Chức năng, nhiệm vụ được giao: - Thực hiện các chức trách, nhiệm vụ của Bí thư Đảng ủy Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam TKV, lãnh đạo toàn diện các hoạt động về các mặt cô
Trang 1TẬP ĐOÀN CÔNG NGHIỆP
THAN - KHOÁNG SẢN VIỆT NAM
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
- Họ và tên: Lê Minh Chuẩn
- Sinh ngày, tháng, năm: 02/4/1965 Giới tính: Nam
- Quê quán: Xã Thụy Dân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Trú quán: Nhà 5, lô 4D, Trung Yên 10A, phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Chức vụ: Đại biểu Quốc hội khóa XIV, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội; Phó Chủ tịch Hội Khoa học và Công nghệ mỏ Việt Nam; UVBCH Đảng bộ Khối DNTW; Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Kỹ sư khai thác hầm lò, Cử nhân Luật
- Ngày vào Đảng 06/09/1993; chính thức ngày 06/09/1994;
- Trình độ lý luận chính trị: Cao cấp
II THÀNH TÍCH ĐẠT ĐƯỢC 5 NĂM (2016- 2020)
1 Chức năng, nhiệm vụ được giao:
- Thực hiện các chức trách, nhiệm vụ của Bí thư Đảng ủy Tập đoàn Công nghiệp Than- Khoáng sản Việt Nam (TKV), lãnh đạo toàn diện các hoạt động về các mặt công tác xây dựng Đảng và thực hiện nhiệm vụ chính trị của Tập đoàn TKV theo Điều lệ Đảng và Quy chế làm việc của Đảng bộ TKV
- Thực hiện quyền hạn, trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên (HĐTV) được quy định trong Luật Doanh nghiệp, Điều lệ TKV và Quy chế làm việc của HĐTV TKV
- Thực hiện các quyền, nghĩa vụ của HĐTV đã được quy định trong Luật doanh nghiệp, Điều lệ TKV, các quy định của pháp luật và Quy chế làm việc của HĐTV TKV Trực tiếp chỉ đạo, giám sát các mặt công tác của TKV gồm: Chiến lược phát triển; quy hoạch phát triển; nghiên cứu khoa học; Cân đối các nguồn lực; Phát triển các ngành, nghề kinh doanh mới; Quan hệ với các cơ quan của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, các
Trang 2bộ, ngành Trung ương, các tỉnh thành phố; quan hệ quốc tế; quan hệ truyền thông; Công tác tổ chức- cán bộ; các quy chế quản lý nội bộ; Công tác kinh doanh (bao gồm cả xuất, nhập khẩu) than, khoáng sản; xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị;
- Là Trưởng ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp doanh nghiệp của TKV; Trưởng ban phòng chống tham nhũng, lãng phí của TKV; Trực tiếp chỉ đạo Ban quản lý vốn TKV
2 Thành tích của tập thể:
2.1 Đặc điểm chung đơn vị:
- Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam là Tập đoàn kinh tế nhà nước, hoạt động kinh doanh trong 4 lĩnh vực chính, gồm Than; Khoáng sản; Vật liệu nổ công nghiệp và Điện lực Trong đó công nghiệp than là hạt nhân, là nền tảng để phát triển các ngành kinh doanh khoáng sản, vật liệu nổ công nghiệp và điện lực
- Tập đoàn có phạm vi hoạt động rộng khắp trên 42 tỉnh, thành phố trong cả nước, trong đó địa bàn sản xuất tập trung chủ yếu là tại Quảng Ninh, Thái Bình, Lào Cai, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thanh Hoá, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, Đăk Nông
- Về mô hình tổ chức, Tập đoàn có Công ty mẹ gồm 27 chi nhánh và văn
phòng đại diện; có 53 công ty con, trong đó có 04 công ty TNHH một thành viên;
32 công ty cổ phần; 02 công ty ở nước ngoài; 5 đơn vị sự nghiệp Trong 53 công ty con thì Tập đoàn có 4 công ty con có quy mô lớn, được tổ chức dưới mô hình tổng công ty, gồm Tổng công ty Khoáng sản, Tổng công ty Điện lực, Tổng công ty Công nghiệp mỏ Việt Bắc và Tổng công ty Công nghiệp Hoá chất mỏ
- Về quy mô vốn, hiện nay Tập đoàn có tổng tài sản 136 nghìn tỷ đồng (tương đương 6 tỷ USD), trong đó vốn điều lệ là 35 nghìn tỷ đồng
- Về lao động, đến thời điểm hiện nay toàn Tập đoàn có 96.640 người, trong
đó có 28.800 đảng viên (chiếm tỷ lệ 29% tổng số lao động), có 19.800 người là lao động nữ (chiếm tỷ lệ 20% tổng số lao động)
2.2 Những thành tích TKV đạt được giai đoạn 2016-2020:
a Các chỉ tiêu chính thực hiện trong giai đoạn 2016 - 2020
- Sản xuất than nguyên khai đạt 188,028 triệu tấn;
- Sản xuất Alumin đạt 5,76 triệu tấn;
- Sản xuất thuốc nổ và nguyên liệu amon nittrat đạt 999,7 nghìn tấn;
- Sản xuất quặng sắt, quặng đồng, đồng tấm, thiếc thỏi, kẽm thỏi đạt 898,57 nghìn tấn;
- Sản xuất điện đạt 46,9 tỷ kWh;
Trang 3- Tổng giá trị đầu tư xây dựng cơ bản đạt 66,8 nghìn tỷ đồng;
- Tổng doanh thu toàn tập đoàn đạt 613,8 nghìn tỷ đồng;
- Danh hiệu thi đua:29 cờ thi đua của Chính phủ; 146 cờ thi đua của các Bộ,
Ngành; 32.488 cá nhân đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở; 6.665 chiến sĩ thi đua cấp TKV; 1.648 Chiến sĩ thi đua cấp Bộ, và UBQLV nhà nước
- Về khen thưởng: 04 tập thể được tặng Huân chương Độc lập các hạng; 32
tập thể và cá nhân được tặng thưởng Huân chương lao động; 233 tập thể và cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 2.240 tập thể và cá nhân được tặng bằng khen Bộ ngành
Riêng đối với Công ty mẹ Tập đoàn Công nghiệp than Khoáng sản Việt Nam được khen thưởng:Huân chương Sao Vàng năm 1996; Anh Hùng lao động năm 2005; Huân chương Độc lập năm 2014; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ năm 2019; Cờ thi đua Chính phủ năm 2019; Cờ thi đua UBQLV năm 2020; UBQLV công nhận tập thể lao động xuất sắc năm 2020; Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen cho Tập đoàn trong công tác phòng chống Covid-19 năm 2019 và 2020
3 Thành tích xuất sắc của cá nhân:
3.1 Thực hiện chức trách nhiệm vụ Bí thư Đảng ủy - Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam:
a) Lãnh đạo công tác xây dựng Đảng:
Thực hiện chủ trương phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, trong nhiệm kỳ 2015-2020, tôi đã cùng với Tập thể BCH Đảng bộ Tập đoàn, tập
trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện 06 Chương trình trọng tâm, gồm: (1) Chương trình tái cơ cấu Tập đoàn giai đoạn 2016-2020; (2) Chương trình cơ giới hóa, tự động hoá, tin học hoá; (3) Chương trình nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh; (4) Chương trình tái cơ cấu lực lượng lao động; (5) Chương trình nâng cao
Trang 4vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng; (6) Chương trình xây dựng đội ngũ cán bộ
Đảng uỷ Tập đoàn đã xây dựng và ban hành các nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả 06 Chương trình trọng tâm đã đề ra
Cùng với 06 Chương trình trọng tâm, trong nhiệm kỳ Đảng ủy Tập đoàn đã xây dựng và ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận để tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục chính trị tư tưởng, tạo sự
đoàn kết, đồng thuận, phát huy tốt truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm” của người
thợ mỏ để vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Với các Chương trình công tác trên, tôi đã cùng với Đảng ủy Tập đoàn lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị hoàn thành hầu hết chỉ tiêu Nghị quyết như: (1) Hàng năm
có 94,6% tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên (chỉ tiêu đề ra trên 70%); (2) Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 96,4 % (chỉ tiêu đề ra trên 95%); (3) Kết nạp đảng viên đạt 5,06%/năm (chỉ tiêu đề ra 5%/năm; (4) Đảng bộ Tập đoàn được cấp trên đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm, các đoàn thể đạt trong sạch vững mạnh (hoàn thành chỉ tiêu đề ra); (5) Tốc độ tăng trưởng tổng doanh thu bình quân 7,9%/năm (chỉ tiêu đề ra 6,8%/năm); (6) Năng suất lao động tăng 12%/năm (chỉ tiêu đề ra 4-5%/năm); (7) Thu nhập bình quân của người lao động tăng 9,2%/năm (chỉ tiêu là trên 3,5%/năm); (8) Giá trị đầu
tư bình quân 13,36 ngàn tỷ đồng/năm
b) Lãnh đạo phát triển các lĩnh vực sản xuất kinh doanh;
- Những khó khăn thách thức trong thực hiện nhiệm vụ giai đoạn 2020:
2016-Năm 2016 là năm khó khăn nhất kể từ khi thành lập TKV, sản lượng giảm 13 triệu tấn so với năm 2011, do giá than trên thế giới giảm mạnh, than nhập khẩu tăng nhanh do không phải chịu thuế nhập khẩu và được hưởng chính sách hỗ trợ của các nước xuất khẩu than; Thị phần của ngành than bị giảm sút do thuế và phí tăng cao, giá bán than trong nước cao hơn giá than nhập khẩu; Sản lượng than cung cấp cho các nhà máy Điện giảm mạnh; TKV phải tiếp tục thực hiện tái cơ cấu theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn 2017-2020; Dịch bệnh Covid-19 bùng phát ảnh hưởng nghiêm trọng đối với TKV và các đơn vị thành viên, phải giãn sản xuất, phát sinh chi phí khám chữa bệnh và xét nghiệm sàng lọc; thời tiết diễn biến bất thường, mưa lũ, sạt lở đất… đã ảnh hưởng không nhỏ đến kết hoạt động sản xuất kinh doanh của TKV
Trước những khó khăn trên, phát huy truyền thống Đoàn kết, tinh thần Kỷ luật - Đồng tâm của những người thợ mỏ, sự quan tâm hỗ trợ của các Bộ, Ban ngành và Chính phủ Tập đoàn đã ban hành kịp thời các nghị quyết và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đồng bộ hiệu quả các giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực đến SXKD, cùng với phương châm vừa phòng chống thiên tai, phòng
Trang 5chống dịch bệnh vừa sản xuất đảm bảo an toàn, tiết kiệm, hiệu quả; luôn đồng hành
và kịp thời hỗ trợ các Bộ, ngành Trung ương, địa phương vượt qua khó khăn, phát triển kinh tế xã hội; đảm bảo ổn định việc làm và thu nhập cho người lao động, sản xuất kinh doanh hiệu quả, nộp ngân sách nhà nước vượt kế hoạch giao, là một trong số ít các Tập đoàn kinh tế có mức tăng trưởng dương và có lợi nhuận giai đoạn 2016-2020
- Kết quả đạt được trong SXKD giai đoạn 2016-2020:
Về Công nghiệp than: Đẩy mạnh đầu tư thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở phát
triển theo chiều rộng đi đôi với tăng cường phát triển theo chiều sâu bằng cách áp dụng công nghệ mới tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả Các đơn vị tập trung cao nhất để đảm bảo tiến độ các dự án mỏ than; tập
trung phát triển các mỏ hầm lò theo tiêu chí “Mỏ sạch, mỏ an toàn, mỏ hiện đại”
Đối với sản xuất than hầm lò đã đầu tư nhiều loại hình công nghệ khai thác lò chợ gồm: Lò chợ cơ giới hóa đồng bộ, Lò chợ giá khung, giá xích, giàn mềm ZRY… Sản lượng than khai thác bằng cơ giới hóa đồng bộ tăng từ 7,5% (năm 2016) lên 11,7 (năm 2019), dự kiến 16,8% (năm 2020) Nhiều lò chợ có công suất mỗi lò chợ từ 0,45 - 1,2 triệu tấn/năm ở các Công ty than: Hà Lầm, Vàng Danh, Dương Huy Trong công tác đào lò, đã đầu tư xe khoan, máy xúc và máy đào lò Combai; đẩy mạnh áp dụng các loại hình công nghệ chống giữ vì neo ở cả lò đá và
lò than
Đối với các mỏ lộ thiên: Phương án liên thông 03 mỏ Đèo Nai- Cọc Sáu- Cao Sơn mang lại hiệu quả cao, giảm hệ số bóc, cung độ vận chuyển Các đơn vị sản xuất than lộ thiên đã đầu tư nhiều máy xúc có dung tích gầu xúc từ 10-12 m3; xe ô
tô có trọng tải 90-100 tấn và đang thử nghiệm 04 xe ô tô có trọng tải 130 tấn; từng bước áp dụng tin học hóa, tự động hóa giám sát hoạt động của thiết bị, tiến tới áp dụng giám sát, điều khiển tập trung
Trong công tác vận tải, đã hoàn thành các tuyến băng tải chở than với tổng công suất vận chuyển đến 24 triệu tấn than/năm, đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ, giảm ô nhiễm môi trường so với vận chuyển bằng ô tô Hoàn thành 4 km đường lò nối thông Hạ My - Đồng Vông (Công ty Than Uông Bí), giảm khoảng cách vận chuyển than bằng ô tô trên mặt đất khoảng 21 km Vận tải trong lò được chú trọng đầu tư phát triển cơ giới hóa, sử dụng băng tải với mức độ tự động hóa cao và các loại tời trục, monoray… 0983250985
Vê công nghiệp khoáng sản: Sản xuất khoáng sản đạt mức tăng trưởng cao:
Sản phẩm Alumin đạt 1,36 triệu tấn năm 2019, tăng 227% so với năm 2016; đồng tấm đạt 11,8 ngàn tấn, tăng 101%; kẽm thỏi đạt 11,0 ngàn tấn, tăng 103% Các sản phẩm khoáng sản chính đều đạt và vượt công suất thiết kế, trong đó năm 2019 sản lượng đạt cao nhất so với các năm trước đây Các đơn vị khoáng sản đã tập trung kiểm soát chặt chẽ các chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ, tiêu hao nguyên vật liệu
Trang 6trong các công đoạn sản xuất; từ khai thác đến tuyển khoáng, luyện kim… Đã thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ như tổ chức, tái cơ cấu lại sản xuất, điều chỉnh định mức các chỉ tiêu kỹ thuật công nghệ, cải tiến thiết bị, tăng cường áp dụng tin học hóa, tự động hóa Qua đó đã nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm; tăng thực thu, thu hồi thêm khoáng sản có ích, cải thiện môi trường, điều kiện làm việc, tiết giảm đáng kể lao động Doanh thu, lợi nhuận, thu nhập bình quân của người lao động tăng trưởng cao hơn trước (doanh thu năm 2019 đạt 17,1 ngàn tỷ đồng, tăng 242% so với năm 2016)
Về công nghiệp điện: Công tác quản lý kỹ thuật, quản lý thiết bị các nhà máy
điện của Tập đoàn ngày càng hoàn thiện hơn; trình độ, kỹ năng của người lao động
đã nâng cao, làm chủ được công tác vận hành, quản lý thiết bị nhà máy Các nhà máy điện tham gia thị trường phát điện cạnh tranh theo quy định Đã xây dựng và ban hành các quy trình vận hành thiết bị, định mức tiêu hao các chỉ tiêu kỹ thuật chủ yếu, quy trình sửa chữa trung, đại tu các thiết bị nhà máy điện Tổng công suất các nhà máy đã đưa vào vận hành đến nay đạt 1.735 MW Tổng sản lượng điện sản xuất từ năm 2016 đến hết năm 2019 đạt 37,1 tỷ kWh (đặc biệt năm 2019 sản lượng điện phát đạt 9,8 tỷ kWh, cao nhất trong các năm từ trước đến nay)
Về sản xuất Vật liệu nổ công nghiệp: Đã sản xuất, cung ứng đảm bảo vật liệu
nổ công nghiệp phục vụ sản xuất đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu, chất lượng dịch vụ nổ mìn ngày càng được nâng cao, đóng góp tích cực vào hiệu quả sản xuất kinh doanh chung của Tập đoàn Tổng Công ty Công nghiệp Hóa chất Mỏ
đã tích cực tìm kiếm, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm Nhà máy Amon Nitrat Thái Bình công suất 200 ngàn tấn/năm hoạt động ổn định và tiêu thụ ngày càng tăng, tạo ra các sản phẩm mới Amon Nitrat cho Ngành và xuất khẩu
Về sản xuất Cơ khí và các ngành nghề khác:
Các đơn vị thuộc Tập đoàn trong lĩnh vực này đã đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tư vấn thiết kế, chế tạo và cung cấp các sản phẩm phục vụ trong khai thác, chế biến, vận tải, từng bước nghiên cứu, chế tạo các thiết bị thay thế hàng nhập khẩu; đồng thời tích cực nghiên cứu mở rộng thị trường để cung cấp các sản phẩm, dịch
vụ ra ngoài ngành
Về thực hiện tái cơ cấu doanh nghiệp theo chỉ đạo của Chính phủ:
Tập đoàn đã hoàn thành tái cơ cấu giai đoạn 2012-2015 theo Đề án TTg; đồng thời đã xây dựng Đề án tái cơ cấu Tập đoàn giai đoạn 2017-2020 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2006/QĐ-TTg ngày 12/12/2017 Trên cơ sở đó, Tập đoàn xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Đề án trong cả giai đoạn và trong từng năm; triển khai tái cơ cấu về mô hình tổ chức, sắp xếp tổ chức, hợp nhất các đơn vị theo Đề án; chỉ đạo thực hiện việc cổ phần hoá, thoái vốn theo lộ trình Đã tích cực triển khai các thủ tục để cổ phần hoá Công ty
Trang 7314/QĐ-mẹ - Tập đoàn theo Đề án tái cơ cấu, bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc lập phương án sử dụng đất và xử lý các tồn tại về tài chính
c) Lãnh đạo xây dựng và phát huy truyền thống văn hóa Thợ mỏ:
Nhận thức về việc xây dựng và phát huy Truyền thống Văn hóa thợ Mỏ trong thời kỳ mới là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài và có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững của TKV, thể hiện sự trân trọng, gìn giữ và phát huy cao độ của cán bộ, CNLĐ Tập đoàn với truyền thống văn hóa mang bản sắc riêng có của thợ mỏ TKV Thực tế minh chứng sinh động cho thấy, mọi thắng lợi của ngành Than - Khoáng sản đều bắt nguồn từ truyền thống văn hoá thợ mỏ, được kết tinh bởi tinh thần “Kỷ luật và đồng tâm” Do vậy, với cương vị là người đứng đầu TKV, tôi đã lãnh đạo CNCB, người lao động TKV gìn giữ và phát huy truyền thống “Kỷ luật và đồng tâm” của những người thợ mỏ gắn với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển SXKD của Tập đoàn, đồng thời gắn với việc chăm lo đào tạo, bồi dưỡng toàn diện, từ việc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đến nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực thi nhiệm vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ công nhân mỏ đáp ứng yêu cầu giai đoạn công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, phát huy Truyền thống tương thân, tương ái, thể hiện trách nhiệm cao của TKV trong việc chung tay với cộng đồng…
Năm 2020, đại dịch Covid-19 cũng là minh chứng rõ nét, dù khó khăn, thử thách cán bộ, công nhân viên và người lao động TKV không lùi bước mà luôn tìm cách vươn lên TKV đã hoàn thành nhiệm vụ kép “vừa phòng chống dịch Covid-
19, vừa đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh” Nền tảng cho kết quả đó không gì khác chính là TKV đã phát huy truyền thống văn hóa thợ mỏ, cốt lõi là “Kỷ luật và đồng tâm” đã được thể hiện rõ nét
d) Lãnh đạo và tổ chức phong trào thi đua trong CNVC:
Với nhận thức công tác thi đua, khen thưởng trong doanh nghiệp là một công
cụ quản lý hiệu quả, góp phần tạo động lực thúc đẩy người lao động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, từ đó giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu trong quản lý, đặc biệt, đối với TKV, công tác thi đua, khen thưởng còn được quan tâm nhiều hơn
do tính chất đặc thù công việc của phần lớn người lao động phải thường xuyên làm việc trong môi trường nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm Vì vậy ngoài các giải pháp
về tiền lương, còn phải chú trọng làm tốt công tác thi đua, khen thưởng để người lao động phấn đấu vượt qua khó khăn trong công việc
Do vậy, trong những năm qua, tôi đã cùng với tập thể CNCB, người lao động TKV quan tâm đẩy mạnh các nội dung của Phong trào thi đua “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển” đã được TKV vận dụng sáng tạo, lồng ghép vào các phong trào thi đua cụ thể để triển khai tới 100% các đơn vị thành viên theo các chuyên đề: Đổi mới quản trị doanh nghiệp; Nâng cao năng suất lao động; Áp dụng
Trang 8tiến bộ kỹ thuật và công nghệ thông tin vào hoạt động sản xuất kinh doanh; Nâng cao giá trị sản phẩm, tham gia chuỗi giá trị trong nước, khu vực và thế giới; Đảm bảo an toàn lao động, tăng thu nhập cho người lao động; Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có chất lượng; Bảo vệ môi trường, góp sức vì cộng đồng, an sinh xã hội,
hỗ trợ người nghèo, có những việc làm thiết thực tham gia xây dựng nông thôn mới v.v
Kết quả, qua các phong trào, trong 5 năm 2016- 2020 đã có 21.303 sáng kiến được công nhận, có 19.313 sáng kiến được đưa vào áp dụng hiệu quả mang lại giá trị làm lợi toàn TKV là 2.550 tỷ đồng, tổng tiền thưởng cho các sáng kiến cải tiến
kỹ thuật hợp lý hóa sản xuất là 126,5 tỷ đồng Có 123 cán bộ, công nhân được Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tặng Huy hiệu Lao động sáng tạo Nhiều tập thể, cá nhân đạt các giải cao trong các Hội thi sáng tạo do các tỉnh, bộ, ngành tổ chức hoặc được Liên hiệp các Hội khoa học Việt Nam trao giải thưởng Năng suất lao động mới của các tổ/đội đào lò, khai thác than lò chợ, tổ máy xúc, tổ máy khoan, tổ xe ô tô vận chuyển trên khai trường mỏ liên tục được xác lập Trong 5 năm 2016 - 2020, đã có 250 lượt tổ/đội đạt và vượt mức năng suất Tập đoàn giao hàng năm, được tặng Cờ thi đua, Bằng khen của Tập đoàn Có nhiều tổ/đội đạt Cờ thi đua năng suất dẫn đầu Tập đoàn 3 năm liên tục
Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ về phát động phong trào “Cả
nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo -
Không để ai bị bỏ lại phía sau”, TKV nhận hỗ trợ 3 huyện nghèo theo chương trình 30a, gồm huyện Ba Bể (Bắc Kạn), huyện Mèo Vạc (Hà Giang), huyện Đam Rông
(Lâm Đồng) Tính từ khi phát động đến nay TKV đã hỗ trợ 230 tỷ đồng, trong đó huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng 79 tỷ đồng; huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn 70,93 tỷ đồng; huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang 80,705 tỷ đồng Tương đương với 1.750 ngôi
nhà, 37 trường học, 15 trạm y tế, cùng với thiết bị y tế và giáo dục 70 tỷ đồng Với
sự giúp đỡ của TKV, năm 2018 huyện Ba Bể đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận thoát nghèo; huyện Đam Rông dự kiến hết năm 2021 sẽ được công nhận thoát nghèo
Đặc biệt trong năm 2020, ngay khi dịch Covid 19 mới bùng phát, Tập đoàn
đã ủng hộ Trung ương MTTQ Việt Nam và uỷ ban MTTQ các địa phương Thái Nguyên, Cao Bằng, Thái Bình, Lào Cai, Đắk Nông, Lâm Đồng… 15 tỷ đồng để triển khai các biện pháp phòng chống dịch bệnh Đây là hành động hết sức kịp thời, thiết thực, thể hiện tinh thần quyết tâm chung sức, đồng lòng của cán bộ, công nhân viên, thợ mỏ TKV trong công tác phòng chống dịch bệnh
3.2 Thực hiện chức trách nhiệm vụ Đại biểu Quốc hội:
Trong nhiệm kỳ vừa qua, Quốc hội khóa XIV đã bàn thảo 72 luật, 02 pháp lệnh và nhiều nghị quyết có chứa quy phạm pháp luật được thông qua và đi vào cuộc sống Trong hoạt động, tôi đã tham gia 20 lượt thảo luận tại Hội trường và
Trang 9phát biểu thảo luận ở tổ 38 lượt về nhiều nội dung, những vướng mắc, bất cập trong thực thi các chính sách pháp luật hiện hành Qua đó đã tổng hợp gửi tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành liên quan đề nghị sửa đổi, bổ sung phù hợp thực tiễn Các kiến nghị của cá nhân tôi với Đoàn ĐBQH tỉnh đã được nhiều Bộ ngành tiếp thu để sửa đổi, hoàn thiện quy định hiện hành; một số nội dung kiến nghị được tiếp thu sửa đổi vào các dự án luật trình Quốc hội
Nhằm góp phần đưa các Luật, Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, sau các kỳ họp của Quốc hội, tôi đã cùng Đoàn ĐBQH tỉnh phối hợp với Uỷ ban nhân dân tỉnh QN tổ chức nhiều Hội nghị phổ biến, tuyên truyền Luật như: Luật Phòng, chống tác hại của rượu bia; Bộ Luật Lao động (sửa đổi) và Nghị quyết phê chuẩn việc gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể v.v Đây là những dự án Luật, Nghị quyết có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều đối tượng, được cử tri và nhân dân quan tâm, với hàng ngàn đại biểu tham dự hội nghị
Ngoài việc tham gia trực tiếp tại Nghị trường và tại Tổ về nhiều văn bản Luật, tôi đã có tổng số 36 bài viết nghiên cứu, tham mưu, đề xuất các vấn đề liên quan đến nội dung các văn bản Luật tại các kỳ họp của Quốc hội, cụ thể là nghiên cứu góp ý vào những dự án luật phục vụ đại biểu Quốc hội tại các Kỳ họp Quốc hội Khóa XIV
Tham gia tích cực cùng Đoàn ĐBQH tỉnh xây dựng Kế hoạch và tổ chức triển khai hoàn thành 8 cuộc giám sát chuyên đề cùng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh; tổng số lượt tiếp xúc cư tri là 78 lượt v.v
3.3 Một số sáng kiến, giải pháp lãnh đạo điều hành quan trọng:
Sáng kiến: Định hướng tập trung lãnh đạo đẩy mạnh cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao hiệu kinh doanh giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn 2030
Trước khi có sáng kiến:
Trong những năm qua công tác nghiên cứu và ứng dụng KH&CN vào sản xuất, đặc biệt là việc ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa (CGH, TĐH, THH) vào sản xuất kinh doanh và quản lý, điều hành tại Tập đoàn luôn được quan tâm, chú trọng TKV đã từng bước đổi mới, hoàn thiện các dây chuyền công nghệ sản xuất, hoàn thiện mô hình quản lý, điều hành trong Tập đoàn, góp phần vào sự phát triển bền vững của Tập đoàn Tuy nhiên, công tác CGH, TĐH, THH vẫn còn bộc lộ một số hạn chế đó là: (i) Chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất; tỷ lệ áp dụng CGH, TĐH còn thấp; (ii) Chưa đồng bộ hóa các công nghệ, thiết bị trong toàn Tập đoàn, một số dàn chống, thiết bị đưa vào sử dụng chưa phù hợp với điều kiện địa chất (công tác thăm dò trước khi áp dụng CGH chưa đạt yêu cầu) nên hiệu quả sử dụng chưa cao (iii) Ứng dụng tin học hóa trong quản trị doanh nghiệp và các khâu
Trang 10trong sản xuất kinh doanh chưa đồng bộ, chưa tương xứng với tầm quản lý điều hành của TKV, chưa đạt hiệu quả theo yêu cầu đề ra Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan do khai thác mỏ ngày càng xuống sâu, đặc biệt là điều kiện địa chất phức tạp dẫn tới khó khăn trong áp dụng CGH, TĐH, THH; tuy nhiên cũng có nguyên nhân chủ quan do một số cấp ủy đảng chưa quan tâm coi trọng và đầu tư tích cực nguồn lực cho hoạt động CGH, TĐH, THH
Để góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2017 và nâng cao năng lực hiệu quả SXKD và quản lý, vì sự phát triển nhanh và bền vững của TKV, Tôi đã có sáng kiến Định hướng tập trung lãnh đạo đẩy mạnh ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2017 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030, bằng việc đề xuất với Ban Thường
vụ Đảng ủy Tập đoàn xây dựng và triển khai Nghị quyết số 19-NQ/ĐU ngày 02/03/2017 của BTV về tập trung lãnh đạo, tập trung lãnh đạo đẩy mạnh ứng dụng
cơ giới hóa, tự động hóa, tin học hóa vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh giai đoạn 2017 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Hiệu quả sáng kiến:
Nghị quyết làm căn cứ định hướng để Tổng giám đốc xây dựng và triển khai Chương trình hành động, các cấp ủy đảng, các tổ chức đoàn thể quần chúng trong TKV phối hợp với cơ quan chuyên môn các cấp đẩy mạnh việc khảo sát, đánh giá
và căn cứ tình hình thực tế để áp ứng CGH, TĐH, THH trong sản xuất kinh doanh
và quản lý Có giải pháp đồng bộ để Tập đoàn và các đơn vị tổ chức triển khai thực hiện Đến nay TKV đã “thủy lực hóa” lò chợ và từng bước CGH đồng bộ trong các
mỏ than hầm lò nhờ đó công suất lò chợ đã tăng từ 2 - 5 vạn tấn/năm lên bình quân
15 vạn tấn/năm, riêng lò chợ CGH đồng bộ đạt trên 30 vạn tấn/năm; nên đã giảm tiêu hao gỗ chống lò từ 45 - 50 m3/1000 tấn than xuống 14,1 m3/1000 tấn; hệ số tổn thất than giảm từ mức 40-50%, xuống còn 20% Hiện nay TKV đã có 5 mỏ (Hà Lầm, Khe Chàm, Quang Hanh, Dương Huy, Hồng Thái) với 7 lò chợ CGH đồng
bộ có công suất từ 200.000 ÷ 1.200.000 tấn/năm đang hoạt động, sang năm 2018 sẽ
có thêm 2 mỏ (Núi Béo, Vàng Danh) với 2 lò chợ CGH đồng bộ đi vào hoạt động Hiện nay Tập đoàn cũng đang nghiên cứu dùng các công nghệ bán cơ giới (sử dụng máy khấu thay cho việc nổ mìn phá than ở gương lò chợ) để thay thế cho các lò chợ khai thác bằng thủ công để nâng cao năng suất lao động, công suất lò chợ Hầu hết tại các đơn vị sản xuất than đều hỗ trợ phương tiện đi lại từ nơi ở đến nơi làm việc để người lao động giảm bớt hao phí sức lực, tập trung sức lao động cho công việc Đến nay, toàn bộ người lao động ở các đơn vị sản xuất than đều được bố trí xe
ca có máy lạnh đưa đón từ nơi ở đến nơi làm việc Trang bị đầy đủ các thiết bị an toàn hiện đại để kiểm soát khí mỏ như hệ thống cảnh báo khí mê-tan; hệ thống quản lý khí mỏ tập trung; các thiết bị khoan thăm dò để kiểm soát nguy cơ bục nước; hệ thống thông gió, thoát nước mỏ; các thiết bị bảo vệ an toàn cá nhân như
Trang 11bình tự cứu, thiết bị đo khí cầm tay; hệ thống camera giám sát; áp dụng tự động hóa, tin học hóa một số khâu trong dây truyền sản xuất kinh doanh và quản lý,… Đối với khai thác mỏ lộ thiên, TKV đã đổi mới thiết bị theo hướng hiện đại, công suất lớn (máy xúc 10 m3, ô tô 100 tấn ) làm tăng năng suất, tiết kiệm nhiên liệu, hạn chế khí thải, giảm tổn thất tài nguyên từ 15 - 18% xuống 5,3% Đã khánh thành Tuyến băng tải than từ Kho than Khe Ngát ra Cảng Điền Công, như vậy TKV đã hoàn thành 04 tuyến băng tải than từ các đơn vị sản xuất ra kho cảng để chế biến, tiêu thụ; và các tuyến băng này cắt ngang qua đường quốc lộ 18, theo cam kết của TKV với lãnh đạo Tỉnh Quảng Ninh là dừng vận chuyển than bằng ô tô qua giao cắt QL 18 Các nhà máy tuyển than đã đầu tư thiết bị lọc ép bùn tăng thu hồi than, sử dụng nước tuần hoàn, hạn chế xả thải ra môi trường
Nhờ áp dụng sáng kiến này đã giúp đơn vị nâng cao năng suất, giảm cường
độ lao động, chi phí, giá thành sản phẩm, đồng thời tăng sản lượng khai thác than hằng năm Năm 2015, tổng sản lượng than khai thác bằng công nghệ cơ giới hóa đạt hơn 300.000 tấn, chiếm 18% tổng sản lượng than hầm lò Đến năm 2020, sản lượng than cơ giới hóa của công ty đạt hơn 1,6 triệu tấn, chiếm gần 70%, tổng sản lượng than hầm lò Nhiều đơn vị đến nay đã áp dụng tin học hóa, tự động hóa nhiều dây chuyền sản xuất và quản lý điều hành hiệu quả, giảm lao động và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động
Sáng kiến được áp dụng rộng rãi trong toàn ngành Than - Khoáng sản Việt Nam Sáng kiến được Hội đồng sáng kiến của TKV công nhận tại Quyết định số 2370/QĐ-TKV, ngày 29/12/2017 và được khen thưởng số tiền là 10.000.000 đồng
Sáng kiến: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong thực hiện công tác bảo vệ môi trường, giai đoạn 2018-2020
Trước khi có sáng kiến:
Trong những năm qua công tác môi trường luôn được TKV quan tâm trú trọng, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại hạn chế: (i) Một số dự án đầu tư còn thiếu thủ tục, hồ sơ pháp lý về bảo vệ môi trường, trong đó chủ yếu là thiếu giấy xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường và kế hoạch quản lý môi trường (ii) Một số khu vực bãi thải, khai trường mỏ than nhìn từ quốc lộ, tỉnh lộ đã được cải tạo phục hồi môi trường nhưng chưa đảm bảo cảnh quan; việc trồng cây mới tính đến mục tiêu phủ xanh mà chưa xem xét đến mục tiêu phát triển kinh tế rừng Một
số bãi thải chưa giải phóng đủ mặt bằng để hoàn thiện đập ngăn đất đá theo quy hoạch (iii) Vào mùa mưa còn có thời điểm nước thải mỏ không kịp thu gom, xử lý hết do lưu lượng tăng đột biến Nước thải sinh hoạt, nhất là các mỏ than hầm lò chưa có hệ thống xử lý đạt quy chuẩn môi trường Nước mưa chảy tràn kho đống, bến cảng, nhà xưởng chưa thu gom, lắng lọc triệt để Vẫn còn tình trạng nước mưa chảy tràn từ khai trường, bãi thải cuốn theo đất đá còn bồi lấp sông suối thoát nước (iv) Việc thu gom, quản lý chất thải nguy hại tại một số đơn vị đôi lúc còn chưa