quyền được tôn trọng đời sống

riêng tư và gia đình, nơi cư trú và thư từ” và “cơ quan công quyền

có thể có sự can thiệp tới việc thực hiện quyền này chỉ khi sự can thiệp này được luật dự liệu và là một biện pháp trong một xã hội dân chủ, và cần thiết cho an ninh quốc gia, an toàn công cộng hoặc vì sự thịnh vượng của đất nước với mục đích ngăn ngừa sự hỗn loạn hoặc tội phạm, bảo vệ sức khỏe hoặc các giá trị đạo đức hoặc bảo vệ quyền và sự tự do của các chủ thể khác”.

Ngày nay, hầu hết các nước đều thống nhất rằng nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng không phải là tuyệt đối Chẳng hạn, theo pháp luật Thụy Sĩ, thông tin của khách hàng có thể được tiết

lộ trong các trường hợp sau: (i) theo yêu cầu của pháp luật (khi các điều khoản theo luật định yêu cầu công bố); (ii) khi có lợi ích quan trọng hơn (có thể là lợi ích riêng tư hay lợi ích công cộng); (iii) khi có sự đồng ý của khách hàng3

Tại Anh, nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng được đề

cập trong án lệ Tournier Theo đó, đây là nghĩa vụ được xác định

mặc nhiên giữa ngân hàng với khách hàng, song không phải là tuyệt đối Án lệ Tournier đã xác định bốn điều kiện đi kèm nghĩa

vụ này, đó là: (i) việc công bố thông tin theo yêu cầu của pháp luật; (ii) nhiệm vụ phải công bố công khai; iii) các lợi ích của ngân

Financial Centres around the World”, Cambridge University Press, tr.317

Trang 7

hàng yêu cầu công bố thông tin; (iv) việc công bố được thực hiện bởi sự đồng ý rõ ràng hay ngụ ý của khách hàng4

Tại Singapore, nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng được quy định tại Điều 47 Luật Ngân hàng Singapore năm 1970,

sửa đổi, bổ sung năm 2018 như sau:“Thông tin khách hàng của

ngân hàng sẽ không bị tiết lộ bởi ngân hàng hoặc bất kỳ nhân viên nào của ngân hàng tại Singapore, ngoại trừ được quy định rõ ràng trong Đạo luật này” Phụ lục thứ ba của Đạo luật này quy

định các trường hợp cung cấp thông tin khách hàng, chẳng hạn nếu không có sự đồng ý của khách hàng, các ngân hàng được thành lập tại Singapore hoặc các ngân hàng nước ngoài có chi nhánh tại Singapore không được tiết lộ thông tin của khách hàng với bên thứ ba trừ khi có lệnh của tòa án, hoặc bảo vệ lợi ích của ngân hàng.5

Có thể thấy, hầu như các nước đều có quy định về giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong các trường hợp:

i) nếu khách hàng đồng ý; ii) theo yêu cầu của pháp luật; iii) vì lợi

ích công cộng hay lợi ích chung; iv) vì lợi ích chính đáng của ngân hàng

Với những tác động bất lợi của việc hạn chế khả năng tiếp cận thông tin khách hàng của ngân hàng cho cơ quan thuế đối với nền kinh tế quốc gia cũng như thế giới, nhiều nước trên thế giới

đã ghi nhận việc cung cấp thông tin khách hàng của ngân hàng

<http://dentons.rodyk.com/en/insights/alerts/2014/september/1/banking-secrecy-in-singapore>

Trang 8

cho cơ quan thuế là một trong các giới hạn của nghĩa vụ bảo mật thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng

3 Quy định của pháp luật về cung cấp thông tin khách hàng trong hoạt động ngân hàng cho cơ quan thuế tại Việt Nam và một vài khuyến nghị

Ở Việt Nam, theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 14 Luật Các tổ chức tín dụng (Luật các TCTD) năm 2010, sửa đổi, bổ

sung năm 2017 thì “TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

(CNNHNNg) phải bảo đảm bí mật thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi và các giao dịch của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg TCTD, CNNHNNg không được cung cấp thông tin liên quan đến tài khoản, tiền gửi, tài sản gửi, các giao dịch của khách hàng tại TCTD, CNNHNNg cho tổ chức, cá nhân khác, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật hoặc được sự chấp thuận của khách hàng”

Nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật các TCTD về nghĩa

vụ bảo mật và cung cấp thông tin khách hàng, Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 117/2018/NĐ-CP ngày 11/9/2018 về việc giữ bí mật, cung cấp thông tin khách hàng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Nghị định số 117/2018/NĐ-CP) cũng đã

quy định: “Thông tin khách hàng của TCTD, CNNHNNg phải được

giữ bí mật và chỉ được cung cấp theo quy định của Luật các TCTD năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Nghị định này và pháp luật có liên quan” Cũng theo Điểm a Khoản 1 Điều 11 Nghị định

số 117/2018/NĐ-CP “TCTD, CNNHNNg chỉ được cung cấp thông tin

Trang 9

khách hàng cho tổ chức khác, cá nhân thuộc trường hợp có quy định cụ thể tại bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội”

Cung cấp thông tin khách hàng cho cơ quan quản lý thuế được quy định đã được quy định tại Điều 9 Luật Quản lý thuế năm

2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012 trước đây Hiện nay, nội dung này được quy định tại Điều 19 Luật Quản lý thuế năm 2019, cụ thể: cơ quan quản lý thuế6 có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế và phối hợp với cơ quan quản lý thuế để thực hiện pháp luật về thuế; kiểm tra thuế, thanh tra thuế theo quy định của pháp luật; ấn định thuế; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế Đồng thời, pháp luật hiện hành cũng quy định rõ nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong việc cung cấp thông tin về số hiệu tài khoản theo mã số thuế của người nộp thuế khi mở tài khoản;7 cung cấp nội dung giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản của người nộp thuế trong thời hạn

10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan quản

lý thuế”;8 khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định pháp luật về thuế của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử có phát sinh thu nhập từ Việt Nam; trích tiền để nộp thuế từ tài khoản của người nộp thuế, phong tỏa tài khoản của người nộp thuế bị cưỡng chế thi hành

Chi cục Thuế khu vực; Cơ quan hải quan bao gồm Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan, Chi cục Hải quan (Khoản 2 Điều 2 Luật Quản lý thuế năm 2019)

Trang 10

quyết định hành chính về quản lý thuế theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế 9

Nội dung này đã được quy định cụ thể hóa tại Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 quy định chi tiết một số Điều

của Luật Quản lý Thuế Cụ thể: “Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

phối hợp Bộ Tài chính chỉ đạo, hướng dẫn ngân hàng thương mại,

tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép trong việc kết nối, cung cấp thông tin với cơ quan quản lý thuế liên quan đến giao dịch qua ngân hàng của tổ chức, cá nhân và phối hợp với cơ quan quản lý thuế trong thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế;…”10 Bên cạnh đó, Nghị định cũng hướng dẫn cụ thể hơn trách nhiệm cung cấp thông tin về tài khoản của khách hàng mở tại các ngân hàng cho cơ quan thuế, theo đó: i) Theo đề nghị của cơ quan quản lý thuế, ngân hàng thương mại cung cấp thông tin tài khoản thanh toán của từng người nộp thuế bao gồm: tên chủ tài khoản, số hiệu tài khoản theo Mã số thuế đã được cơ quan quản lý thuế cấp, ngày mở tài khoản, ngày đóng tài khoản Việc cung cấp thông tin

về tài khoản theo điểm a khoản này được thực hiện lần đầu trong thời gian 90 ngày kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành Việc cập nhật các thông tin về tài khoản được thực hiện hàng tháng trong 10 ngày của tháng kế tiếp Phương thức cung cấp thông tin được thực hiện dưới hình thức điện tử ii) Ngân hàng thương mại cung cấp thông tin giao dịch qua tài khoản, số dư tài khoản, số liệu giao dịch theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan

một số Điều của Luật Quản lý Thuế

Ngày đăng: 24/09/2021, 14:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w