giáo trình QH &TK hệ thống thủy lợi - Chương 1- ĐH BKĐN Bố trí và thiết kế hệ thống tưới tiêu
Trang 1Chương 4
BỐ TRÍ VÀ THIÊT KẾ HỆ THỐNG TƯỚI 4.1 KHÁI QUÁT HỆ THỐNG TƯỚI TIÊU
Để dẫn nước từ nguồn nước về đến mặt ruộng cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp và các yêu cầu dùng nước khác đến các vị trí theo yêu cầu, cần phải có hệ thống công trình thủy lợi có thể là sông suối, hồ chứa hoặc nguồn nước ngầm
Hệ thống thủy lợi nói chung và hệ thống tưới tiêu nói riêng là một tập hợp hệ thống công trình từ đầu mối đến mặt ruộng, bảo đảm cung cấp nước cho cây trồng khi thiếu nước và tiêu thoát nước kịp thời cho cây trồng khi thừa nước nhằm thỏa mãn yêu cầu nước cho cây trồng phát triển tốt và có năng suất cao
Hệ thống thuỷ nông là một hệ thống bao gồm tập hợp các công trình để đưa nước đến mặt ruộng tưới cho cây trồng, đồng thời tiêu lượng nước dư thừa ra khỏi ruộng Một hệ thống thuỷ nông bao gồm:
-Hệ thống kênh mương tưới và kênh tiêu
-Hệ thống công trình đầu mối và công trình trên kênh
-Hệ thống đường giao thông và rừng cây chắn gió
Việc bố trí hệ thống thuỷ nông phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Địa hình, địa chất, tình hình dân sinh kinh tế và các ngành nghề kinh tế khác Trong đó quan trọng nhất là tình hình dân sinh kinh tế, trong qui hoạch nên bố trí hệ thống thuỷ nông độc lập cho từng vùng
4.1.1 Hệ thống kênh trong hệ thống thủy lợi
a.Qui ước ký hiệu kênh:
Theo tiêu chuẩn thiết kế TCVN 4118-85, những ký hiệu kênh thuộc mạng lưới kênh tưới, tiêu phải tuân theo những qui định chung sau đây:
Trang 2Chú ý:
-Trong trường hợp hệ thống tưới có nhiều kênh chính thì ký hiệu như sau: KC1,
KC2 Chỉ số 1,2,3 được đánh theo chiều kim đồng hồ hoặc gọi theo vị trí hướng (Kênh chính Bắc, kênh chính Nam)
-Những ký hiệu 1 chỉ số (N1, N2, ) của kênh nhánh là kênh cấp 1, hai chỉ số (N1-1,N2-1, ) là kênh nhánh cấp 2
-Cách đánh chỉ số của kênh như sau: Nếu đi theo chiều dòng nước chảy trên kênh chính thì dùng chỉ số chẵn cho kênh nhánh bên phải, chỉ số lẽ cho kênh nhánh bên trái Đối với kênh cấp 2, cấp 3, cấp 4 và cấp 5 thì chỉ số được đánh theo thứ tự 1,
2, 3 kể từ đầu kênh cấp trên của chúng, không phân biệt bên phải hay bên trái
b.Cấp của hệ thống kênh tưới:: (TCVN 4118-85)
Theo tiêu chuẩn hệ thống kênh tưới TCVN 4118-85 thì kênh tưới được phân 5 cấp(cấp công trình) để xác định tiêu chuẩn thiết kế và các hạng mục co liên quan
Bảng 4.1 –Phân cấp công trình của hệ thống kênh tưới
- Cấp của công trình trên kênh cũng được xác định theo bảng 4.1 Khi có kết hợp với các công trình kỹ thuật khác ( giao thông, cấp nước dân dụng, công nghiệp…) thì cấp công trình trên kênh lấy theo cấp của công trình kỹ thuật nếu công trình kênh tưới
Trang 32-1-2-4.1.2 Hệ thống công trình
a.Hệ thống công trình đầu mối:
Công trình đầu mối của hệ thống thuỷ nông thông thường gồm các loại sau đây:
-Hồ chứa nước: Mục đích điều tiết lưu lượng nước trong lưu lực nhằm phục vụ
tưới và lợi dụng tổng hợp, thành phần công trình của hồ chứa bao gồm: Đập, cống lấy nước, tràn xã lũ, âu thuyền
-Đập dâng: Mục đích dâng cao mực nước trên sông ở phía thượng lưu, nhằm
lấy nước tự chảy vào cống, thành phần công trình gồm có: Đập dâng nước, cống lấy nước , cống xã cát
Trang 4
-Công lấy nước tự chảy: Lấy nước trực tiếp từ sông vào để cung cấp cho khu
tưới, đóng mở bằng hệ thống cửa van, áp dụng ở những nơi có mực nước sông cao hơn cao trình cần tưới tự chảy
-Trạm bơm: Áp dụng những nơi không thể tưới tự chảy cho khu tưới, khi mực
nước sông quá thấp so với cao trình cần tưới tự chảy Do đó cần có thiết bị động lực để đưa nước từ thấp lên cao
b.Hệ thống công trình trên kênh:
-Cống đầu kênh: là công trình khống chế lưu lượng đầu kênh
-Cống điều tiết: là công trình có nhiệm vụ dâng cao mực nước trên kênh để đảm
bảo yêu cầu tưới tự chảy
-Cầu máng: có nhiệm vụ chuyển tiếp nước khi kênh tưới phải vượt sông, kênh,
bãi trũng, đường sá khi áp dụng các công trình khác không thích hợp.Được áp dụng khi mực nước sông thấp hơn đáy cầu máng một khoảng cách an toàn khi có lũ
-Xi phông: có nhiệm vụ chuyễn tiếp nước khi kênh cần vượt chướng ngại vật
như: sông, suối, đường giao thông khi phương án cầu máng không thích hợp
-Cống luồn: có nhiệm vụ chuyển nước khi kênh cắt qua đường giao thông
-Cầu qua kênh: thường gặp ở kênh cấp dưới, khi đường giao thông cắt ngang
qua kênh
-Bậc nước, dốc nước: thường dùng khi kênh đi qua địa hình phức tạp và có độ
dốc lớn
- Tràn vào, tràn ra: thường bố trí gần các cống điều tiết và cống lấy nước, có
tác dụng tự điều tiết mực nước trong kênh khi có sự cố
Trang 5- Cống tiêu: Bố trí những nơi đường kênh đi qua khe suối hoặc lưu vực nhỏ,
nhằm tiêu lượng nước đó và bảo vệ đường kênh
4.2 NGUYÊN TẮC BỐ TRÍ HỆ THỐNG KÊNH TƯỚI TIÊU
- Bố trí kênh phải xét tới điều kiện lợi dụng tổng hợp đường kênh: Phát điện, vận tải thủy, cung cấp nước sinh hoạt, công nghiệp
- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí kênh tiêu nhằm đạt hiệu quả tốt nhất việc tưới tiêu trong hệ thống và tạo thành hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh
- Tránh phải vượt chướng ngại vật, ít công trình trên kênh, khối lượng đào đắp nhỏ, rẽ tiền, dễ thi công và quản lý
- Bố trí kênh cấp trên phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc bố trí kênh cấp dưới
và bố trí công trình trên kênh
- Bố trí kênh đi qua vùng có địa chất tốt, nhằm ổn định kênh và ít bị ngấm nước
- Việc bố trí hệ thống kênh cần chú ý đến quy hoạch khu hành chính, mỗi thôn, mỗi xóm nên có cửa lấy nước độc lập
- Với khu địa hình cao cục bộ trong phạm vi khu tưới tự chảy, qua luận chứng có thể tưới bằng bơm
4.2.2 Bố trí hệ thống kênh tiêu
Trong một hệ thống thuỷ nông việc bố trí hệ thống kênh tưới và hệ thống kênh tiêu là không thể tách rời nhau, chúng phải được bố trí có tính liên hoàn và tạo thành
Cống đầu kênh Cống điều tiết Cầu máng Xi phong Cống luồn
Cầu qua kênh Bậc nước, dốc nước Tràn vào, Tràn ra Cống tiêu
Trang 6một hệ thống tưới tiêu hoàn chỉnh để cùng điều tiết nước ruộng Do đó khi bố trí kênh tiêu cũng cần phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:
- Bố trí nơi thấp nhất để có thể tiêu tự chảy, đặc biệt là kênh tiêu chính
-Tuyến kênh tiêu ngắn để tiêu nhanh và giảm khối lượng đào
- Hệ thống kênh tiêu phải phối hợp chặt chẽ với hệ thống kênh tưới, hệ thống đường giao thông Cần triệt để lợi dung sông ngòi có sẵn làm hệ thống kênh tiêu để giảm vốn đầu tư
-Chú ý xét đến khả năng lợi dụng tổng hợp của kênh tiêu như: giao thông thuỷ, làm khu trữ nước khi cần thiết
-Đối với kênh tiêu các góc cong trên tuyến kênh phải đảm bảo: 450 < α < 600 Mục đích để dòng chảy trong kênh được thuận lợi, nhanh và đáp ứng được yêu cầu tiêu Ở những tuyến kênh cong vì vận tốc dòng chảy trong kênh tiêu tương đối lớn, để lòng kênh không bị xói lở thì bán kính cong phải đảm bảo điều kiện R ≥ Rmin
Rmin = 100R1.5 hoặc Rmin = 100B
R: bán kính thuỷ lực mặt cắt ướt
B: chiều rộng mặt thoáng kênh
Bán kính cong của kênh được tính theo giá trị lớn nhất của hai công thức trên
Chú ý: Để phân biệt kênh tưới và kênh tiêu trên một hệ thống tưới tiêu, ta qui
định cách tô màu ký hiệu như sau:
-Kênh tưới tô màu đỏ, nét liền Kênh tiêu tô màu xanh, nét đứt
-Khu tưới tô màu vàng
-Sông, suối tô màu xanh, nét liền
4.3 THIẾT KẾ HỆ THỐNG TƯỚI
4.3.1 Tài liệu cơ bản dùng để thiết kế
4.3.1.1 Tài liệu về yêu cầu chuyển nước
1 Tài liệu về lưu lượng
Để kênh có thể chuyển được mọi cấp lưu lượng yêu cầu, thì tài liệu cơ bản đầu tiên để thiết kế kênh là quá trình lưu lượng cần chuyển trên kênh tại các mặt cắt cần tính toán
2 Tài liệu về mực nước
Khi thiết kế kênh tưới, ta phải biết các cao trình mực nước yêu cầu trên kênh để với cao trình đó nước có thể tự chảy từ kênh cấp trên xuống kênh cấp dưới và về mặt
Trang 7ruộng yêu cầu tưới Tương tự, khi thiết kế kênh tiêu phải biết được mực nước yêu cầu trên kênh, với mực nước đó mặt cắt kênh được thiết kế sẽ có khả năng tập trung nước
từ các khu tiêu và các cấp kênh khác Khi thiết kế kênh xuất phát từ mực nước yêu cầu trên kênh để tính toán ra cao trình đáy kênh, mặt khác cao trình mực nước yêu cầu trên kênh còn là một trong những cơ sở quan trọng để xác định độ dốc thiết kế của đáy kênh và đề xuất các biện pháp công trình nối tiếp dòng chảy, công trình điều tiết trên kênh
4.3.1.2 Tài liệu về địa hình, địa chất tuyến kênh
1 Địa hình tuyến kênh
Địa hình nơi tuyến kênh đi qua ảnh hưởng rất nhiều tới khối lượng xây dựng kênh, số lượng và hình thức các công trình trên kênh đồng thời ảnh hưởng tới việc chọn hình thức mặt cắt kênh Dựa vào tài liệu địa hình nơi tuyến kênh đi qua để chọn
độ dốc đáy kênh sao cho vẫn bảo đảm dẫn nước an toàn, thuận lợi, hệ thống kênh có khả năng khống chế tưới tự chảy nhưng vẫn phù hợp với điều kiện địa hình thực tế để giảm đến mức thấp nhất khối lượng đào đắp và xây dựng hệ thống kênh Mặt khác, căn cứ vào tài liệu địa hình có thể xác định vị trí, số lượng, hình thức công trình vượt chướng ngại vật, công trình nối tiếp dòng chảy, nhằm bảo đảm cho hệ thống chuyển nước thuận lợi và an toàn Ngoài ra, tài liệu địa hình còn là cơ sở để chúng ta tính toán khối lượng đào đắp, xây dựng toàn bộ hệ thống
2 Tài liệu về địa chất tuyến kênh
Các tính chất cơ lý của địa chất tuyến kênh có ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định của kênh như sạt bờ, bồi lắng, xói lở Vì vậy, người ta thường căn cứ vào tình hình địa chất tuyến mà chọn hình thức mặt cắt kênh, vật liệu làm kênh và các biện pháp phòng thấm trên kênh nhằm bảo đảm cho kênh ổn định
Đối với kênh đất, dựa vào tính chất của địa chất nơi tuyến kênh đi qua mà chọn một số chỉ tiêu để thiết kế kênh như:
Trang 84.3.2.1 Lưu lượng của kênh
1 Các cấp lưu lượng đặc trưng trên kênh
Lưu lượng là tài liệu cơ bản để thiết kế hệ thống kênh mương và các công trình trên kênh Khi thiết kế người ta thường dùng ba cấp lưu lượng đặc trưng sau:
- Lưu lượng thường xuyên QTK;
- Lưu lượng nhỏ nhất Q min;
- Lưu lượng lớn nhất Qbt
a) Lưu lượng thường xuyên (QTK): là lưu lượng mà kênh mương phải chuyển
một cách thường xuyên Cấp lưu lượng này dùng để tính toán thiết kế những kích thước cơ bản của mặt cắt kênh và các công trình trên kênh vì vậy còn gọi là lưu lượng thiết kế QTK
lượng này thường dùng để kiểm tra sự bồi lắng trên kênh và kiểm tra khả năng tự chảy trên kênh
c) Lưu lượng bất thường (Qbt): là lưu lượng lớn nhất mà kênh mương phải chuyển đột xuất trong thời gian ngắn
Những nguyên nhân chủ yếu gây nên lưu lượng bất thường trên kênh là:
- Khi kênh đang phải chuyển với lưu lượng thường xuyên, gặp những trận mưa lớn, nước mưa tập trung vào kênh làm tăng lưu lượng trên kênh Đặc biệt ở những đoạn kênh đào đi giữa những sườn dốc, nước mưa tập trung từ hai bên bờ đổ vào kênh
- Do quản lý không tốt, đóng mở cống không đúng quy trình hoặc do hư hỏng các công trình trên kênh, không thể khống chế đúng lưu lượng yêu cầu theo kế hoạch làm cho lưu lượng trong kênh tăng lên
- Do yêu cầu đặc biệt trong công tác tổ chức tưới (tưới luân phiên hoặc phải tưới đuổi) Lưu lượng bất thường dùng để kiểm tra khả năng chuyển nước của kênh, tốc độ dòng chảy trong kênh, tình hình xói lở kênh và xác định cao trình bờ kênh
2 Khái niệm về Q brut , Q net và hệ số sử dụng của kênh
a) Khái niệm Qbrut, Qnet
Nước chảy trên kênh mương thường bị tổn thất do bốc hơi, ngấm, rò rỉ lưu lượng chảy trên kênh sẽ giảm dần từ đầu kênh đến cuối kênh do bị tổn thất Đề cập vấn
đề này, khi xét lưu lượng trên một đoạn kênh hay một hệ thống kênh người ta thường
có hai khái niệm mới về lưu lượng là Qbrut và Qnet, trong đó: Qnet là lưu lượng thực
Trang 9cần trên kênh chưa kể đến tổn thất nước trên kênh, Qbrut là lưu lượng bao gồm cả lưu lượng thực cần và lưu lượng tổn thất trong quá trình chảy trên kênh
• Đối với một đoạn kênh:
Qbrut đoạn kênh là lưu lượng ở mặt
cắt đầu đoạn kênh đó
Qnet đoạn kênh là lưu lượng ở mặt cắt
cuối đoạn kênh đó
• Đối với một hệ thống kênh:
Qnet của hệ thống là lưu lượng thực cần tại mặt ruộng:
Qnet= q.ω (l/s) q: hệ số tưới tại mặt ruộng (l/s-ha)
ω: diện tích tưới của hệ thống là (ha)
Qbrut - lưu lượng cần lấy vào ở đầu hệ thống Bao gồm lưu lượng thực cần tại mặt ruộng và lưu lượng tổn thất trên hệ thống kênh mương:
Q
η Đối với một hệ thống, thông qua tính toán yêu cầu nước, ta chỉ mới biết yêu cầu nước tại mặt ruộng như hệ số tưới, lưu lượng tưới tại mặt ruộng Muốn tính lưu lượng tại một mặt cắt nào đó trên kênh hoặc lưu lượng cần phải lấy vào đầu hệ thống, phải tính toán được lượng tổn thất trên kênh
4.3.2.2 Tính lượng tổn thất trên kênh
Lượng nước tổn thất dọc theo đường kênh bao gồm:
-Lượng tổn thất do bốc hơi
-Lượng tổn thất do rò rỉ
-Lượng tổn thất do ngấm xuống tầng sâu
Khi xét ba thành phần tổn thất này ta thấy:
A
B
Trang 10- Lượng nước bốc hơi chúng ta hoàn toàn có thể xác định được dựa vào diện tích mặt nước trên kênh và cường độ bốc hơi mặt nước tự do, song lượng tổn thất này rất nhỏ ta có thể bỏ qua
- Lượng nước rò rỉ do thi công kênh bị nứt nẻ hoặc tiếp giáp giữa công trình và kênh không tốt, cũng có thể nước rò rỉ qua các thiết bị khống chế mực nước và lưu lượng, có thể khống chế lượng tổn thất do rò rỉ nhờ quản lý và thi công đường kênh tốt hơn Vì vậy, lượng tổn thất này chúng ta cũng có thể không xét tới
- Lượng nước tổn thất do ngấm: Đây là lượng nước tổn thất tất yếu, nước trong kênh bị tổn thất thông qua dòng ngấm qua đáy kênh và bờ kênh Lượng tổn thất này xảy ra thường xuyên và đóng vai trò lớn trong lượng tổn thất nước Vì vậy, chúng ta đi sâu nghiên cứu kỹ loại tổn thất này
Qúa trình ngấm trên kênh bao gồm 2 giai đoạn: ngấm tự do và ngấm ứ (cần phân biệt giữa ngấm trên ruộng lúa và ngấm trên kênh)
*Ngấm tự do: Nước ngấm xuống đất chủ yếu là do trọng lực, bao gồm 2 trạng thái : ngấm bảo hoà và ngấm chưa bảo hoà
-Ngấm chưa bảo hoà: dòng thấm chưa bị ảnh hưởng của MNN, do đó tổn thất
lúc này là lớn nhất
-Ngấm bảo hoà: khi dòng thấm tiếp xúc với MNN, như vì độ dốc MNN bé do
đó không thoát được lượng nước ngấm xuống và làm cho MNN dưới đáy kênh tăng lên
*Ngấm ứ: Trong giai đoạn này MNN đã tiếp xúc với đáy kênh, lúc này lượng nước ngấm xuống và lượng nước ngầm tạo thành dòng liên tục, quá trình này là quá trình ngấm ổn định
a Ngấm tự do: Đây là giai đoạn có lượng nước ngấm lớn nhất, để xác đinh ta có thể sử dụng 2 công thức sau:
Trang 11Theo định luật Darcy ta có:
ω - diện tích thấm trong lòng kênh
Đối với kênh hình thang làm bằng đất chúng ta có thể dùng công thức Koschiacốp để tính toán cho 1km đường dài kênh:
0 0 0116 k b 2 h 1 m
Trong đó:
S0: lưu lượng nước ngấm trên 1 km dài (m3/s-km)
b: chiều rộng đáy kênh (m)
h: chiều sâu nước trong kênh (m)
γ: hệ số xét đến hiện tượng ngấm chéo mái kênh (1.1 ÷1.4)
k: hệ số ngấm của đất lòng kênh (mm/ngày)
h: Chiều sâu nước trong kênh
Chú ý: Hai công thức nêu trên chỉ được dùng khi đã biết trước mặt cắt ngang kênh, vì vậy chỉ dùng để kiểm tra lưu lượng thấm
(m 3 /s-km)
Trang 12b Ngấm ứ: Trong giai đoạn ngấm ứ, lưu lượng thấm nhỏ hơn giai đoạn ngấm tự
do và được xác định theo công thức: S’0= ϕ.S0
Với ϕ là hệ số hiệu chỉnh, thay đổi theo lưu lượng qua kênh và chiều sâu MNN;
ϕ < 1
*Yêu cầu khi thiết kế kênh:
Theo Kosschiacốp đề nghị khi chưa xác định được mặt cắt kênh (b, h, m), nếu đã biết hệ số thấm đất làm kênh và lưu lượng Qnet, thì lưu lượng tổn thất xác định theo cách sau:
Gọi σ là tỷ số phần trăm lưu lượng tổn thất so với lưu lượng thực cần trên 1 km dài kênh
%
m net Q
A
=σ
A; m: Chỉ số phụ thuộc đất làm kênh, được xác định từ tài liệu thực đo, nếu không có tài liệu thì có thể dùng bảng sau:
(l/s-km) Với Qnet lưu lượng thực cần ở cuối đoạn kênh (m3/s-km)
Vậy lưu lượng tổn thất trên toàn chiều dài kênh L (km):
Qtt= S0 L= 10A.Qnet1-m.L (l/s)
Để đánh giá lượng tổn thất nước trên kênh, người ta sử dụng hệ số η, gọi là hệ số
sử dụng nước η< 1; η càng tiến đến 1 chứng tỏ lưu lượng tổn thất nước trên kênh rất
ít và ngược lại
4.3.2.3 Hệ số sử dụng nước của kênh
1 Các loại hệ số sử dụng nước của đường kênh
Trang 13Như phần trên đã biết hệ số sử dụng nước của đường kênh là tỷ số giữa lưu lượng thực cần ( chưa kể đến tổn thất) và lưu lượng cần lấy vào kênh(đã kể đến tổn thất) Như vậy hệ số sử dụng nước nói lên mức độ tổn thất nước của kênh Tùy vào phạm vi đường kênh ta xét mà có nhiều loại hệ số sử dụng nước khác nhau
a.Hệ số sử dụng nước của đoạn kênh: là chỉ tiêu thể hiện tình hình tổn thất dẫn nước của đường kênh
-Khi đoạn kênh làm nhiệm vụ chuyển nước :
A
B br
net AB
Q
Q Q
Q
=
=η
-Khi đoạn kênh vừa chuyển nước vừa phân phối nước thì:
∑Qi – tổng lưu lượng phân phối vào các kênh cấp dưới
b.Hệ số sử dụng nước của hệ thống kênh: Là tỷ số giữa lượng nước ở mặt ruộng và lượng nước lấy vào đầu hệ thống trong thời gian nhất định Thể hiện tình hình tổn thất nước của các cấp kênh trong hệ thống
dm dm
mr br
net ht
Q
q Q
Q Q
q- hệ số tưới thiết kế của hệ thống;
Σω- tổng diện tích tưới do hệ thống kênh phụ trách;
t- thời gian lấy nước vào ruộng;
T- thời gian lấy nước ở đầu hệ thống;
Qbr - lưu lượng lấy vào tại đầu hệ thống;
Wr – lượng nước lấy vào mặt ruộng;
W – lương nước lấy vào công trình đầu mối;
t q T Q
t Q W
W
dm br
Trang 14Để nâng cao hệ số sử dụng nước, trong công tác quản lý người ta thường tưới liên tục, sao cho t=T, khi đó hệ số sử dụng nước của hệ thống sẽ là
r
E
.ω
η =
Wr: lượng nước lấy vào ruộng Wr = qωt
E: lượng nước cần cây trồng m3/ha
j k
A
i k
Q
q Q
Q Q
ηη
η
2 Hệ số sử dụng nước của kênh khi lưu lượng thay đổi
Tổn thất tương đối σ không những phụ thuộc vào chất đất làm kênh mà còn phụ thuộc vào lượng chuyển trên kênh Như vậy khi lưu lượng thay đổi thì tổn thất cũng sẽ thay đổi hay nói cách khác hệ số sử dụng nước của kênh mương cũng sẽ thay đổi theo
a) Tính hệ số sử dụng nước khi lưu lượng cần (Q net ) thay đổi
Gỉa sử cho sơ đồ kênh như hình vẽ, khi lưu lượng ở một trong hai nhánh kênh
N1, N2 thay đổi (tăng hoặc giảm), thì lưu lượng tại B và lưu lượng tại A cũng thay đổi, hay nói cách khác hệ số sử dụng nước đã thay đổi Vấn đề là phải xác định lại hệ số sử dụng nước và lưu lượng lấy vào đầu kênh (tại A) là bao nhiêu cho hợp lý
Trong bài toán này sẽ có 2 trường hợp xảy ra:
Trang 15Trường hợp 1:Nếu có một trận mưa rơi xống phần diện tích do kênh N1, N2 đảm nhiệm thì lúc đó Q’1< Q1 và Q’2< Q2 do đó Q’B< QB Vậy phải lấy lưu lượng tại đầu kênh QA= ? cho hợp lý
Trường hợp 2: Nếu trên phần diện tích ω1 , người ta muốn khai hoang thêm diện tích ∆ω vậy lúc đó: Q’net N1= q (ω1+∆ω)
Cho nên Q’1 > Q1 hay Q’B > QB Vậy phải lấy lưu lượng tại đầu kênh QA= ? cho hợp lý
Mặt khác ta có
η
η
B A Á B
Q Q Q Q
=
⇒
=
Tóm lại cần xác định hệ số sử dụng nước khi Qnet thay đổi
*Gọi η là hệ số sử dụng nước của đường kênh khi lưu lượng cần lấy vào cuối kênh Qnet chưa thay đổi,
L AQ Q
Q Q
L AQ Q
Q Q
Q Q Q
m net br
net br
m net TT
net br
TT br net
100
1 1
100 1
*Gọi ηα là hệ số sử dụng nước của đường kênh khi lưu lượng cần lấy vào cuối kênh Qnet đã thay đổi Tương tự ta có:
L AQ Q
Q
net br
net br
br
Q
Q Q
α ηη
Đặt α= Qnet α / Qnet
Mặt khác ta có:
η
ηα
ηη
α α
α α α
net br
br
Q Q Q
Q Q
Q
Thay vào biểu thức trên ta có
Trang 16( )
α
α α α
η
αη
αη
α
αα
ηηα
ηη
' '
1
1 1
1 1
1
net br
m m
m m
Q
Q =
⇒
− +
Do lợi dụng được nước mưa, nên lưu lượng tại đầu các kênh nhánh giảm đi 10%
so với thiết kế Hãy xác định QA= ?
b) Tính hệ số sử dụng nước khi lưu lượng đầu mối (Q br ) thay đổi
Do lượng nước cung cấp đầu kênh (Qbr) thiếu, do đó lưu lượng tại đầu kênh trên thực tế chỉ đạt (Q’br) Vậy cần phải xác định lưu lượng cuối kênh (Q’net) là bao nhiêu
*Gọi η là hệ số sử dụng nước khi lưu lượng nước đầu kênh (Qbr) chưa thay đổi
*Gọi ηn hệ số sử dụng nước khi lưu lượng nước ở đầu kênh đã thay đổi (Q’br) Theo công thức Ôphigenđen:
' '
'
1
br n net br br m
m n
Q Q
Q
Q n
n n
η
ηη
=
=
− +
=
Chứng minh công thức trên:
br
TT br br
net
Q
Q Q Q
=
=
ηTheo Ôphigenđen khi tính toán lưu lượng tổn thất của Kosschicốp có thể xem
Qnet= Qbr mà kết quả tính không có sai số lớn
m br
m br br
m br br
m br TT
Q
L A
L Q
A Q
L AQ Q
L AQ Q
100
1
100 1 100
1 100 1
1 1
Tương tự hệ số sử dụng nước ηn là:
Trang 17m br n
Q
L A
m n
n n
n
1 1
1
− +
Ví dụ: Cho hệ thống kênh như hình vẽ, biết Q1= 5(m3/s); Q2= 4(m3/s); m= 0.5;
ηAB= 0.8 Do nguồn nước thiếu nên lưu lượng ở điểm tại đầu mối (tại A) chỉ đạt 80%
so với lưu lượng thiết kế, xác định lưu lượng cuối kênh (Tại B)
4.3.2.4 Tính toán lưu lượng đặc trưng trên các cấp kênh tưới
Trong một hệ thống tưới chúng ta có thể dễ dàng tính được lưu lượng thự cần tại mặt ruộng của hệ thống Qnet = q.ω (l/s) Nhưng thực tế tính toán ta lại cần phải biết lưu lượng tại các mặt cắt nhất định trên các cấp kênh mương nhằm: Thiết kế mặt cắt các cấp kênh, thiết kế các công trình thuộc cấp kênh đó Trong quản lý cũng phải biết lưu lượng yêu cầu tại đầu các cấp kênh để có kế hoạch phân phối nước Vì vậy chúng ta phải tính lưu lượng cần tại đầu các cấp kênh
a) Tính toán lưu lượng thiết kế
Nguyên tắc tính toán là tính dồn từ mặt ruộng lên đến đầu mối công trình với công thức cơ bản:
Qbr = Qnet + Qtt = Qnet + S.L trong đó:
S – tổn thất trên một đơn vị chiều dài kênh (l/s-km)
L – chiều dài kênh mương (km)
Cho một hệ thống kênh gồm 3 cấp kênh từ cấp 3 đến cấp 1 Cho hệ số tưới thiết
kế là qtk (l/s-ha); các kênh nhánh cấp 4 đều tưới với cùng diện tích như nhau ω (ha) Các bước tính toán lưu lượng thiết kế được tiến hành trình tự như sau:
Trang 18Hình 4.6 Sơ đồ tính lưu lượng kênh
Ta tính từ kênh N 1-2-3 tính lên
3 2 1 3 2 1 3 2 1
3 2 1 3
N net
N br
N TK
N net
Q Q
1
2 1
1 2 1
1
2 2 1
1
3 2 1
.
10
10
=
=
N br
N TK N
E
N br
N br D E
CD
m C C
CD tt C D
N br B C
AB
m A A
AB tt A B
N br A
Q q
Q Q
Q Q Q
L AQ Q
Q Q Q
Q Q Q
L AQ Q
Q Q Q
Q Q
ωη
Tương tự tính cho kênh N1-1
Trang 191 1 1
1
.
10
1
1
2 1
N br
N TK N
C
N
br
N br B
C
AB
m A A
AB tt A
Q
Q
Q Q
Q
L Q A Q
Q Q
ht Tk ht
C
KC
br
N br B
C
AB
m A A
AB tt A
Q Q
Q Q
Q
L Q A Q
Q Q
=
=
−
Hệ số sử dụng nước của kênh chính:
Ví dụ: Cho hệ thống kênh như hình vẽ sau:
Cho biết qtk= 1 (l/s-ha); ηN1= ηN2= ηN3= ηN4= 0.8; ω1= 100 (ha); ω2= 200 (ha);
ω3= 300 (ha); ω4= 400 (ha); l1= 800(m); l2= 500(m); l3= 1000(m); chỉ số ngấm của đất A= 3.4; m= 0.5 Xác định QA= ? ; ηht= ? (1.32 m3/s; 0.76)
b) Tính toán lưu lượng nhỏ nhất
Cũng có thể tính như đối với QTK: từ qmin trong giản đồ hệ số tưới rồi tính dồn từ dưới lên Nhưng để nhanh chóng ta có thể dùng công thức:
N br
N br KC
br
n
i i
KC net KC
Q
Q Q Q
Q Q
1 3
Trang 20min
min min
min
− +
=
m m
αη
αη
-Khi QTK < 1 (m3/s) thì K= 1.2 ÷ 1.3
-Khi QTK = 1÷10 (m3/s) thì K= 1.15 ÷ 1.2
-Khi QTK > 10 (m3/s) thì K= 1.1 ÷ 1.15
4.3.3 Thiết kế kênh tưới
Mục đích của việc thiết kế mặt cắt ngang, dọc kênh tưới là các định các kích thước cơ bản của kênh bao gồm:
+ Các thông số khi thiết kế mặt cắt ngang:
- Chiều rộng bờ kênh ;
- Chiều sâu cột nước thiết kế h;
- Hệ số mái dốc bờ kênh m;
- Chiều rộng đáy kênh b;
+ Các thông số khi thiết kế mặt cắt dọc:
- Độ dốc đáy kênh I;
- Cao trình đáy kênh;
- Cao trình mực nước thiết kế;
Ngoài ra, trên cơ sở thiết kế đường kênh, ta xác định được khối lượng đào đắp và
từ đó xác định được vốn đầu tư của đường kênh