1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC LÊNIN LÝ LUẬN VỀ CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT NAM. LIÊN HỆ THỰC TIỄN

29 1,2K 14

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 322,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1 NỘI DUNG 3 CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ 3 1.1. Lợi ích kinh tế 3 1.1.1. Khái niệm và bản chất của lợi ích kinh tế 3 1.1.2. Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội 4 1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế 6 1.2. Quan hệ lợi ích kinh tế 7 1.2.1. Khái niệm và chiều của quan hệ kinh tế 7 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng 8 CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐẢM BẢO HÀI HÒA CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH 11 2.1 Quan niệm về sự hài hòa giữa các lợi ích kinh tế 11 2.2 Vai trò của nhà nước trong đảm baro hài hòa các quan hệ lợi ích 11 CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT NAM 15 3.1 Nội dung đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh tế trong phát triển ở Việt Nam 15 3.2 Đảm bảo hài hòa lợi ích trong một số quan hệ lợi ích cụ thể trong phát triển ở Việt Nam 17 3.3 Một số ví dụ thực tiễn giải quyết các quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam 21 KẾT LUẬN 23 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI MỞ ĐẦU Nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII một lần nữa khẳng định sự kiên trì chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, và đẻ ra chính sách: Công nghiệp hoá và hiện đại hoá để đưa nước ta nhanh chóng trở thành một nước có nên kinh tế phát triển ngay trong thập kỷ đâu của thế kỷ XXI.Nền kinh tế nước ta đã chuyên đổi dân dân từ nên kinh tế tập trung quan lieu bao cấp sang nên kinh tế hàng hoá nhiều thành phân, mở cửa, vận hành theo. cơ chế thị trường có sự điều tiết quản lý của Nhà nước. Khi nước ta chuyên sang nên kinh tế thị trường, xây dựng nên công nghiệp hoá hiện đại hoá thì vấn đề nỗi lên không chỉ ở nước ta mà ở cả các nước đang phát triển là tình trạng cơ sở hạ tẳng kém, thiểu kinh nghiệm, trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên chưa cao. Vì thể, cùng một lúc chúng ta phải bắt tay vào giải quyết nhiều vần đề cấp bách thì mới đáp ứng kịp thời với yêu cầu đặt ra. Đặc biệt vấn đề về lợi ích kinh tế là một trong những vấn đề kinh tế lớn của Nhà nước mà đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra cho giai đoạn phát triển kinh tế nước ta hiện nay. Việt Nam trong quá trình chuyên đôi nên lcinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong điều kiện đó nhiều loại hình Doanh nghiệp , nhiều loại hình kinh tế cùng tên tại, cùng tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh. Để tồn tại trong cơ chế mới với sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi hoạt động kinh doanh nói chung, thì lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp nói riêng và lợi ích của toàn xã hội nói chung luôn được quan tâm hàng đầu. Bên cạnh những thành công, tiên bộ của một số doanh nghiệp thì còn không ít những doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh thấp dẫn đến nguy cơ sa sút, không đứng nỗi trong cơ chế thị trường, phải sát nhập, phá sản hoặc giải thể. Mặt khác tình trạng hoạt động kinh doanh nói chung gặp rất nhiều khó khăn lúng túng và bị động khi chuyên sang cơ chế mới, chưa tìm ra được các giải pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả kinh doanh. Có những doanh nghiệp sử dụng các hình thức cạnh tranh không lành mạnh, thậm chí là vi phạm pháp luật, chơi xấu đối thủ…. để trục lợi bất chính. Nhận thức được tầm quan trọng của các quan hệ lợi ích kinh tế trong nền phát triển kinh tế của các doanh nghiệp ở Việt Nam và vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo hài hòa các lợi ích đó nên nhóm chúng em quyết đinh chọn đề tài: “Lý luận về các quan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam. Liên hệ thực tiễn” là đề tài cho bài tiểu luận cuối kỳ với hy vọng đóng góp một phần công sức nhỏ vào lý luận và phương pháp xây dựng để nâng cao hiệu quả trong kinh doanh và giúp mọi người hiểu về tầm quan trọng của các quan hệ lợi ích kinh tế và vai trò của nhà nước trong việc điều tiết sự hài hòa các quan hệ lợi ích kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh ngiệp trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam ngày nay. Mục tiêu : Giúp người đọc hiểu rõ về khái niệm, bản chất và tầm quan trọng của lợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh tế và vai trò của nhà nước trong việc điều tiết đảm bảo sự hài hòa quan hệ lợi ích kinh tế giữa các doanh nghiệp, liện hệ một số vấn đề, ví dụ thực tiễn để hiểu rõ hơn vấn đề. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ 1.1. Lợi ích kinh tế 1.1.1. Khái niệm và bản chất của lợi ích kinh tế Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quan của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội và do hệ thống quan hệ sản xuất quyết định. Mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhu cầu của họ phải được đáp ứng. Lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau. Lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu, nhu cầu làm nảy sinh lợi ích. Cũng giống như lợi ích của con người nói chung, lợi ích kinh tế gắn liền với nhu cầu, song đây không phải là nhu cầu bất kỳ, mà là nhu cầu kinh tế (nhu cầu vật chất). Chỉ có những nhu cầu kinh tế mới làm phát sinh lợi ích kinh tế. Vì vậy lợi ích kinh tế là một phạm trù kinh tế, một mặt, nó phản ánh những điều kiện, những phương tiện nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất của mỗi con người, mỗi chủ thể. Suy cho cùng, lợi ích kinh tế được biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi con người có được khi tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. Mặt khác, nó phản ánh quan hệ giữa con người với con người trong quá trình tham gia vào các hoạt động đó để tạo ra của cải vật chất cho mình. Những quan hệ đó chính là quan hệ sản xuất trong xã hội. Vì vậy lợi ích kinh tế còn là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, do quan hệ sản xuất quyết định. Quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội. Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất, mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất, là hình thức vốn có bên trong, hình thức tồn tại và biểu hiện của các quan hệ sản xuất. Chính vì vậy, theo Ph.Ăngghen: Các quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích. Hệ thống quan hệ sản xuất của mỗi một chế độ xã hội nhất định sẽ quy định hệ thống lợi ích kinh tế của xã hội đó. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta tồn tại nhiều quan hệ sản xuất, mà trước hết là nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, do đó hệ thống lợi ích kinh tế cũng mang tính đa dạng. Tuỳ góc độ xem xét mà ta có thể phân chia thành các nhóm, các loại lợi ích kinh tế khác nhau sau đây: Dưới góc độ khái quát nhất có thể phân chia hệ thống lợi ích kinh tế thành: Lợi ích kinh tế cá nhân, lợi ích kinh tế tập thể và lợi ích kinh tế xã hội. Dưới góc độ các thành phần kinh tế, có lợi ích kinh tế tương ứng với các thành phần kinh tế đó. Dưới góc độ các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, có lợi ích kinh tế của người sản xuất, người phân phối, người trao đổi, người tiêu dùng. Dù cách phân chia có thể khác nhau nhưng các lợi ích kinh tế bao giờ cũng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau. Mặt thống nhất thể hiện ở chỗ: chúng cùng đồng thời tồn tại trong một hệ thống, trong đó lợi ích kinh tế này là cơ sở, là tiền đề cho lợi ích kinh tế khác. Chẳng hạn, có lợi ích kinh tế của người sản xuất, thì mới có lợi ích kinh tế của người trao đổi, người tiêu dùng và ngược lại. Mặt mâu thuẫn biểu hiện ở sự tách biệt nhất định giữa các lợi ích đó dẫn đến xu hướng lấn át của lợi ích kinh tế này đối với lợi ích kinh tế khác. Do đó, nó có thể gây nên những xung đột nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến các hoạt động kinh tế xã hội. Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, thì các lợi ích kinh tế cũng mang tính đối kháng, do đó, nó dẫn đến những cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa các giai cấp. Trong thực tế, lợi ích kinh tế thường được biểu hiện ở các hình thức thu nhập như: tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, thuế, phí, lệ phí... 1.1.2. Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế được biểu hiện vô cùng phong phú. Mặc dù vậy, điểm chung của hết thảy các hoạt động đó là hướng tới lợi ích. Xét theo nghĩa như vậy, có thể khái quát vai trò của lợi ích kinh tế trên một số khía cạnh chủ yếu sau: Lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các chủ thể và hoạt động kinh tế xã hội. Con người tiến hành các hoạt động kinh tế trước hết là để thỏa mãn các nhu cầu vật chất, nâng cao phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất của mình. Trong nền kinh tế thị trường, phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất tùy thuộc vào mức thu nhập. Do đó, mức thu nhập càng cao, phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất càng tốt. Vì vậy, mọi chủ thể kinh tế đều phải hành động để nâng cao thu nhập của mình. Thực hiện lợi ích kinh tế của các giai tầng xã hội, đặc biệt của người dân vừa là cơ sở bảo đảm cho sự ồn định và phát triển xã hội, vừa là biểu hiện của sự phát triển. “Nước độc lập mà dân không được hưởng ấm no, hạnh phúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì” Về khía cạnh kinh tế, tắt cả các chủ thể kinh tế đều hành động trước hết vì lợi ích chính đáng của mình. Tất nhiên, lợi ích này phải đảm bảo trong sự liên hệ với các chủ thể khác trong xã hội. Phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất trước hết phụ thuộc vào số lượng, chất lượng, hàng hóa và dịch vụ mà xã hội có được. Mà tất cả các nhân tổ đó lại là sản phẩm của nền kinh tế và phụ thuộc vào quy mô và trình độ phát triển của nó. Theo đuổi lợi ích kinh tế chính đáng của mình, các chủ thể kinh tế đã đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế. Vì lợi ích chính đáng của mình, người lao động phải tích cực lao động sản xuất, nâng cao tay nghề, cải tiến công cụ lao động; chủ doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, đáp ứng các nhu cầu, thị hiếu của khách hang cách nâng cao chất lượng sản phẩm, trách nhiệm trong phục vụ người tiêu dùng... Tất cả những điều đó đều có tác dụng thúc đây sự phát triển của lực lượng sản xuất, của nền kinh tế và nâng cao đời sống của người dân. Lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác. Phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất còn phụ thuộc địa vị của con người trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội nên để thực hiện được lợi ích của mình các chủ thể kinh tế phải đấu tranh với nhau để thực hiện quyền làm chủ đối với tư liệu sản xuất. Đó là cội nguồn sâu xa đấu tranh giữa các giai cấp trong lịch sử một động lực quan trọng của tiến bộ xã hội. “Động lực của toàn bộ lịch sử chính là cuộc đấu tranh của các giai cấp và những xung đột về quyền lợi của họ” và “nguồn gốc vấn đề trước hết là những lợi ích kinh tế mà quyền lực chính trị phải phục vụ với tư cách phương tiện”. Như vậy, mọi vận động của lịch sử, dù dưới hình thức như thế nào, xét đến cùng, đều xoay quanh vấn đề lợi ích mà trước hết là lợi ích kinh tế. Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành và thực hiện lợi ích chính tị, lợi ích xã hội, lợi ích văn hóa của các chủ thể xã hội. Lợi ích kinh tế mang tính khách quan và là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế xã hội. C.Mác đã chỉ rõ : “Cội nguồn phát triển của xã hội không phải là quá trình nhân thức, mà là các quan hê của đời sống vật chất, tức là các lợi ích kinh tế của con người”. Điều cần lưu ý là, chỉ khi có sự đồng thuận, thống nhất giữa các lợi ích kinh tế thì lợi ích kinh tế mới thực hiện được vai trò của mình. Ngược lại, việc theo đuổi những lợi ích kinh tế không chính đáng, không hợp lý, không hợp pháp sẽ trở thành trở ngại cho sự phát triển kinh tế xã hội. Ở Việt Nam, trong một thời gian rất dài, vì rắt nhiều lý do, các lợi ích kinh tế, nhất là lợi ích cá nhân, không được chú ý đúng mức. Hiện nay, trong điều kiện cơ chế thị trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là: coi lợi ích kinh tế là động lực của các hoạt động kinh tế; phải tôn trọng lợi ích cá nhân chính đáng. Điều này góp phần tạo động lực cho sự phát triển đất nước ta trong những năm vừa qua. 1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế Thứ nhất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Là phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất của con người, lợi ích kinh tế trước hết phụ thuộc vào số lượng, chất lượng hang hóa và dịch vụ, mà điều này lại phụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất. Do đó, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao, việc đáp ứng lợi ích kinh tế của các chủ thể càng tốt. Như vậy, nhân tổ đầu tiên ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các chủ thể là lực lượng sản xuất. Chính vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất trở thành nhiệm vụ quan trọng hang đầu của các quốc gia. Thứ hai, địa vị của chủ thể trong hệ thông quan hệ sản xuất xã hội. Quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định vị trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động kinh tế xã hội. Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sản xuất, mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất, là hình thức tồn tại và biểu hiện của các quan hệ sản xuất. Chính vì vậy, theo Ph. Ăngghen, các quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích. Thứ ba, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước. Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường là tắt yếu khách quan, bằng nhiều loại công cụ, trong đó có các chính sách kinh tế xã hội. Chính sách phân phối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập và tương quan thu nhập của các chủ thể kinh tế. Khi mức thu nhập và tương quan thu nhập thay đổi, phương thức và mức độ thỏa mãn các như cầu vật chất cũng thay đổi, tức là lợi ích kinh tế và quan hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể cũng thay đồi. Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế. Bản chất của kinh tế thị trường là mở cửa hội nhập. Khi mở cửa hội nhập có thể gia tăng lợi ích kinh tế từ thương mại quốc tế. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp, hộ gia đình sản xuất hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nội địa có thể bị ảnh hưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài. Đắt nước có thể phát triển nhanh hơn nhưng cũng phải đối mặt với các nguy cơ cạn kiệt tải nguyên, ô nhiễm môi trường... Điều đó có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tác động mạnh mẽ và nhiều chiều đến lợi ích kinh tế của các chủ thể. 1.2. Quan hệ lợi ích kinh tế 1.2.1. Khái niệm và chiều của quan hệ kinh tế Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa con người với con người, giữa các cộng đồng người, giữa các tổ chức kinh tế, giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế, giữa con người với tổ chức kinh tế, giữa quốc giá với phần còn lại của thế giới nhằm mục tiêu xác lập các lợi ích kinh tế trong mối liên hệ với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một giai đoạn phát triển xã hội nhất định. Chiều của quan hệ kinh tế : quan hệ lợi ích kinh tế có biểu hiện hết sức phong phú, quan hệ đó có thể là các quan hệ theo chiều dọc, giữa một tổ chức kinh tế với một cá nhân trong tổ chức kinh tế đó. Cũng có thể theo chiều ngang giữa các chủ thể, các cộng đồng người, giữa các tổ chức, các bộ phận hợp thành kinh tế khác nhau. Trong điều kiện hội nhập ngày nay, quan hệ lợi ích kinh tế còn phải xét tới quan hệ giữa quốc gia với phần còn lại của thế giới. 1.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng Thứ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Lao động trẻ, có sức khỏe; thể lực ngày càng được cải thiện, bước đầu đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại. Tri thức, trí tuệ, kĩ năng của người lao động không ngừng được nâng lên đáp ứng bước đầu được nhu cầu của nền sản xuất hiện đại. Không chỉ có sức khỏe, thể lực được cải thiện đáng kể, trong những năm qua, tri thức và trí tuệ của người lao động nước ta cũng không ngừng tăng lên. Điều đó thể hiện rõ nét nhất ở số lượng lao động đã qua đào tạo. Hiện nay, trong các ngành công nghệ cao, số lượng công nhân kỹ thuật, công nhân có tay nghề, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư đang ngày một tăng lên. Do đó, trong các ngành này, xu hướng tri thức hóa công nhân ngày càng rõ rệt. Sự gia tăng đội ngũ lao động lành nghề trong các ngành này góp phần to lớn trong việc chuyển đổi tính chất của nền sản xuất, từ công nghiệp truyền thống giản đơn, thủ công sáng công nghiệp hiện đại, tự động hóa và tin học hóa, Sự tăng lên nhanh chóng của đội ngũ công nhân có trí thức cũng đã góp phần chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ở nước ta theo hướng hiện đại, phù hợp với xu hướng của các nước trong khu vực và trên thế giới. Nhiều ngành nghề trước đây được coi là “ then chốt “ như cơ khí, xây dựng… thì ngày nay, với phát triển của khoa học công nghệ và sự gia tăng trình độ, tri thức của người lao động, có nhiều công nhân nước ta làm việc trong những ngành nghề mới như điện viễn thông, dầu khí, công nghệ thông tin…. Biểu hiện rõ nhất của những thay đổi tích cực về trình độ, tay nghề của nguồn lao động trong công nghiệp là xu hướng tri thức hóa công nhân đang diễn ra, nhất là ở lớp công nhân trẻ. Trong nhiều ngành công nghiệp, nhất là những ngành công nghiệp mũi nhọn như dầu khí, điện tử, công nghệ vật liệu mới… số lượng lao động có trình độ chiếm tỷ lệ khá cao. Có nhiều người lao động là kỹ sư, công nhân lành nghề được đào tạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ. Như vậy, trong những năm qua, chất lượng của người lao động nước ta trong lĩnh vực công nghiệp ngày càng được cải thiện. Yếu tố tri thức, trí tuệ của người lao động đã từng bước được tăng lên; hàm lượng tri thức, chất xám trong mỗi sản phẩm ngày một nhiều hơn. Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo, nhất là lao động trong các ngành công nghiệp không ngừng tăng lên, bước đầu đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại.

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP HCM

KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ



TIỂU LUẬN MÔN HỌC: KINH TẾ CHÍNH TRỊ MÁC - LÊNIN

ĐỀ TÀI: LÝ LUẬN VỀ CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT

NAM LIÊN HỆ THỰC TIỄN.

Thủ Đức, ngày 2 tháng 6 năm 2021

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

……….

Điểm: ………

KÝ TÊN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ 3

1.1 Lợi ích kinh tế 3

1.1.1 Khái niệm và bản chất của lợi ích kinh tế 3

1.1.2 Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội 4

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế 6

1.2 Quan hệ lợi ích kinh tế 7

1.2.1 Khái niệm và chiều của quan hệ kinh tế 7

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 8

CHƯƠNG 2: VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG ĐẢM BẢO HÀI HÒA CÁC QUAN HỆ LỢI ÍCH 11

2.1 Quan niệm về sự hài hòa giữa các lợi ích kinh tế 11

2.2 Vai trò của nhà nước trong đảm baro hài hòa các quan hệ lợi ích 11

Trang 4

CHƯƠNG 3: LIÊN HỆ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC QUAN

HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ Ở VIỆT NAM 15

3.1 Nội dung đảm bảo hài hòa các lợi ích kinh tế trong phát triển ở Việt

Trang 5

mở cửa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiếtquản lý của Nhà nước.

Khi nước ta chuyên sang nên kinh tế thị trường,xây dựng nên công nghiệp hoá hiện đại hoá thì vấn đềnỗi lên không chỉ ở nước ta mà ở cả các nước đang pháttriển là tình trạng cơ sở hạ tẳng kém, thiểu kinh nghiệm,trình độ đội ngũ cán bộ công nhân viên chưa cao Vìthể, cùng một lúc chúng ta phải bắt tay vào giải quyếtnhiều vần đề cấp bách thì mới đáp ứng kịp thời với yêucầu đặt ra

Đặc biệt vấn đề về lợi ích kinh tế là một trongnhững vấn đề kinh tế lớn của Nhà nước mà đại hộiĐảng toàn quốc lần thứ VII đã đề ra cho giai đoạn pháttriển kinh tế nước ta hiện nay

Việt Nam trong quá trình chuyên đôi nên lcinh tế

từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, trong điều kiện đó nhiều loại hình Doanhnghiệp , nhiều loại hình kinh tế cùng tên tại, cùng thamgia hoạt động sản xuất kinh doanh Để tồn tại trong cơchế mới với sự cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi hoạt độngkinh doanh nói chung, thì lợi ích kinh tế của các doanh

Trang 6

nghiệp nói riêng và lợi ích

của toàn xã hội nói chung

luôn được quan tâm hàng

sút, không đứng nỗi trong

cơ chế thị trường, phải sát

sang cơ chế mới, chưa tìm

ra được các giải pháp hữu

hiệu nâng cao hiệu quả

Trang 7

Nhận thức được tầm quan trọng của các quan hệ lợi ích kinh tế trong nền pháttriển kinh tế của các doanh nghiệp ở Việt Nam và vai trò của nhà nước trong việc đảmbảo hài hòa các lợi ích đó nên nhóm chúng em quyết đinh chọn đề tài: “Lý luận về cácquan hệ lợi ích kinh tế ở Việt Nam Liên hệ thực tiễn” là đề tài cho bài tiểu luận cuối

kỳ với hy vọng đóng góp một phần công sức nhỏ vào lý luận và phương pháp xâydựng để nâng cao hiệu quả trong kinh doanh và giúp mọi người hiểu về tầm quantrọng của các quan hệ lợi ích kinh tế và vai trò của nhà nước trong việc điều tiết sự hàihòa các quan hệ lợi ích kinh tế, nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh ngiệptrong nền kinh tế thị trường của Việt Nam ngày nay

Mục tiêu : Giúp người đọc hiểu rõ về khái niệm, bản chất và tầm quan trọng củalợi ích kinh tế, quan hệ lợi ích kinh tế, các nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ lợi ích kinh

tế và vai trò của nhà nước trong việc điều tiết đảm bảo sự hài hòa quan hệ lợi ích kinh

tế giữa các doanh nghiệp, liện hệ một số vấn đề, ví dụ thực tiễn để hiểu rõ hơn vấn đề

Trang 8

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LỢI ÍCH KINH TẾ VÀ QUAN HỆ LỢI ÍCH KINH TẾ

1.1 Lợi ích kinh tế

1.1.1 Khái niệm và bản chất của lợi ích kinh tế

Lợi ích kinh tế là lợi ích vật chất, nó phản ánh mục đích và động cơ khách quancủa các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội và do hệ thống quan hệsản xuất quyết định Mỗi một con người hay xã hội muốn tồn tại và phát triển thì nhucầu của họ phải được đáp ứng Lợi ích và nhu cầu có mối quan hệ mật thiết với nhau.Lợi ích bắt nguồn từ nhu cầu và là cái để đáp ứng nhu cầu, nhu cầu làm nảy sinh lợiích

Cũng giống như lợi ích của con người nói chung, lợi ích kinh tế gắn liền vớinhu cầu, song đây không phải là nhu cầu bất kỳ, mà là nhu cầu kinh tế (nhu cầu vậtchất) Chỉ có những nhu cầu kinh tế mới làm phát sinh lợi ích kinh tế Vì vậy lợi íchkinh tế là một phạm trù kinh tế, một mặt, nó phản ánh những điều kiện, những phươngtiện nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất của mỗi con người, mỗi chủ thể Suy cho cùng, lợiích kinh tế được biểu hiện ở mức độ của cải vật chất mà mỗi con người có được khitham gia vào các hoạt động kinh tế - xã hội Mặt khác, nó phản ánh quan hệ giữa conngười với con người trong quá trình tham gia vào các hoạt động đó để tạo ra của cảivật chất cho mình Những quan hệ đó chính là quan hệ sản xuất trong xã hội Vì vậylợi ích kinh tế còn là hình thức biểu hiện của quan hệ sản xuất, do quan hệ sản xuấtquyết định

Quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định

vị trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia vào các hoạtđộng kinh tế - xã hội Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan hệ sảnxuất, mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất, là hình thức vốn có bên trong,hình thức tồn tại và biểu hiện của các quan hệ sản xuất Chính vì vậy, theoPh.Ăngghen: Các quan hệ kinh tế của một xã hội nhất định biểu hiện trước hết dướihình thức lợi ích

Hệ thống quan hệ sản xuất của mỗi một chế độ xã hội nhất định sẽ quy định

hệ thống lợi ích kinh tế của xã hội đó

Trang 9

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta tồn tại nhiều quan hệ sảnxuất, mà trước hết là nhiều quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhiều thànhphần kinh tế, do đó hệ thống lợi ích kinh tế cũng mang tính đa dạng Tuỳ góc độ xemxét mà ta có thể phân chia thành các nhóm, các loại lợi ích kinh tế khác nhau sau đây:

- Dưới góc độ khái quát nhất có thể phân chia hệ thống lợi ích kinh tế thành:Lợi ích kinh tế cá nhân, lợi ích kinh tế tập thể và lợi ích kinh tế xã hội

- Dưới góc độ các thành phần kinh tế, có lợi ích kinh tế tương ứng với các thànhphần kinh tế đó

- Dưới góc độ các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội, có lợi ích kinh tế củangười sản xuất, người phân phối, người trao đổi, người tiêu dùng

Dù cách phân chia có thể khác nhau nhưng các lợi ích kinh tế bao giờ cũng cómối quan hệ chặt chẽ với nhau: vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau Mặt thốngnhất thể hiện ở chỗ: chúng cùng đồng thời tồn tại trong một hệ thống, trong đó lợi íchkinh tế này là cơ sở, là tiền đề cho lợi ích kinh tế khác Chẳng hạn, có lợi ích kinh tếcủa người sản xuất, thì mới có lợi ích kinh tế của người trao đổi, người tiêu dùng vàngược lại Mặt mâu thuẫn biểu hiện ở sự tách biệt nhất định giữa các lợi ích đó dẫnđến xu hướng lấn át của lợi ích kinh tế này đối với lợi ích kinh tế khác

Do đó, nó có thể gây nên những xung đột nhất định, ảnh hưởng tiêu cực đến cáchoạt động kinh tế - xã hội Trong các xã hội có đối kháng giai cấp, thì các lợi ích kinh

tế cũng mang tính đối kháng, do đó, nó dẫn đến những cuộc đấu tranh không khoannhượng giữa các giai cấp Trong thực tế, lợi ích kinh tế thường được biểu hiện ở cáchình thức thu nhập như: tiền lương, tiền công, lợi nhuận, lợi tức, địa tô, thuế, phí, lệphí

1.1.2 Vai trò của lợi ích kinh tế đối với các chủ thể kinh tế xã hội

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế được biểu hiện vô cùng phongphú Mặc dù vậy, điểm chung của hết thảy các hoạt động đó là hướng tới lợi ích Xéttheo nghĩa như vậy, có thể khái quát vai trò của lợi ích kinh tế trên một số khía cạnhchủ yếu sau:

Trang 10

- Lợi ích kinh tế là động lực trực tiếp của các chủ thể và hoạt động kinh tế - xãhội.

Con người tiến hành các hoạt động kinh tế trước hết là để thỏa mãn các nhu cầuvật chất, nâng cao phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất của mình.Trong nền kinh tế thị trường, phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chấttùy thuộc vào mức thu nhập Do đó, mức thu nhập càng cao, phương thức và mức độthỏa mãn các nhu cầu vật chất càng tốt Vì vậy, mọi chủ thể kinh tế đều phải hànhđộng để nâng cao thu nhập của mình Thực hiện lợi ích kinh tế của các giai tầng xã hội,đặc biệt của người dân vừa là cơ sở bảo đảm cho sự ồn định và phát triển xã hội, vừa

là biểu hiện của sự phát triển “Nước độc lập mà dân không được hưởng ấm no, hạnhphúc thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”

Về khía cạnh kinh tế, tắt cả các chủ thể kinh tế đều hành động trước hết vì lợiích chính đáng của mình Tất nhiên, lợi ích này phải đảm bảo trong sự liên hệ với cácchủ thể khác trong xã hội Phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chấttrước hết phụ thuộc vào số lượng, chất lượng, hàng hóa và dịch vụ mà xã hội có được

Mà tất cả các nhân tổ đó lại là sản phẩm của nền kinh tế và phụ thuộc vào quy mô vàtrình độ phát triển của nó Theo đuổi lợi ích kinh tế chính đáng của mình, các chủ thểkinh tế đã đóng góp vào sự phát triển của nền kinh tế Vì lợi ích chính đáng của mình,người lao động phải tích cực lao động sản xuất, nâng cao tay nghề, cải tiến công cụ laođộng; chủ doanh nghiệp phải tìm cách nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, đápứng các nhu cầu, thị hiếu của khách hang cách nâng cao chất lượng sản phẩm, tráchnhiệm trong phục vụ người tiêu dùng Tất cả những điều đó đều có tác dụng thúc đây

sự phát triển của lực lượng sản xuất, của nền kinh tế và nâng cao đời sống của ngườidân Lợi ích kinh tế là cơ sở thúc đẩy sự phát triển các lợi ích khác

Phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất còn phụ thuộc địa vị củacon người trong hệ thống quan hệ sản xuất xã hội nên để thực hiện được lợi ích củamình các chủ thể kinh tế phải đấu tranh với nhau để thực hiện quyền làm chủ đối với

tư liệu sản xuất Đó là cội nguồn sâu xa đấu tranh giữa các giai cấp trong lịch sử - mộtđộng lực quan trọng của tiến bộ xã hội “Động lực của toàn bộ lịch sử chính là cuộcđấu tranh của các giai cấp và những xung đột về quyền lợi của họ” và “nguồn gốc vấn

Trang 11

đề trước hết là những lợi ích kinh tế mà quyền lực chính trị phải phục vụ với tư cáchphương tiện” Như vậy, mọi vận động của lịch sử, dù dưới hình thức như thế nào, xétđến cùng, đều xoay quanh vấn đề lợi ích mà trước hết là lợi ích kinh tế.

Lợi ích kinh tế được thực hiện sẽ tạo điều kiện vật chất cho sự hình thành vàthực hiện lợi ích chính tị, lợi ích xã hội, lợi ích văn hóa của các chủ thể xã hội Lợi íchkinh tế mang tính khách quan và là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế -xã hội.C.Mác đã chỉ rõ : “Cội nguồn phát triển của xã hội không phải là quá trình nhân thức,

mà là các quan hê của đời sống vật chất, tức là các lợi ích kinh tế của con người” Điềucần lưu ý là, chỉ khi có sự đồng thuận, thống nhất giữa các lợi ích kinh tế thì lợi íchkinh tế mới thực hiện được vai trò của mình Ngược lại, việc theo đuổi những lợi íchkinh tế không chính đáng, không hợp lý, không hợp pháp sẽ trở thành trở ngại cho sựphát triển kinh tế - xã hội

Ở Việt Nam, trong một thời gian rất dài, vì rắt nhiều lý do, các lợi ích kinh tế,nhất là lợi ích cá nhân, không được chú ý đúng mức Hiện nay, trong điều kiện cơ chếthị trường, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là: coi lợi ích kinh tế là động lực củacác hoạt động kinh tế; phải tôn trọng lợi ích cá nhân chính đáng Điều này góp phầntạo động lực cho sự phát triển đất nước ta trong những năm vừa qua

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế

Thứ nhất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Là phương thức và mức độ thỏa mãn các nhu cầu vật chất của con người, lợiích kinh tế trước hết phụ thuộc vào số lượng, chất lượng hang hóa và dịch vụ, mà điềunày lại phụ thuộc vào trình độ phát triển lực lượng sản xuất Do đó, trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất càng cao, việc đáp ứng lợi ích kinh tế của các chủ thể càng tốt.Như vậy, nhân tổ đầu tiên ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các chủ thể là lực lượngsản xuất Chính vì vậy, phát triển lực lượng sản xuất trở thành nhiệm vụ quan trọnghang đầu của các quốc gia

Thứ hai, địa vị của chủ thể trong hệ thông quan hệ sản xuất xã hội

Quan hệ sản xuất, mà trước hết là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quyết định

vị trí, vai trò của mỗi con người, mỗi chủ thể trong quá trình tham gia các hoạt động

Trang 12

kinh tế - xã hội Do đó, không có lợi ích kinh tế nằm ngoài những quan 'hệ sản xuất,

mà nó là sản phẩm của những quan hệ sản xuất, là hình thức tồn tại và biểu hiện củacác quan hệ sản xuất Chính vì vậy, theo Ph Ăngghen, các quan hệ kinh tế của một xãhội nhất định biểu hiện trước hết dưới hình thức lợi ích

Thứ ba, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước

Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường là tắt yếu khách quan,bằng nhiều loại công cụ, trong đó có các chính sách kinh tế - xã hội Chính sách phânphối thu nhập của nhà nước làm thay đổi mức thu nhập và tương quan thu nhập củacác chủ thể kinh tế Khi mức thu nhập và tương quan thu nhập thay đổi, phương thức

và mức độ thỏa mãn các như cầu vật chất cũng thay đổi, tức là lợi ích kinh tế và quan

hệ lợi ích kinh tế giữa các chủ thể cũng thay đồi

Thứ tư, hội nhập kinh tế quốc tế

Bản chất của kinh tế thị trường là mở cửa hội nhập Khi mở cửa hội nhập có thểgia tăng lợi ích kinh tế từ thương mại quốc tế Tuy nhiên, lợi ích kinh tế của các doanhnghiệp, hộ gia đình sản xuất hàng hóa tiêu thụ trên thị trường nội địa có thể bị ảnhhưởng bởi cạnh tranh của hàng hóa nước ngoài Đắt nước có thể phát triển nhanh hơnnhưng cũng phải đối mặt với các nguy cơ cạn kiệt tải nguyên, ô nhiễm môi trường Điều đó có nghĩa là hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tác động mạnh mẽ và nhiều chiều đếnlợi ích kinh tế của các chủ thể

1.2 Quan hệ lợi ích kinh tế

1.2.1 Khái niệm và chiều của quan hệ kinh tế

Quan hệ lợi ích kinh tế là sự thiết lập những tương tác giữa con người với conngười, giữa các cộng đồng người, giữa các tổ chức kinh tế, giữa các bộ phận hợp thànhnền kinh tế, giữa con người với tổ chức kinh tế, giữa quốc giá với phần còn lại của thếgiới nhằm mục tiêu xác lập các lợi ích kinh tế trong mối liên hệ với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất và kiến trúc thượng tầng tương ứng của một giai đoạn pháttriển xã hội nhất định

Trang 13

Chiều của quan hệ kinh tế : quan hệ lợi ích kinh tế có biểu hiện hết sức phongphú, quan hệ đó có thể là các quan hệ theo chiều dọc, giữa một tổ chức kinh tế với một

cá nhân trong tổ chức kinh tế đó Cũng có thể theo chiều ngang giữa các chủ thể, cáccộng đồng người, giữa các tổ chức, các bộ phận hợp thành kinh tế khác nhau Trongđiều kiện hội nhập ngày nay, quan hệ lợi ích kinh tế còn phải xét tới quan hệ giữa quốcgia với phần còn lại của thế giới

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng

Thứ nhất trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Lao động trẻ, có sức khỏe; thể lực ngày càng được cải thiện, bước đầu đáp ứngnhu cầu của nền sản xuất hiện đại

Tri thức, trí tuệ, kĩ năng của người lao động không ngừng được nâng lên đápứng bước đầu được nhu cầu của nền sản xuất hiện đại

Không chỉ có sức khỏe, thể lực được cải thiện đáng kể, trong những năm qua,tri thức và trí tuệ của người lao động nước ta cũng không ngừng tăng lên Điều đó thểhiện rõ nét nhất ở số lượng lao động đã qua đào tạo

Hiện nay, trong các ngành công nghệ cao, số lượng công nhân kỹ thuật, côngnhân có tay nghề, đặc biệt là đội ngũ kỹ sư đang ngày một tăng lên Do đó, trong cácngành này, xu hướng tri thức hóa công nhân ngày càng rõ rệt Sự gia tăng đội ngũ laođộng lành nghề trong các ngành này góp phần to lớn trong việc chuyển đổi tính chấtcủa nền sản xuất, từ công nghiệp truyền thống giản đơn, thủ công sáng công nghiệphiện đại, tự động hóa và tin học hóa, Sự tăng lên nhanh chóng của đội ngũ công nhân

có trí thức cũng đã góp phần chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp ở nước ta theo hướnghiện đại, phù hợp với xu hướng của các nước trong khu vực và trên thế giới Nhiềungành nghề trước đây được coi là “ then chốt “ như cơ khí, xây dựng… thì ngày nay,với phát triển của khoa học- công nghệ và sự gia tăng trình độ, tri thức của người laođộng, có nhiều công nhân nước ta làm việc trong những ngành nghề mới như điện viễnthông, dầu khí, công nghệ thông tin…

Biểu hiện rõ nhất của những thay đổi tích cực về trình độ, tay nghề của nguồnlao động trong công nghiệp là xu hướng tri thức hóa công nhân đang diễn ra, nhất là ở

Trang 14

lớp công nhân trẻ Trong nhiều ngành công nghiệp, nhất là những ngành công nghiệpmũi nhọn như dầu khí, điện tử, công nghệ vật liệu mới… số lượng lao động có trình độchiếm tỷ lệ khá cao Có nhiều người lao động là kỹ sư, công nhân lành nghề được đàotạo cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ.

Như vậy, trong những năm qua, chất lượng của người lao động nước ta tronglĩnh vực công nghiệp ngày càng được cải thiện Yếu tố tri thức, trí tuệ của người laođộng đã từng bước được tăng lên; hàm lượng tri thức, chất xám trong mỗi sản phẩmngày một nhiều hơn Tỉ lệ lao động đã qua đào tạo, nhất là lao động trong các ngànhcông nghiệp không ngừng tăng lên, bước đầu đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiệnđại

Thứ hai, chính sách phân phối thu nhập của nhà nước

Chính sách tiền lương là cơ sở và căn cứ để từng bước Nhà nước hiện thựcchính sách phân phối thu nhập hướng đến mục tiêu nâng cao đời sống cho người laođộng và xóa đói giảm nghèo

Đối với người có thu nhập thấp, ngoài tiền công, tiền lương họ không có nguồnthu nhập từ tài sản nào khác Do vậy, chính sách tiền lương là một công cụ điều tiếtcủa Nhà nước nhằm hỗ trợ có hiệu quả đời sống của người nghèo, người có thu nhậpthấp

Chính sách thuế thu nhập cá nhân

Thuế thu nhập cá nhân là khoản tiền thuế mà người có thu nhập phải trích nộpmột phần tiền lương hoặc từ các nguồn thu khác vào ngân sách nhà nước sau khi đãtính các khoản được giảm trừ Theo đó, thuế TNCN được xây dựng trên nguyên tắccông bằng và khả năng nộp thuế Thuế thu nhập cá nhân không đánh vào những cánhân có thu nhập thấp, vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết Do đó,việc nộp thuế thu nhập cá nhân cũng góp phần làm giảm hợp lý khoảng cách chênhlệch giữa các tầng lớp dân cư

Ngày đăng: 24/09/2021, 02:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w