Vùng biển Tây Nam Bộ từ Cà Mau - Kiên Giang, là một vùng biển có tiềm năng kinh tế to lớn với số lượng xuất khẩu thuỷ sản hàng năm vào mức cao nhất của nước ta, góp phần làm tăng trưởng
Trang 1VNH3.TB18.201
ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG VÀ NGUỒN LỢI SINH VẬT
Ở VỊNH THÁI LAN
Phạm Thược
Trung tâm Tư vấn, Chuyển giao Công nghệ Nguồn lợi Thuỷ sinh và Môi trường
MỞ ĐẦU
Việt Nam là một quốc gia nằm ở vùng nhiệt đới, thuộc một trong 16 trung tâm đa dạng sinh học (ĐDSH) cao của thế giới Sự đa dạng sinh học ở biển Việt Nam được thể hiện bằng khoảng 2.038 loài cá biển, 225 loài tôm biển, 642 loài thực vật phù du; 657 loài động vật phù du, 6.377 loài động vật đáy, 55 loài mực nang và mực ống, 21 loài rắn biển, 5 loài rùa biển và mới chỉ xác định được 25 loài cá voi và cá heo v.v Sự giàu có này là cơ sở để Việt Nam đạt được sản lượng khai thác khoảng 1,8 triệu tấn hải sản trong năm 2006 và giá trị xuất khẩu khoảng 3,6 tỷ USD (Bộ Thuỷ sản, 2006)
Hải sản Việt Nam chiếm vị trí quan trọng trong đời sống nhân dân Tuy nhiên, do
sự khai thác quá mức cộng với việc gia tăng các phương tiện khai thác huỷ diệt, nguồn lợi hải sản, đặc biệt là nguồn lợi hải sản vùng ven bờ đang bị suy giảm nghiêm trọng
Từ năm 1986 đến nay, hàng loạt các văn kiện mang tính chất pháp lý đã được ban hành như: Kế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991 - 2000, Luật thuỷ sản (2004) ; Luật bảo vệ môi trường sửa đổi vào năm 2006 và Kế hoạch hành động
đa dạng sinh học của Việt Nam (1995) Việt Nam cũng đã tham gia nhiều công ước Quốc tế có liên quan đến bảo tồn Đa dạng sinh học
Đó là cơ sở của sự sống còn, sự thịnh vượng và bền vững của loài người cũng như của trái đất nói chung Vấn đề bảo vệ môi trường sống của các loài thuỷ sản cũng như bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản đã được nêu tại Điều 7, 8 của Luật Thuỷ sản (2004)
Vùng biển Tây Nam Bộ (từ Cà Mau - Kiên Giang), là một vùng biển có tiềm năng kinh tế to lớn với số lượng xuất khẩu thuỷ sản hàng năm vào mức cao nhất của nước ta, góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế quốc dân
Thế nhưng con người đã và đang khai thác nguồn lợi ngày càng cạn kiệt, vấn đề bảo tồn và phát triển là một trong những nhiệm vụ hàng đầu được quan tâm trong thời đại hiện nay
Trang 2Bảo tồn, bảo vệ, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là nhiệm vụ của mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước bằng việc tuân thủ các quy định của Luật Thuỷ sản và các quy định của pháp luật có liên quan
1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VÙNG BIỂN TÂY NAM BỘ 1.1 Vị trí địa lý, địa hình và trầm tích đáy biển
Là vịnh nông và tương đối kín ; được bao bọc chủ yếu là bờ biển Thái Lan (phía tây và phía bắc) Phía tây nam giáp với bờ biển Malaysia, phía đông, đông bắc giáp với bờ biển Việt Nam và Campuchia; một phần phía đông và đông nam thông với biển Đông
vào vịnh là sông: Chao Phraya, Tha Chin, Mae Klong và Bang Pakong và phía Việt Nam
có sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Ông Đốc, sông Bảy Háp và sông Cửa Lớn đổ vào vùng gần bờ của vịnh Vịnh được bao quanh bởi rãnh nước ngầm và tạo ra sự trao đổi nước giữa vịnh và biển Đông
Vịnh Thái Lan là một phần của thềm lục địa Sunda và tương đối nông Độ sâu trung bình 45 m, nơi sâu nhất không quá 80 m Độ sâu tăng dần tương đối đều đặn
từ bờ ra giữa vịnh, nền đáy có hình lòng chảo (hình 1) Dọc theo bờ biển có nhiều đảo phân bố rải rác Hàng năm vào mùa mưa các sông Ông Đốc, sông Cái Lớn và các sông dọc bờ Thái Lan, Căm Pu Chia đổ vào vịnh một khối lượng lớn nước ngọt làm toàn bộ dải ven bờ bị nhạt hoá Đồng thời đưa vào vịnh một lượng lớn nước thải chưa được xử lý bao gồm những kim loại nặng, dầu, thuốc trừ sâu làm tăng khả năng gây ô nhiễm môi trường biển
Chất đáy thuộc vịnh trong của vịnh Thái Lan (cực bắc vịnh Thái Lan) gồm có bùn lỏng, còn nói chung chất đáy của vịnh Thái Lan chủ yếu là bùn, đa phần thuộc vùng giữa vịnh (kể cả vùng gần bờ và vùng cửa vịnh) Chất đáy là bùn cát, cát - vỏ nhuyễn thể, bùn - vỏ nhuyễn thể, trong đó phần đáy bùn - cát chiếm diện tích lớn hơn Phía tây bắc vịnh, trong một phạm vi nhỏ chất đáy là đá và sỏi Vùng biển gần bờ Kiên Giang đến Phú Quốc, chất đáy chủ yếu là bùn pha lẫn vỏ nhuyễn thể Còn chất đáy vùng gần bờ
Cà Mau chủ yếu là bùn - cát phù sa (hình 2)
Trang 313°
12°
11°
ma la ysia
th ¸i Lan
12° 13°
viÖt n am
campuchia
11°
10°
6°
9°
8°
7°
103° 104° 105°
5°
102°
100°
9°
8°
7°
6°
5°
§Êt sÐt Bïn C¸t vµ phï sa
Vá nhuyÔn thÓ
chó gi¶i
§¸ vµ sái
Hình 1 Bản đồ địa hình đáy vịnh Thái Lan Hình 2 Phân bố chất đáy ở vịnh Thái Lan
1 2 Đặc điểm khí tượng, thuỷ văn ven biển Kiên Giang - Cà Mau
1 2 1 Chế độ gió
Vùng biển tây Nam Bộ hàng năm chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Đông Bắc và Tây Nam; mùa gió Đông Bắc (mùa khô) bắt đầu từ tháng 11 và kéo dài đến tháng 4 năm sau, gió mùa Tây Nam (mùa mưa) kéo dài từ tháng 6 cho đến tháng 9 Các tháng 5 và 10
là thời kỳ chuyển tiếp của 2 mùa gió
1.2.2.Dòng chảy
Ảnh hưởng của biển Đông lên vịnh Thái Lan trong mùa gió Đông Bắc là rất đáng kể
so với mùa gió Tây Nam Tháng 4 là tháng chuyển tiếp từ hoàn lưu thuộc mùa gió Đông Bắc sang mùa gió Tây Nam và tháng 10 là tháng chuyển tiếp từ hoàn lưu thuộc mùa gió Tây Nam sang mùa gió Đông Bắc
Mùa gió Tây Nam:
Hướng dòng chảy tầng mặt và tầng đáy tại phần phía Tây Bắc Vịnh gần trùng nhau Điều này có nghĩa khả năng tải vật chất (trong đó có cả chất bẩn) từ phía Tây sang phía Đông Vịnh vào mùa này là rất lớn
Dòng chảy có hướng Tây Bắc - Đông Nam tới gần mũi Cà Mau một phần nước được đưa vào vùng biển phía đông Nam Bộ, còn phần lớn nước đưa lại vịnh tạo nên hoàn lưu khép kín trong vịnh theo chiều kim đồng hồ
Mùa gió Đông Bắc:
Trang 4Trừ dải ven bờ biển tỉnh Kiên Giang - Cà Mau, hoàn lưu tại vùng biển Tây Việt Nam có chiều ngược kim đồng hồ
Gió mùa đông bắc và dòng chảy triều đã tạo nên một vòng tuần hoàn khép kín, bao gồm vùng nước trồi và vùng nước chìm địa phương Nước từ vùng biển miền đông Nam
Bộ một phần đi vào vịnh Thái Lan có hướng Đông Nam - Tây Bắc tạo thành hoàn lưu có chiều ngược với gió mùa Tây Nam (hình 3)
Hình 3 Hoàn lưu nước vịnh Thái Lan (Nguồn: Wyrtki, 1961)
1.2.3 Nhiệt độ nước biển
Vào mùa khô nước từ biển Đông đi vào vịnh Thái Lan dọc theo bờ biển Cà Mau
- Kiên Giang đi lên phía bắc dòng nước mang theo nhiệt độ thấp, độ mặn cao đã làm
cho vùng ven bờ có nhiệt độ giảm và càng ra giữa vịnh nhiệt độ càng tăng
Các tháng trong mùa khô (từ tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau) nhiệt độ nước tầng đáy thường có giá trị bằng hoặc cao hơn tầng mặt Nhiệt độ nước có giá trị thấp nhất là vào khoảng tháng 11 năm trước đến tháng 1 năm sau và cao nhất vào khoảng
tháng 3 đến tháng 5
Vào thời kỳ cuối mùa khô và đầu mùa mưa, nhiệt độ nước tại vùng biển Kiên
1.2.4 Độ mặn nước biển
Độ mặn nước biển ở tầng mặt vùng biển khơi của vịnh Thái Lan từ 31,4 - 32,7‰ (Naval Hydrographic Department,1995) Vịnh Thái Lan thể hiện một đặc trưng có 2 lớp
100 o
105 o
6 ÷ 12 cm/s
12 ÷ 25
18 ÷ 30
6 ÷ 12 cm/s
12 ÷ 25
18 ÷ 30
5 o
10 o
13 o
Trang 5nước: vùng nước nông cửa sông có độ mặn thấp, ở tầng nước trên mặt chảy khỏi vịnh, và ngược lại trong khi đó lớp nước có độ mặn cao, lạnh hơn chảy từ biển Đông vào vịnh Vùng biển Kiên Giang - Cà Mau vào thời kỳ mùa khô nước từ biển Đông đổ vào vịnh Thái Lan men theo bờ biển Cà Mau - Kiên Giang lên phía bắc Còn vào thời kỳ mùa mưa thì nước từ vịnh Thái Lan lại theo chiều ngược lại tức là men theo bờ biển Kiên Giang - Cà Mau đi xuống phía nam Ngoài sự ảnh hưởng của hoàn lưu nước trong vịnh thì trong các mùa mưa và khô lưu lượng nước từ lục địa đổ vào vùng này cũng khác nhau rất nhiều Vì vậy mà chế độ mặn của vùng ven biển phía tây Nam Bộ cũng có những thay đổi nhất định
1 3 Hàm lượng một số yếu tố hoá học có khả năng gây ô nhiễm môi trường nước cửa sông ven biển tây Nam Bộ
1 3.1 Hàm lượng dầu hoà tan trong nước
Hàm lượng dầu mới quan sát được vào tháng 7/2003 thuộc mặt cắt mũi Cà Mau dao động trong khoảng từ 0,31 - 0,464mg/l Nhìn chung thì hàm lượng dầu đều thấp (trừ
154,6% GHCP
1 3 2 Hàm lượng một số yếu tố kim loại nặng
Ngoài 2 yếu tố kim loại nặng là Fe và Zn được đánh giá là có hàm lượng cao, còn lại
6 yếu tố kim loại nặng khác như: Co, Cd, Cu, Hg, Pb, As đều thấp và nhỏ hơn mức cho phép rất nhiều Cyanua (CN) là thành phần có hại đối với cá, tôm Số liệu quan trắc mới ghi được tại mặt cắt vùng ven biển Cà Mau tháng 7/2003 cũng chỉ dao động từ 0,002 - 0,006mg/l, còn thấp rất nhiều so với GHCP
Phan Văn Hoặc - 1999, trong báo cáo kết quả đề tài KHCN - 06 - 03 “Điều tra bổ sung vùng biển vịnh Thái Lan” về mùa khô và mùa nắng cũng đưa ra các kết quả: Về mùa khô: hàm lượng các kim loại nặng: Fe, Mg, Cu, Zn, As, nhìn chung chỉ có hàm lượng sắt, Mangan, đồng là có hiện tượng vượt quá giới hạn cho phép cục bộ Còn hàm lượng dầu có 7/9 trạm nghiên cứu mặt rộng đều vượt quá giá trị giới hạn cho phép (0,33 - 1,277 mg/l), giá trrị cao nhất 0,82 mg/l và thấp nhất 0,04 mg/l Thuốc trừ sâu (ng/l) còn gọi là tổng dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật, tại một số điểm tiêu biểu còn rất thấp Về mùa mưa: các yếu tố kim loại nặng như: sắt, Mangan, đồng, kẽm, Asenic cũng được
nghiên cứu lặp lại; hàm lượng các yếu tố trên vẫn ở trong giới hạn cho phép
Các yếu tố môi trường khác như pH, Clor, độ kiềm, chất lơ lửng, COD, BOD5 chưa vượt quá giới hạn cho phép
Nhìn chung ở vùng biển Kiên Giang - Cà mau đã bị ô nhiễm sắt nặng, còn ở một số vùng khác thì ô nhiễm Mangan, đồng và kẽm Hàm lượng dầu cũng vượt quá tiêu chuẩn cho phép theo mức độ nuôi trồng thuỷ sản
Trang 62 SINH VẬT PHÙ DU, SINH VẬT ĐÁY
2.1 Thực vật phù du
2.1.1 Thành phần loài
Ở vùng biển tây Nam Bộ về TVPD cho đến nay đã phát hiện 321 loài (bảng 1),
cũng đã phát hiện những loài tảo độc như Dinophysis acuminata, D caudata, D miles,
Gonyaulax polygrama, Noctiluca sp v.v
Bảng 1 Tỷ lệ % thành phần các ngành tảo trong vùng biển tây Nam Bộ
Nguồn: Nguyễn Tiến Cảnh, 2005
2.1.2 Phân bố số lượng thực vật phù du
TVPD vùng biển tây Nam Bộ thường tập trung ở phần phía bắc, gần bờ, nơi có ảnh
hưởng của các cửa sông từ lục địa chảy ra, các loại muối dinh dưỡng phong phú, độ
muối thường trên dưới 32,5‰, môi trường đó đã tạo điều kiện cho TVPD phát triển Kết
quả về phân bố số lượng TVPD trong các tháng vụ bắc và các tháng vụ nam trong những
năm 1983 - 2006 được giới thiệu trên hình 4 Trên các sơ đồ này đã thấy rõ TVPD quanh
năm đều tập trung ở vùng biển phía bắc, đặc biệt là vùng đông bắc rất phù hợp với các
ảnh vệ tinh thu được về hàm lượng Chlorophylla trong vùng biển này
Trên các hình 4,5 cho thấy, các vùng tập trung khối lượng ĐVPD thường phân bố ở
nơi có mật độ TVPD thưa thớt hơn Sự phân bố của TVPD và ĐVPD như trên càng
chứng tỏ hơn nữa sự phát triển lệch pha nhau giữa TVPD và ĐVPD
Trang 7Hình 4 Phân bố số lượng TVPD tại vùng biển tây Nam Bộ trong mùa gió đông bắc (A - tháng
11 - 4) và mùa gió tây nam (B - tháng 5 - 10)
Nguồn: Nguyễn Tiến Cảnh, 2007
2.2 Động vật phù du
2.2.1 Thành phần loài
ĐVPD vùng biển tây Nam Bộ có 169 loài Tỷ lệ các ngành trong ĐVPD được giới
thiệu trong bảng 2
Bảng 2 Tỷ lệ % thành phần các ngành ĐVPD trong vùng biển tây Nam Bộ
Nguồn: Nguyễn Tiến Cảnh, 2005
2.2.2 Phân bố
Các vùng có mật độ tập trung cao của ĐVPD chuyển dần ra khơi và khu vực nam
Vịnh (hình 5)
Trang 8i Hình 5 Phân bố khối lượng ĐVPD tại vùng biển tây Nam Bộ trong mùa gió đông bắc
(A - tháng 11 - 4) và mùa gió tây nam (B - tháng 5 - 10) Nguồn: Nguyễn Tiến Cảnh, 2007
2.3 Sinh vật đáy
Trước hết phải nói đến chương trình điều tra Naga thuộc viện hải dương học Scrips California (Mỹ) E.Brinton 1959 - 1961 đã nêu ở các vùng biển nông như là các khu vực gần bờ biển Đông (South China Sea) trong phạm vi độ sâu 200m và toàn vịnh Thái Lan chưa thể phân biệt một cách rõ ràng các loài sinh vật nổi và sinh vật đáy Đa số các loài sinh vật đáy có thể là cá hoặc là động vật không xương sống có trứng hoặc ấu trùng trôi nổi Mặt khác một số loài nhất định có thể sống ở đáy vào thời gian ban ngày và di chuyển lên tầng mặt vào thời gian ban đêm Một số loài khác sống ở vùng cửa sông hay rừng ngập mặn có thể di cư ra vùng nước xa bờ để sinh sản
Các mẫu động vật không xương sống ở đáy đã thu được của chương trình Naga ở vịnh Thái Lan từ tháng 11 đến tháng 12/1960 chưa được phân tích đến loài mà chỉ được phân tích ra những nhóm nhất định
Thu thập các mẫu sinh vật đáy bằng gầu Petersen từ vùng đông bắc vịnh Thái Lan tới độ sâu 30 m Các loài sao rắn (Ophuroidea) chủ yếu sống ở nơi bùn - cát, trong khi đó giun nhiều tơ (Polychaeta) và giun đốt (Annelida) có nhiều và các loài tôm bơi nghiêng (Euphausiacea) cũng xuất hiện
Sinh vật lượng sinh vật đáy vào khoảng 15 gr/1m2 diện tích đáy
B
A
Trang 9Động vật thân mềm hai mảnh vỏ có mật độ tập trung cao nhất ở vùng có chất đáy là
bùn thuộc khu vực bắc Vịnh, độ sâu dưới 30 m
Các loại động vật đáy khác có ý nghĩa đặc biệt trong Vịnh là các loài cua nhỏ
(Brachiura), các loài giun dẹp (Nemertea), các loài chân bụng (Gastropoda), sá sùng
(Sipunculidea), các loài sao biển (Asteroidea), Alphaeid, tôm bọ ngựa (Stomatopoda) và
các loài giáp xác chân nghiêng (Amphipoda)
Theo Nguyễn Tiến Cảnh, 1989 sinh vật lượng động vật đáy ở vịnh Thái Lan đạt
11,18 g/m2, tương đối cao so với các vùng biển nhiệt đới khác Khối lượng này cũng
tương tự như kết quả của NAGA trên đây
Tới năm 1982: Thái Lan, Nhật Bản và Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam
Châu Á đã phối hợp nghiên cứu về hải dương học và nghề cá được tiến hành nghiên cứu
trên tầu Nagasaki - Maru từ 28/10 - 16/11/1982 Trên 12 trạm nghiên cứu đã thực hiện ở
vùng biển phía tây vịnh Thái Lan Tại mỗi trạm đã thu thập 2 mẫu trầm tích đáy
Tổng số đã xác định được 57 cá thể (bảng 17), trong đó có 35 cá thể thuộc 19 giống
đã được xác định ở mức độ chung và 4 loài
Các loài động vật đó được chia làm 7 nhóm bao gồm 8 loài giun nhiều tơ, 6 loài giáp
xác, 5 loài cước bì, 3 loài động vật thân mềm, 2 loài cá, 1 loài giun đốt và 1 loài sá sùng
Trong số các động vật đáy nhỏ được quan sát thì giun nhiều tơ chiếm 47,37%, giáp xác
22,81%, cước bì 12,28 %, động vật thân mềm 5,26%, cá 5,26%, giun đốt 3,51% và sá
sùng 3,51% (bảng 3 )
Nếu so sánh các động vật đáy ngoài khơi tỉnh Surat Thani ở vịnh Thái Lan năm
1980 (Manop and Neena ,1980) và kết quả nghiên cứu năm 1982, có nhận xét chung là ở
các trạm gần bờ khối lượng và thành phần loài đã phong phú hơn so với các trạm nghiên
cứu ngoài khơi
Bảng3 Thành phần và tỷ lệ % các nhóm động vật đáy xác định được ở vùng gần bờ phía
tây vịnh Thái Lan
Nhóm động vật đáy Số cá thể %
Giun đốt
Sá sùng
Giun nhiều tơ
Giáp xác
Động vật thân mềm
Động vật da gai
Cá
2
2
27
13
3
7
3
3,51 3,51 47.37 22,81 5,26 12,28 5,26
Nguồn : Neena Piamthipmanus, 1982
Trang 103 NGUỒN LỢI HẢI SẢN
3.1 Nguồn lợi cá biển
3.1.1 Thành phần khu hệ
Ở vùng biển tây Nam Bộ đã xác định được 479 loài thuộc 204 giống của 99 họ cá
khác nhau và 22 bộ Khu hệ cá ở vùng biển tây Nam Bộ mang tính chất nhiệt đới khá rõ,
số lượng loài phong phú nhưng sản lượng và chất lượng không cao Trong thành phần cá
đánh bắt được thì giống cá liệt (Leiognathus) chiếm 18,53%, trong đó Leiognathus bindus
chiếm tới 8,72%; cá đù bạc (Argyrosomus argentatus) – 9,30%; Cá nóc (Lagocephalus
sceleratus) 7,73%; Cá hố (Trichiurus haumella) - 6,06%; cá sòng gió (Megalaspis
cordyla) - 3,90%; cá bơn cát (Cynoglossus sp.) - 3,23 %; cá phèn 2 sọc (Upeneus
sulphureus) - 2,24 %; cá căng sọc thẳng (Therapon theraps) - 2,20 %; cá mối thường
(Saurida tumbil) - 1,84 %; cá mối vạch (Saurida undosquamis) - 1,53 %; ngoài ra còn các
loài cá khác chiếm dưới 1 % (bảng 4)
Nguồn lợi cá tầng trên sống ven bờ có kích thước nhỏ, ít di cư xa Trong nhóm này
các loài cá có sản lượng cao là: cá mòi, cá trích, cá cơm, cá lẹp cá khế Loại sống xa bờ
có kích thước lớn và thường di cư xa như: cá thu, ngừ thường xuất hiện khá thường
xuyên ở khu vực bên trong vịnh vào mùa nắng và cửa vịnh vào mùa mưa Loài cá ngừ
chấm (Euthynnus affinis có sản lượng cao, sau đó đến cá ngừ vằn (Katsuwonus pelamis),
cá bạc má (Rastrelliger kanagurta) là loài cá tầng trên quan trọng và thường có sản
lượng cao vào mùa nắng
Cá tầng đáy có giá trị kinh tế ở vùng biển tây Nam Bộ bao gồm đại diện các giống
cá hồng (Lutjanus), cá lượng (Nemipterus), cá song (Epinephelus), cá lượng đá
(Scolopsis), cá mối (Saurida), cá trác (Priacanthus), cá nhồng (Sphyraena), cá sạo
(Pomadasys)
Bảng 4 Tỷ lệ % của các loài có sản lượng cao so với tổng sản lượng cá đánh được
ở vùng biển tây Nam Bộ
3 Lagocephalus sceleratus Cá nóc 7,73
4 Leiognathus rivulata Cá ngãng 6,29
6 Megalaspis cordyla Cá sòng gió 3,90