Các biến cố lớn luôn tạo nên áp lực đối với các hệ thống và cấu trúc của loài người bởi vì các lực tác động thường lớn hơn sức chịu đựng của các hệ thống và... 1.2.2 TH TH là những biến
Trang 11 BẢN CHẤT CỦA TÌNH HUỐNG KHẨN CẤP VÀ THẢM HỌA
1.1 Sức khỏe môi trường và thảm họa
Các hiểm họa SKMT (các mối đe dọa tới sức khỏe con người do tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh) thường liên quan chặt chẽ tới TH và THKC Có rất nhiều các hoạt động khác nhau có thể tiến hành nhằm giúp ngành y tế có khả năng ngăn ngừa, giảm nhẹ và ứng phó với các hiểm họa trên
Phát triển xã hội và TH liên quan đến nhau trong đó chuyên gia SKMT đóng vai trò hết sức quan trọng Bằng cách tăng cường giáo dục và tăng thu nhập cho người dân, phát triển xã hội giúp tăng cường năng lực đối phó của người dân đối với các
HH SKMT Tuy nhiên, một số phát triển xã hội lại tạo ra những HH mới hoặc những nhóm dân cư dễ tổn thương TH một mặt làm suy yếu phát triển nhưng cũng tạo cơ hội phát triển mới cho xã hội Vì vậy, việc xây dựng chiến lược tăng cường năng lực ứng phó của người dân đối với HH TH phải xét đến khía cạnh SKMT
Các hoạt động SKMT đòi hỏi nhiều ngành tham gia bao gồm, kỹ thuật, khoa học sức khỏe, hóa học và sinh học, và các ngành khoa học xã hội, quản lý và truyền thông Trong giai đoạn diễn ra TH và giai đoạn phục hồi, nhiều thành phần với các ngành khác nhau cùng tham gia vào các hoạt động theo dõi, phục hồi và duy trì sức khỏe cộng đồng Tương tự như vậy, nhân viên y tế cũng phải hợp tác với các cá nhân thuộc các ngành nghề khác chẳng hạn nhân viên cứu hộ cứu nạn, nhân viên giáo dục truyền thông
1.2 TH và tình huống khẩn cấp (THKC)
1.2.1 HH và biến cố lớn
Một HH là bất cứ hiện tượcng nào gây tổn thất hay hủy hoại đối với con người và môi trường sống HH một khi xảy ra gọi là biến cố Các biến cố lớn, có thể là tự nhiên hoặc nhân tạo, là những biến cố xảy ra với cường độ, hậu quả cực lớn Chẳng hạn, lở bùn, lụt, bão bờ biển, nạn châu chấu hoặc chuột đều là biến cố tự nhiên nhưng không phải biến cố lớn và trong một số trường hợp có thể tiên đoán trước Nhiều biến cố lớn, chẳng hạn lụt lớn luôn được theo dõi và ghi nhận trong vòng nhiều năm và có thể được dự đóan với tỷ lệ chính xác nhất định Các HH nhân tạo, như rò rỉ hóa chất độc hại hoặc chất phóng xã luôn tồn tại và nhiều HH nhân tạo có quy mô như HH tự nhiên đã xảy ra hoặc trở nên tồi tệ hơn do các hoạt động của con người Lấy ví dụ vào thập niên 90, tại Bangladesh đã xảy ra một trận lụt lớn và việc xả các túi nhựa vào cống rãnh đã làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn Các biến cố lớn luôn tạo nên áp lực đối với các hệ thống và cấu trúc của loài người bởi vì các lực tác động thường lớn hơn sức chịu đựng của các hệ thống và
Trang 2cấu trúc Lấy ví dụ, nhiều căn nhà có thể chịu được sức gió thấp nhưng với sức gió lớn hơn, chúng có thể bị sụp đổ Nhiều khu vực nông thôn có thể chịu được hạn hán nhẹ và ít xảy ra nhưng không thể chống chịu với hạn hán kéo dài xảy ra thường ra thường xuyên
Các biến cố lớn thường kéo theo hàng loạt các biến cố lớn khác Lấy ví dụ, động đất gây đổ vỡ, sạt lở bùn và đất đá làm tắc nghẽn các con sông, tạo ra các hồ chứa nhân tạo Những hồ chứa này có thể bị phá vỡ gây nguy hiểm cho các vùng dân cư tại hạ lưu Cháy rừng có thể làm các khu vực vành đai dễ bị xói mòn và lũ quét Động đất gây cháy do điện hoặc các vụ nổ khí Tại các khu vực có nguồn chứa nước trong thành thị, động đất có thể phá hủy các cấu trúc này gây lụt lội và giảm
số lượng nước dùng trong cứu hỏa
Việc tiên đoán sự xuất hiện của các biến cố lớn thường có độ tin cậy khác nhau Một số biến cố chẳng hạn lũ lụt và bão thường diễn ra theo mùa Chúng ta có thể
dự đoán lượng mưa nhưng không thể dự đóan chính xác cơn lũ Trên toàn thế giới,
số người bị tác động bởi các TH thiên nhiên thường liên quan chặt chẽ với hiện tượng EL Nino Mặc dù chưa được làm rõ hoàn toàn, nhưng các vụ phun trào núi lửa lại có liên quan đến hiện tượng này trong khi việc dự đoán sự xuất hiện động đất vẫn chưa được làm rõ
Một số biến cố tự nhiên chẳng hạn THKC do một đám mây Co2 và H2s xuất hiện tại Lake Nyos thuộc cameron vào tháng 8/1986 không thể dự đoán và tiến hành các biện pháp chuẩn bị sẵn sàng
1.2.2 TH
TH là những biến cố xảy ra khi một số lượng lớn người dân tiếp xúc với các biến
cố lớn mà họ dễ tổn thương, dẫn đến hậu quả chấn thương và tử vong, thường đi kèm với thiệt hại về tài sản và sinh kế
TH thường dẫn đến THKC, xảy ra với nhiều tình huống khác nhau tại mọi nơi trên tòan thế giới, từ khu vực nông thôn ít người cho đến thành thị đông đúc, từ
HH tự nhiên cho đến nhân tạo TH thường được phân loại dựa trên tốc độ khởi phát (đột ngột hoặc chậm), nguyên nhân (tự nhiên hay nhân tạo), hay quy mô (lớn hoặc nhỏ) Một số cơ quan quốc tế và quốc gia định nghĩa TH dựa trên các con số như số thương vong, giá trị quy ra tiền của tài sản mất mát… một số định nghĩa khác lại được sử dụng với mục đích chính trị hoặc học thuật chẳng hạn định nghĩa
TH được sử dụng để tuyên bố TH cho một khu vực quốc gia Các thuật ngữ được
sử dụng trong tài liệu này ít chính xác hơn nhằm mô tả cho nhiều trường học khác nhau Các lực lượng thường có người bị tác động và TH tự nhiên đồng thời xảy ra
là các TH nhân tạo (xung đột, phát triển kinh tế, bùng nổ dân số)…
Một ví dụ điển hình cho thấy sự kế hợp giữa HH kỹ thuật và tự nhiên là vụ nổ xảy
ra tại Ai Cập vào năm 1994 Khi đó mưa nặng hạt đã làm suy yếu đường ray xe lửa một đòan tàu chở nguyên liệu đã bị trật đường ray, bắt lử và gây ra vụ nổ lớn đám cháy nhiên liệu theo dòng nước lũ tràn vào thị trấn, giết chết hàng trăm người
Trang 31.2.3 Xung đột
Xung đột không được đề cập chi tiết trong tài liệu này Tuy nhiên, một số TH và THKC nghiêm trọng nhất được tạo ra hoặc làm cho phức tạp hơn do xung đột và
sự di dân với số lượng lớn xung đột là một nguyên nhân chính yếu gây sói mòn đất, dẫn đến các TH môi trường và làm tiêu hao nguồn lực dùng để giảm mức tổn thương của cộng đồng đối với các HH kỹ thuật và tự nhiên Xung đột cũng đòi hỏi nhu cầu lớn về nguồn nhân lực y tế và SKMT, trang thiết bị và các dịch vụ hỗ trợ,
vì vậy đòi hỏi nguồn lực giảm thiểu phải mang tính chuyên nghiệp cao nhất tác động thứ cấp của xung đột, dưới dạng các vấn đề sức khỏe cộng đồng và sự suy yếu các dịch vụ SKMT, chính là những mối quan tâm lớn
1.2.4 Tác động của TH lên cơ sở và dịch vụ SKMT
Một cách trong đó TH có thể gây ra, hoặc làm cho THKC trở nên tồi tệ hơn là phá hủy các cơ sở và dịch vụ SKMT Bảng 2.1 tóm tắt các tác động của TH lên cơ sở
và dịch vụ SKMT (Pan American Health Organization, 1982, 1995; Hanna, 1995)
Lũ lụt, mất điện, gãy bể đường ống nước, tắc nghẽn đường bộ có thể phong tỏa các cơ sở cấp nước, xử lý nước trong vòng nhiều giờ hoặc nhiều ngày Một số thiệt hại nặng nề hơn tác động lên các cấu trúc kỹ thuật như cầu cống, đường ống chính,
có thể gây tổn thất kéo dài trong vòng nhiều ngày hoặc nhiều tuần trong tất cả các trường hợp tr6n, điều cần thíêt là phải triển khai liên tục các kế hoạch tu sửa và nếu cần thiết phải sử dụng nguồn nước thay thế
Khó khăn về giao thông và thiếu hụt nguồn nhân lực có thể làm gián đoạn chương trình kiểm soát vectơ gây bệnh Trong một số trường hợp, chẳng hạn lũ lụt, có thể tạo môi trường lý tưởng cho vectơ sinh sản và các chương trình kiểm soát vectơ không thể giải quyết
Hạn hán có thể tạo ra một loạt các vấn đề liên quan đến hệ thống cấp nước và xử
lý nước thải do lưu lượng nước đầu vào thấp và đầu ra không được khai thông, và việc cung cấp điện cũng không đảm bảo nếu nguồn năng lượng bị tác động
Trang 41.2.5 THKC
Một THKC là một tình huống hay tình trạng được mô tả bằng sự suy giảm rõ ràng
và cụ thể khả năng của người dân trong việc duy trì điều kiện sống bình thường kèm theo sự phá hủy hay nguy cơ lên sức khỏe, cuộc sống và sinh kế TH thường gây nên tình huống khẩn cấp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp Việc di tản hoặc triển khai các biện pháp khác nhằm tránh bị ảnh hưởng bởi thảm họ là nguyên nhân dẫn đến suy giảm điều kiện sống bình thường đòi hỏi các can thiệp khẩn cấp việc di dời dân số trong hoặc giữa các quốc gia cũng thường gây ra các tình huống khẩn cấp việc mất mát sinh kế và gia tăng chi phí cuộc sống do hạn hán hoặc lũ
Trang 5lụt có thể đây người dân vào tình huống dễ bị tổn thương Một trận dịch tiêu chảy xảy ra ở một thành thị thiếu hụt nguồn lực y tế cũng có thể đưa đến THKC cần sự
hỗ trợ Trong tất cả các tình huống vừa nêu, cơ chế đối phó tại địa phương thường quá tải và vì vậy đòi hỏi phải triển khai các hoạt động tập trung, chuyên biệt và xuất phát từ ngoại lực
Trong THKC, bên cạnh tác động sơ cấp, THKC còn gây ra những tác động thứ pháp Lấy ví dụ, một trận sạt lở bùn có tác động sơ cấp là gây chấn thương và đòi hỏi phải cấp cứu kịp thời Tác động thứ cấp ở đây là hệ thống cống rảnh và các đường ống bị gãy bể có thể dẫn đến các trận dịch do lây qua đường nước do vệ sinh kém xảy ra vài tuần sau đó Hoặc việc mất mát sinh kế chẳng ạhn như các vườn rau quả bị thiệt hại dẫn đến việc giảm tiêu thụ thưc phẩm và gây ra THKC về dinh dưỡng trong vòng vài tháng sau đó Các nhu cầu phi vật thể của con người, chẳng hạn an ninh và nhu cầu văn hóa, cũng có thể bị tác động và các tác động về tâm lý và xã hội có thể kéo dài nhiều năm sau TH
THKC thường được mô tả theo chuyên ngành y tế công cộng, trong đó tỷ suất chết thô (CMR) được sử dụng rộng rãi như là số đo mức độ nghiêm trọng của THKC CMR nếu cao hơn tỷ suất chết thô bình thường của cộng đồng trước khi xảy ra TH hoặc trên 1 người chết/10.000 dân/ ngày ( hoặc 3 người chết/1000 dân/tháng) chỉ
ra rằng đó là một THKC (Centers for Disease Control and Prevention, 1992; Sphere Project, 2000) Tỷ suất chết thô của các loại TH khác nhau thường cao gấp nhiều lần so với tỷ suất chết bình thường trong khu vực bị tác động Nhiều người chết có thể xảy ra trong giai đoạn hậu TH hơn là đang khi xảy ra TH tuy nhiên tỷ suất chết thô chỉ là chỉ tố khuynh hướng nghĩa là không chỉ ra được vấn đề trước khi người dân thiệt mạng, và không chỉ ra được bản chất vấn đề Vì vậy, người ta thường dùng các chỉ tố khác về môi trường, xã hội và kinh tế để nắm bắt được bản chất THKC và cách nó thay đổi như thế nào theo thời gian, và vì vậy hiểu biết làm thế nào để đối phó một cách có hiệu quả
Thuật ngữ THKC phức tạp được mô tả là những tình huống suy giảm sinh kế và
đe dọa mạng sống của người dân do chiến tranh, bạo loạn quốc gia hoặc các phong trào quy mô lớn trong đó bất cứ ứng phó THKC nào cũng đều được triển khai trong môi trường giới hạn về chính trị và an ninh Sự kết hợp giữa TH phức tạp và
HH tự nhiên (ví dụ như các vấn đề về quân sự và chính trị đi kèm với thời tiết mùa đông khắc nghiệt, bão nhiệt đới và lũ lụt và dịch bệnh) đặc biệt tăng nhanh trong thập niên 90 tại các nước như Bosnia and Herzegovina, Iraq, Myanmar, Peru and Somalia
Trang 61.3 Mức tổn thương đối với TH và THKC
1.3.1 Khái niệm mức tổn thương
Mức tổn thương là mức độ một dân số, một cá nhân hay một tổ chức không thể chống đỡ, vượt qua, và phục hồi dưới tác động của TH ( Blaikie et al
1994)
Một số TH có thể tạo ra biến cố lớn tác động đến một dân số dễ tổn thương một các trực tiếp chẳng hạn như tác động lên sinh kế làm gián đoạn trong thời gian dài Tuy nhiên việc tác động lên sinh kế đôi khi lại gián tiếp, và thậm chí ngay cả khi TH đã chấm dứt, mức tổn thương của người dân đối với các TH tương lai vẫn gia tăng Một vụ nổ hay vụ cháy tại nhà máy công nghiệp có thể không gây thương vong nhưng thu nhập và nghề nghiệp của các công nhân nhà máy có thể bị ảnh hưởng Điều này một cách gián tiếp ảnh hưởng đến việc thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của gia đình công nhân vì họ không đủ tài chính để trang trải bữa ăn hoặc trả chi phí khám chữa bệnh Những vấn đề này đều làm tăng mức tổn thương của gia đình các công nhân đối với các TH trong tương lai
Mức tổn thương chính là hàm số giữa yếu tố nhạy cảm (những yếu tố cho phép một HH đưa đến TH) và khả năng chống đỡ (là khả năng chống đỡ đối với những thiệt hại do THKC và TH gây ra và sau đó phục hồi) Khái niệm mức tổn thương được sử dụng để xác định những thành viên trong dân số có khả năng bị tác động trực tiếp hoặc gián tiếp bởi HH Ngoài ra nó còn giúp xác định những đối tượng có khả năng bị ảnh hướng lâu dài từ việc mất sinh kế và những đối tượng gặp khó khăn trong việc lập lại cuộc sống bình thường trước khi xảy ra TH nghèo đói (cùng các hệ quả như suy dinh dưỡng, vô gia cư, nghèo đói) là yếu tố góp phần chủ yếu trong mức tổn thương Việc này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định
ưu tiên giảm thiểu mức tổn thương Sau đây là một số chỉ tố chính trong mức tổn thương
1.3.2 Yếu tố nhạy cảm cao
Các khu vực dân cư hay khu vực lao động nằm trong hoặc gần khu vực có mối HH
có thể dễ dàng nhận thấy các cộng đồng này bao gồm những người sống tại những khu vực lũ, các bờ biển không được che chắn, hay nằm gần các vùng trũng dễ bị ảnh hưởng bởi bão, hoặc nằm gần vành đai níu lửa hoạt động hoặc gần nhà máy sử dụng hoặc thải ra chất phóng xạ hoặc hóa chất độc hại Tại các khu vực có người định cư tạm thời, các căn hộ tự xây dựng thường nằm trên những triền dốc những khu đất không ổn định ( như tại Rio de Janero) hay tại những khe núi gần khu vực xảy ra động đất ( như tại San Salvador) Vào tháng 12/2000, mưa tầm tã cùng với sạt lỡ bùn tại Venezuela đã giết chết 30.000 người chủ yếu là những hộ sống tại những trườn đốc và khu vực bị sói mòn
Một số nghề nghiệp có thể chứa đựng các yếu tố nhạy cảm cao đối với một số biến
cố lớn Chẳng hạn những nhân công làm lâm nghiệp nhạy cảm với những đám
Trang 7cháy rừng lớn Hoặc các ngư dân thường nhạy cảm với các cơn bão biển những người mất đất hoặc không có đất bị buộc phải rời bỏ quê hương và định cư tại những khu vực chứa đựng các HH như tại Bangladesh
1.3.3 Khả năng chống đỡ kém
cộng đồng với tần suất các bệnh liên quan đến SKMT cao thường có nguy cơ xảy
ra TH hơn là những cộng đồng khác Suy dinh dưỡng, thường có mô hình theo mùa, dễ đưa người dân đến TH và làm giảm khả năng chống đỡ Người dân bị khuyết tật hoặc người già cả thường khó khăn trong đi lại vì vậy khó có thể sơ tán kịp thời Phụ nữ mang thai và trẻ em thường mắc các bệnh nguy hiểm do tiếp xúc với hóa chất độc hại công nghiệp người có thu nhập thấp thường không nắm được các cảnh báo về TH vì không có phương tiện truyền thông để theo dõi
Nếu xét về khía cạnh lâu dài, những người có thu nhập thấp chẳng hạn dân nhập
cư, người già sống một mình hay trẻ em vô gia cư có khả năng khó phục hồi sau
TH Số lượng những người vô gia cư tại thành thị ngày càng tăng cũng đưa đến
hệ quả như trên
Anderson & Woodrow (1989)xác định các năng lực sau đây có thể quyết định khả năng chống đỡ và có thể bị giảm thiểu do TH :
Năng lực thể chất/vật chất-yêu cầu về nguồn lực thể chất và tài chính
Năng lực xã hội/tổ chức-mạng lưới hỗ trợ trong cộng đồng và các gia đình lớn,
và khả năng tiếp cận với viện trợ từ các cơ quan xã hỗi và chính trị như nhà thờ hoặc chính phủ
Năng lực thái độ/động cơ/tâm lý-người dân cảm thấy như thế nào về khả năng vượt qua TH của bản thân (ví dụ họ có cảm thấy bị cách ly hay không, có cảm thấy được kết nối với nhười khác, có khả năng hoặc cảm thấy yếu đuối)
Hình 1.1 trình bày mức tổn thương của TH là hàm số của HH và mối đe dọa (yếu
tố nhạy cảm), và năng lực vược qua và phục hồi ( khả năng chống đỡ)
Trang 81.3.4 Tác động của TH ở mức độ quốc gia
Ở cấp độ quốc gia, các TH chủ yếu hay lập lại có tác động quan trọng đến phát triển, thông qua chi phí xã hội và kinh tế dành cho các TH đó và có thể tạo ra vòng tuần hoàn kém phát triển làm gia tăng mức tổn thương của người dân và xã hội Khung 1.1 đưa ra ví dụ cho tác động trên
Khung 1.1 Mối liên hệ giữa TH –phát triển
Chi phí dành cho người dân và kinh tế trong TH tiếp tục làm suy yếu phát triển kinh tế và xã hội Lấy ví dụ, tại philippin từ năm 1986-1991, trung bình có 2377 người chết hằng năm vì các TH thiên nhiên và kỹ thuật cũng trong thời gian này, chi phí ước tính hằng năm do thiệt hại TH gây ra trên 10.78 tỷ piso Các TH tự nhiên bao gồm trận động đất tại bắc Luzon vào năm 1990 làm 1283 người chết và một triệu người mất nhà cửa, và trận lũ quét và sạt lở đất năm 1991 tại thành phố Ormoc đã giết chết 8000 người
Chỉ tính riêng năm 1990, các TH đã gây thiệt hại trực tiếp tương đương 3% GNP của Philippine Những tổn thất này làm giảm tăng trưởng kinh tế, càng làm kinh tế kém phát triển và tăng mức tổn thương của người dân và xã hội đối với TH
1.4 Các hoạt động con người làm gia tăng mức tổn thương đối với TH
1.4.1 Quản lý nguồn lực bất hợp lý
Có một mối liêh hệ quan trọng giữa các quá trình vật lý và xã hội quyết định mức tổn thương đối với TH việc sử dụng đất và phát triển đất không hiệu quả làm gia
Trang 9tăng quy mô vật lý của HH Việc chặt phá rừng là một ví dụ điển hình Nhiều người dân nông thôn chặt cây để làm thanh đốt mất thực vực bao phủ trên bề mặt, đất giảm khả năng hút nước mưa dẫn đến có thể gây hạn hán và do xói mòn đất cùng với cạn kiện nguồn nước, lũ lụt có thể kéo về hạ lưu các con sông Các nguồn nước dự trữ cạn kiệt dẫn đến thiếu nước chống hạn hán cho những đợt tiếp theo vì vậy làm tăng mức tổn thương của người dân
Việc thải các chất rắn ở những khu vực nhà ổ chuột tại Rio de Janero cũng là một
ví dụ điển hình trong bối cảnh thành thị Việc thiếu mưa cùng với sự tích tụ của các chất thải như vậy dẫn đến đất không ổn định dễ gây sạt lở đất
Thậm chí việc xây dựng tự phát cũng có thể gây ra TH Việc xây dựng các rãnh thoát tự phát tại nơi cấp nước và các bồn chứa nước không được bảo trì tốt góp phần dẫn đến sự mất ổn định của một ngọn đồi tại Mameyes, Puerto Rico đưa đến một vụ sạt lở bùn giết chết hàng trăm người vào năm 1986
1.4.2 Đô thị hóa và mức tổn thương
Một trong những đặc trưng ngày càng phát triển trong vài thập niên gần đây là tốc
độ đô thị hóa ngày càng nhanh Gần đây, trên một nửa dân số thế giới sống tại các thành phố và theo ước tính cho đến năm 2025 số dân sống tại thành thị chiếm 2/3 dân số thế giới Không chỉ số người dân tại các thành thị gia tăng mà số thành phố công nghiệp cũng ngày nhiều việc đô thị hóa nhanh chống này tạo ra thách thức lớn đối với sức khỏe môi trường vì chúng tạo ra những điều kiện làm tăng mức tổn thương đối với TH Bảng 1.2 trình bày danh sách các thành phố chính được liệt vào nhóm có nguy cơ cao đối với các TH
Trang 10nhiều người dân sống trong những thành phố này một cách tạm bợ hoặc bất hợp pháp vì vậy khả năng tiếp cận với các dịch vụ đô thị là rất thấp đôi khi họ sống trong những khu vực không có lối thóat hiểm nếu hỏa hoạn có xảy ra Hoặc họ sống trong những khu vực không có dịch vụ thu gom rác hoặc thiếu các dịch vụ cấp nước và vệ sinh các hộ gia đình sống bất hợp pháp thường chọn những đia điểm có mức độ nguy hiểm cao chẳng hạn trườn đồi, các vùng trũng ngập lụt tại các đô thị hoặc gần các nhà máy nguy hiểm họ sống trong những khu vực này vì quá nghèo, và có thu nhập thấp vì vậy không thể cải thiện được điều kiện an toàn cho gia đình và bản thân Những gia đình này khi TH chưa xảy ra đã phải gánh chịu một áp lực rất lớn, do đó khi TH xảy ra họ không có đủ các sức lực về mặt tinh thần lẫn vật lực để có thể chống chọi lại các TH ngoài ra thành thị cũng là nơi có rất nhiều người vô gia cư phải sống trên đường phố, là những người phải có mức tổn thương đối với TH rất cao
Thậm chí ngay cả những nước phát triển với hệ thống cơ sổ hạ tầng tốt, mật độ dân số đông đúc đồng nghĩa với người dân dễ bị ảnh hưởng bởi các HH ít khi xảy
ra tại các cộng đồng nông thôn thưa thớt
Các quốc gia và các thành phố ngày nay cũng đang lâm vào cảnh thiếu nước nghiêm trọng Theo ước tính tại hội nghị liên hiệp quốc về định cư (habitat II) tổ chức tại Istabul vào năm 1996, hầu hết các thành phố tại các quốc gia phát triển sẽ phải đối mặt với tình trạng thiếu nước nghiêm trọng vào năm 2010
1.4.3 Mối liên hệ giữa nông thôn và thành thị
Mức tổn thương của người dân khu vực thành thị và nông thôn có một mối quan
hệ mật thiết Gần đây, có một tỷ lệ lớn những người nhập cư tại các khu vực thành thị xuất thân từ những khu vực nông thôn bị tàn phá không thể phục hồi lại sau
TH Điều đó cho thấy tầm quan trọng của quá trình phục hồi, một trong những giai đoạn trong chu trình TH, khi mà những người sống sót sau TH ít có khả năng chống đỡ hoặc mức tổn thương tăng lên đối với những TH tiếp theo Tuy nhiên, việc không thể phục hồi sau TH lại tạo ra một cơ hội lớn dành cho các nhà lập kế hoạch và ra chính sách Điều này có nghĩa họ có thể ra chính sách mới nhằm gia
cố nhà cửa, quy hoạch nhà cửa tại những khu vực an toàn hơn và củng cố lại các dịch vụ SKMT thông qua kêu gọi sự góp sức của cộng đồng
1.4.4 Thay đổi môi trường toàn cầu
In addition to the local changes in ecosystems previously discussed, there is
increasing
evidence of global climatic change (e.g Watson et al., 1996) Although the long-range
consequences are hard to predict, more severe cyclonic storms, an increase in both flooding
and drought, and a trend towards desertification cannot be ruled out.
The secondary consequences of global climatic change could well result in new