1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2015 LẦN THỨ NHẤT

286 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 286
Dung lượng 3,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông trình bày một cách cụ thể về đặc điểm và yêu cầu của từng phạm trù, “Nhân” chính là sự yêu người coi người như mình, “Lễ” cần phải biết khắc chế bản thân, phục tùng lễ nghi truyền t

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ VÀ CÔNG TÁC XÃ HỘI

BÁO CÁO KHOA HỌC

HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2015

LẦN THỨ NHẤT

ĐỒNG THÁP, 31/10/2015

Trang 3

BÁO CÁO KHOA HỌC HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC NĂM 2015

BAN BIÊN TẬP

Trưởng ban

TS Trần Quang Thái

Các ủy viên ThS Lê Kim Oanh ThS Trương Thị Mỹ Dung ThS Kiều Văn Tu ThS Lê Văn Tùng

THƯ KÝ

ThS Lê Văn Tùng

Trang 4

MỤC LỤC

1 Tìm hiểu tư tưởng đạo đức của Khổng Tử

SV Nguyễn Việt Tiến, Lớp ĐHGDCT14B

GVHD: CN Nguyễn Thái Hòa

1

2 Tìm hiểu tư tưởng khoan dung của Phật giáo

SV Trần Dương Linh - SV Võ Văn Kha

5 Quan niệm của John Locke về tự do trong tác phẩm

Khảo luận thứ hai về chính quyền

SV Nguyễn Thành An, Lớp ĐHGDCT13

GVHD: CN Phùng Ngọc Tiến

37

6 Quan niệm của Hegel về quyền lực nhà nước trong tác

phẩm Các nguyên lý của triết học pháp quyền

Trang 5

12 Giáo dục giá trị đạo đức nhân văn cho học sinh trung học

phổ thông qua môn giáo dục công dân

SV Nguyễn Thị Cẩm Tiên, Lớp ĐHGDCT14B

GVHD: ThS Lê Kim Oanh

108

13 Thực trạng đạo đức của học sinh trung học phổ thông

SV Nguyễn Chí Công, Lớp ĐHGDCT14A

GVHD: ThS Lê Kim Oanh

120

14 Học tập theo học chế tín chỉ của sinh viên Khoa GDCT và

Công tác xã hội, Trường Đại học Đồng Tháp

SV.Trần Thị Hoàng Lan, Lớp ĐHGDCT12

GVHD: TS Trần Quang Thái

133

15 Vận dụng vai trò của quy luật lượng và chất vào quá

trình học tập của sinh viên ngành Giáo dục chính trị,

Trường Đại học Đồng Tháp

SV Nguyễn Thị Thanh Hoa, Lớp ĐHGDCT14A

GVHD: ThS Mai Thị Thanh

139

16 Vai trò của hoạt động tự học trong chương trình học

TOEIC của sinh viên Trường Đại học Đồng Tháp

SV Huỳnh Thị Trúc Linh – SV.Trần Nguyễn Bảo Yến

SV.Trần Thị Kim Hà - SV.Nguyễn Thành An

Lớp ĐHGDCT13

GVHD: ThS Trần Kim Ngọc

148

17 Định hướng chuẩn giá trị trong hôn nhân gia đình của

sinh viên Khoa Giáo dục chính trị và Công tác xã hội,

18 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục ý thức tự

tôn dân tộc cho thành niên huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng

Tháp hiện nay

SV Dương Thị Kiều Tiên, Lớp ĐHGDCT11 160

Trang 6

SV.Võ Thị Thu Biên - SV.Nguyễn Thanh Phong

SV.Đinh Thị Ngọc Ngân - SV Lê Hoài Nam

Trang 7

SV Phan Thùy Vân - SV Hồ Thị Ngọc An

Lớp ĐHCTXH13

GVHD: CN Đỗ Thị Thảo

258

30 Các đề tài nghiên cứu khoa học của sinh viên 270

31 Bài đăng Tạp chí khoa học của sinh viên 272

32 Bài đăng Hội nghị, Hội thảo khoa học của sinh viên 273

Trang 8

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP

KHOA GDCT-CTXH

HỘI NGHỊ SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

NĂM 2015

Đồng Tháp, ngày 31 tháng 10 năm 2015

CHƯƠNG TRÌNH

1 Diễn văn khai mạc 7h30 –

7h45

TS Trần Quang Thái Trưởng Khoa GDCT - CTXH

2 Vai trò của hoạt động tự học

trong chương trình học Toeic

của sinh viên Trường Đại học

Đồng Tháp

7h45 – 8h15

SV Huỳnh Thị Trúc Linh

SV.Trần Nguyễn Bảo Yến

SV.Trần Thị Kim Hà SV.Nguyễn Thành An

ĐHGDCT13

3 Giáo dục giá trị đạo đức

nhân văn cho học sinh

trung học phổ thông qua

môn giáo dục công dân

8h15 – 8h45

SV Nguyễn Thị Cẩm Tiên

ĐHGDCT14B

4 Những khó khăn tâm lý của

sinh viên năm thứ nhất Khoa

Giáo dục chính trị và công tác

xã hội, Trường Đại học Đồng

Tháp

8h45 – 9h15

SV.Võ Thị Thu Biên SV.Nguyễn Thanh Phong

SV.Đinh Thị Ngọc Ngân

SV Lê Hoài Nam

SV Lê Ngọc Hân ĐHGDCT12

6 Vai trò của Hội Phụ nữ trong

hoạt động phát triển kinh tế ở

phường 3, thành phố Cao

Lãnh, tỉnh Đồng Tháp

10h15 – 10h45

SV Nguyễn Thị Mỹ Duyên

SV Lê Ngọc Yên

ĐHCTXH13

7 Học tập theo học chế tín chỉ

của sinh viên Khoa GDCT và

Công tác xã hội, Trường Đại

học Đồng Tháp

10h45 – 11h15

SV Trần Thị Hoàng Lan

ĐHGDCT12

8 Tổng kết Hội nghị 11h15 –

11h30

TS Trần Quang Thái Trưởng Khoa GDCT - CTXH

Trang 10

TÌM HIỀU TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC KHỔNG TỬ

SV: Nguyễn Việt Tiến

Lớp: ĐHGDCT14B

GVHD: CN Nguyễn Thái Hòa

Tóm tắt: Khổng Tử là người đầu tiên đề ra phương hướng trị nước

bằng đường lối đức trị, trong đó người tập trung ở 4 phạm trù cơ bản

“Nhân-Lễ-Trí-Nghĩa" trong xây dựng nhân cách cho con người Ông trình bày một cách cụ thể về đặc điểm và yêu cầu của từng phạm trù,

“Nhân” chính là sự yêu người coi người như mình, “Lễ” cần phải biết khắc chế bản thân, phục tùng lễ nghi truyền thống, “Trí” là sự hiểu biết của bản thân xuất phát từ bẩm sinh và nhờ vào học tập,

“Nghĩa” là trung thành và khi làm việc thì việc gì hợp nghĩa thì làm không màng đến lợi ích cá nhân Với những đặc điểm như thế nên tư tưởng Khổng Tử được các thế hệ sau kế thừa, tuy nhiên nó vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định về tính cứng nhắc, rập khuôn, bảo thủ

Từ khóa: Đạo đức, Khổng Tử, triết học

1 Mở đầu

Từ xưa đến nay đạo đức được xem là nguồn gốc của con người và

nó có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xây dựng nhân cách con người và tiến tới xã hội nhân đạo cộng sản Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh rằng muốn xây dựng con người cách mạng thì trước tiên phải xây dựng được đạo đức cách mạng Người nói: “Sông có nguồn thì mới có nước, không có nguồn thì sông cạn, cây thì phải có gốc không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”, ngay từ những buổi đầu, đạo đức đã được xem là nền tảng là cơ sở xây dựng một đất nước, một xã hội an lành, hạnh phúc tiến bộ Với những ý nghĩa to lớn của đạo đức đã nêu ở trên là động lực thôi thúc tôi tìm hiểu, phân tích về tư tưởng đạo đức Khổng

Tử, một tư tưởng được xem là cái nôi cho những tư tưởng đạo đức sau này, nó không chỉ ảnh hưởng sâu sắc đến Trung quốc thời kì “Vương đạo suy vi- Bá đạo lấn át vương đạo”, mà còn có sự tác động to lớn đến tư tưởng của nhiều quốc gia dân tộc, trong đó Việt Nam được xem

là quốc gia kế thừa nhiều giá trị đạo đức Khổng Tử vào xây dựng con người và đất nước, trong bài nghiên cứu này ngoài tìm hiểu tư tưởng đạo đức Khổng Tử thì tôi còn chỉ ra sự tác động của đạo đức Khổng

Trang 11

Tử tới Việt Nam Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Tìm hiểu tư tưởng đạo đức Khổng Tử”

Mục đích nghiên cứu nhằm tìm hiểu tư tưởng Khổng Tử, đồng thời chỉ ra sự tác động của nó tới Việt Nam, từ đó bổ sung thêm nội dung và những kiến thức cần thiết để tiến tới xây dựng con người tài đức vẹn toàn Khách thể nghiên cứu là các tác phẩm của Khổng Tử và một số tác phẩm về đạo đức khác đối tượng nghiên cứu là những tư tưởng quan niệm của Khổng Tử về đạo đức, phạm vi nghiên cứu chủ yếu là những tư tưởng đạo đức Khổng Tử

và một số quan niệm đạo đức khác Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu lý luận, phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh

2 Nội dung chính

2.1 Khái quát về Khổng Tử

Khổng Tử (551 – 479 TCN), tên thật là Khổng Khâu tự là Trọng Ni, sinh tại làng Xương Bình, nước Lỗ ( nay thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) trong một gia đình quý tộc sa sút Thân sinh của ông là Thúc Lương Ngột, quan võ thuộc ấp Trâu, đến

70 tuổi lấy Nhan Thị sinh ra ông Ông mồ côi cha khi lên 3 tuổi, năm

19 tuổi, ông lấy vợ là Nhan Thị con của họ Thương Quan nước Tống, năm 20 tuổi vợ ông sinh đặng một con trai tên Lý Tự

Khổng Tử là một nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà giáo dục, nhà chính trị nổi tiếng, tư tưởng triết học của ông nhấn mạnh sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân và cai trị bằng đạo đức “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Sự chính xác của các mối quan hệ xã hội, đạo đức và quy phạm làm người trong “Đạo trung Dung” và các đức tính “Nhân –

Lễ - Nghĩa – Trí – Tín”

Ông còn là người nhân hậu, khiêm nhường giản dị, chân thành, giàu tình cảm, ôn hòa và nghiêm túc, uy nghi nhưng không thô bạo, cung kính mà an nhàn Sống thanh đạm trọng nghĩa khinh tài Ông nói:

“Ăn cơm gạo thô, uống nước lã, khi ngủ có cánh tay mà gối đầu, niềm vui ở trong đó rồi Còn như dùng phương pháp không chính đáng để đạt được giàu có và phú quý, ta coi như đám mây trôi qua vậy” [9, tr.242]

Nhìn vào sự nghiệp của Khổng Tử trên lĩnh vực học thuật và đạo lý, ngoài việc sang dịch các cuốn Kinh Thi – Thư – Lễ - Dịch – Nhạc và viết cuốn Biên Niên nước Lỗ gọi là Kinh Xuân Thu, những câu nói của ông giảng dạy cho môn đệ được các môn đệ ghi lại thành

Trang 12

cuốn “Luận Ngữ” Qua hơn 40 năm “Dạy người không mỏi” Khổng

Tử thu nhận trên dưới 3000 môn đệ Trong đó, có 72 người được gọi

là “Hiền”, bao gồm cả những người được gọi là “Triết”, hậu thế gọi là

“Thất thập nhị hiền”

2.2 Phạm trù “Nhân”

“Nhân” là phạm trù cốt lỗi trong tư tưởng đạo đức Khổng Tử Theo ông “Nhân” là nội dung, “Lễ” là hình thức và chính danh là con đường đạt đến điều nhân Nhân của Khổng Tử có điểm khác biệt đối với các quan điểm về nhân của Phật giáo và Cơ Đốc giáo, nếu như Phật giáo xem “Nhân” là từ bi bát ái, Cơ Đốc xem “Nhân” là cần phải yêu kẻ thù như bạn, coi người như mình thì Khổng Tử gọi “Nhân” là hiếu ô “Duy nhân giả năng hiếu nhân năng ố nhân” [3, tr.250] nghĩa là chỉ duy nhất người có được nhân mới biết được yêu người ghét người,

ở Khổng Tử nhân tuy có nghĩa cũng là Ái tuy nhiên khác so với đạo sĩ

và tôn giáo ở tính thực hành trình tự tiến hóa

Nhân được xem là phẩm chất đạo đức hoàn hảo của con người, có được nhân con người sẽ có được sự hài hòa xã hội – bình đẳng xã hội Theo Khổng Tử để có được nhân trước tiên con người cần phải biết “Khắc kỷ phục lễ” nghĩa là cần phải biết khắc chế những dục vọng, ham muốn của bản thân, hơn thế nếu con người còn quy kỷ thì không những không tạo ra được nhân mà làm cho bản thân trở nên băng hoại đi “Phục lễ” nghĩa là cần phải biết phục tùng trước lễ nghi truyền thống, văn hóa giữa nhân và lễ có mối quan hệ mật thiết với nhau có được nhân phải biết thi hành lễ nhưng đằng khác biết thi hành lễ mà không có nhân thì lễ nhạt có ích gì Ngoài ra Khổng Tử cho rằng có nhân cũng cần phải biết “Hiếu” và “Hiếu” được xem là gốc của nhân, người xem “Hiếu” là “vô vi – vô cải”

“Vô vi” là phụng sự cha mẹ không trái với lễ “Phận làm con khi cha

mẹ còn sống phải phụng sự theo lễ, khi cha mẹ qua đời phải chôn cất theo lễ, khi thờ cúng phải làm theo lễ” (sanh sự chi dĩ lễ, tử táng chi

dĩ lễ)[1, tr.37] “Vô cải” là nối chí nối nghiệp cha “khi cha còn sống phải xem cái chí của cha, khi cha mất rồi phải xem việc làm của cha

để 3 năm không được đổi hướng việc làm ấy ” (Phụ tại quan kỳ chí, phụ một quan kỳ hạnh, tam niên vô cải ư phụ chi đạo) [1, tr.20]

Chữ “Nhân”, trong tư tưởng của Khổng Tử là lòng thương người Theo Người, thương người được thể hiên ở “Trung và Thứ”

“Trung” là sự tận tâm, hết mình vì người khác sẵn sàng từ bỏ lợi ích

cá nhân “Thứ” là sự suy xét ở bản thân xem điều gì mình thật sự

Trang 13

muốn làm và tránh làm cho người khác những điều mình không ưa thích (kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân), ngoài ra khi muốn lập thân cũng phải giúp nguời khác lập thân, muốn thành đạt thì cũng phải biết giúp

đỡ người khác có được sự thành đạt như mình (Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân) Hơn thế nhân không chỉ được thể hiên bên trong mà còn cả ở bên ngoài qua trang phục, tướng mạo, cách nói năng ứng xử của con người trong các mối quan hệ

Tuy nhiên do những hạn chế của lập trường giai cấp, học thuyết

“Nhân” của Khổng Tử có nội dung giai cấp rõ ràng Ông cho rằng chỉ

có người quân tử (giai cấp thống trị) mới có thể được đức Nhân còn kẻ tiểu nhân (nhân dân lao động) không thể có được đức Nhân (quân tử nhi bất Nhân giả hữu hĩ, vị hữu tiểu nhân thi Nhân giã dã)

2.3 Phạm trù “Lễ”

Nếu như nhân được xem là gốc của tư tường đạo đức Khổng Tử,

nó là nội dung thì “Lễ” chính là hình thức biểu hiện cho nội dung đó

“Lễ” lúc đầu được hiểu là cái để thờ cúng thần, bắt đầu bằng ăn uống đồ xôi, mổ lợn, rót rượu vào chén mà bưng lên chỉ mang tính tôn giáo Đến khi nhà Chu lên ngôi thì “Lễ” được chia làm 5 loại gồm: Cát Lễ, Hung Lễ, Quân Lễ, Tân Lễ và Gia Lễ Đến sau này thì Khổng

Tử nhận định rõ được sự hữu ích của “Lễ” thì người đã đi sâu khai thác triệt để Lễ ở gốc độ lý luận của nó

Khổng Tử là người đề cao vai trò của “Lễ”, nếu như Người cho nhân là gốc thì lễ sẽ là ngọn của việc xây dựng nhân cách cho con người Sở dĩ như vậy là do:

Thứ nhất, nhờ vào lễ mà người ta có thể xác định được vị trí

vai trò của bản thân trong các quan hệ, góp phần tạo ra sự văn minh trong trật tự xã hội – gia đình Nếu như không có Lễ thì không thờ thần theo đúng các thứ bậc, không có lễ thì không phân biệt được trên – dưới, lớn - bé, vua tôi – cha con, trai – gái, anh – em trong xã hội

Thứ hai, “Lễ” quy định rõ ràng về cách ăn, mặc, ứng xử, hành

động, hành vi trong cuộc sống của con người nên có tác động lớn đến tâm tư tình cảm của con người Khổng Tử đã lý giải vấn đế này từ cách

ăn mặc khi có tang, khi ra ở triều và ra trận như sau: “Người mặc áo sô gai chống gậy, chí không để đến dự vui, không phải là tay không nghe thấy, vì y phục khiến như thế, người mặc cái phủ, cái phất áo cồn mũ miện, dáng điệu uy nghi không phải là có tính trang nghiêm, vì y phục khiến như thế, người đội mũ, mặc áo giáp, cầm giáo dài, không nhút nhát không phải là thân thể mạnh bạo, vì y phục khiến như thế”.[1, tr.10]

Trang 14

Thứ ba: “Lễ” giúp con người có thể kiềm chế bản thân, thực

hiện hoạt động của mình theo đúng chuẩn mực xã hội Theo Khổng Tử: “Tính con người vốn thừa thì sẽ xa xỉ, thiếu thì hà tiện, không ngăn cấm thì dâm đãng, không có tiết độ thì sai lầm…” [1, tr.13] Vì thế có thể xem “Lễ” chính là phương thức để ngăn chặn kịp thời sự tà đạo từ khi nó chưa hình thành, giúp cho con người hướng đến điều thiện tránh xa cái ác, cái tội lỗi

Vì thế nên “Lễ” có vai trò rất lớn trong việc xây dựng đức

“Nhân” cho con người Bởi lẽ giữa “Nhân” và “Lễ” có mối quan hệ mật thiết với nhau, có nhân phải thi hành lễ, nếu có lễ mà không có nhân thì lễ nhạt có ích gì

2.4 Phạm trù “Trí”

“Trí” là sự hiểu biết nói chung để phân biệt, đánh giá con người

và tình huống, qua đó xác định cho mình cách ứng xử cho đúng đường đúng đạo Chính vì thế nên có thể xem “Trí” là cách đưa con người đạt được đức Nhân, nếu thiếu Trí khó có thể đạt được, nhưng nếu đủ trí để hiểu đạo thánh hiền nhưng không có nhân để gìn giữ thì dù có đạt được đạo ấy, rồi nó cũng mất đi (Tri cập nhi, nhân bất năng thủ chi, tuy đắc chi, tất thất chi) [1, tr.578]

Nguồn gốc của Trí theo Khổng Tử một mặt tin vào mệnh trời, ông cho rằng có trí bẩm sinh Trí của con người có được từ trước do

ơn trên ban cho hay do bẩm sinh trong mỗi người mà họ có trí, mặt khác Khổng Tử cho rằng Trí cũng là kết quả của quá trình học tập Bởi lẻ theo người thông qua học tập con người sẽ có được những hiểu biết về các chuẩn mực đạo lý, cung cách ứng xử trong các mối quan

hệ, có được năng lực cho hành động để có thể đạt đến đức Nhân, quan niệm này về sau được Tuân Tử và Mạnh Tử kế thừa

Khổng Tử không chỉ đề cập đến việc học đối với Trí mà còn ở nhiều phương diện khác của con người, Ông viết: “Ưa làm điều nhân

mà không ưa học thì mối hại che lấp là sự ngu muội, ưa làm điều trí

mà không ưa học thì mối hại che lấp là sự phóng đảng, ưa làm điều tín

mà không ưa học thì mối hại che lấp sự thiệt thòi Ưa làm điều dũng

mà không ưa học thì mối hại che lấp là sự phản loạn Ưa cương cường

mà không ưa học thì mối hại che lấp là sự cuồng bạo” [1, tr.63] Có Nhân, có Nghĩa mà không có Trí thì cũng chẳng khác nào một người lính ra trận chỉ có áo giáp mà không có gươm, đao, chỉ bảo vệ được mình mà không bảo vệ được người khác Sống ở đời nếu chỉ sống cho

Trang 15

riêng ta thì đơn giản quá, mà muốn giúp đỡ được người khác tất mình phải có tài, có hiểu biết

2.5 Phạm trù “Nghĩa”

“Nghĩa” là phạm trù được sử dụng nhiều từ thời Khổng Tử về sau, theo Khổng Tử “Nghĩa” là những thứ gì hợp đạo lý chuẩn mực xã hội mà con người cần phải thực hiện, không bận tâm đến việc ấy có đem lại lợi ích cho người thực hiện hay không Khổng Tử nói: “Bậc quân tử làm việc cho đời, không có việc gì người cố ý bỏ, hễ hợp nghĩa thì làm” [1, tr.107] là người quân tử khi làm việc thì chủ yếu là giúp đời chứ không có việc gì mà người vì mình mới làm và cũng không tự ý bỏ mà theo đúng đạo nghĩa thì thực hiện Không chỉ Khổng Tử mà Mạnh Tử cũng sử dụng sự đối lập giữa nghĩa và lợi trong lời dạy của mình, trong một lần ra mắt Lương Huệ Vương, Huệ Vương hỏi: “Mạnh Tiên từ nơi xa đến đây có cách gì đem lợi ích cho đất nước ta”, Mạnh Tử đáp: “Vua cần gì nghĩ đến điều lợi hãy nghĩ đến việc nhân - nghĩa mà thôi, kế đến hàng đại phu nói có cách gì làm lợi cho gia tộc ta…nếu từ trên tới dưới đều mong có được điều lợi thì

kẻ này cướp đoạt kẻ kia mà không ai nghĩ đến nhân - nghĩa Trái lại không có người nào coi trọng nhân mà bỏ bê cha mẹ Chưa có kẻ nào coi trọng nghĩa mà xem việc nước thấp hơn lợi ích của bản thân mình” [4, tr.1]

Như vậy “Nghĩa” là một yếu tố góp phần tạo nên nhân cho con người, nhân và nghĩa là hai phạm trù có mối quan hệ mặt thiết và bổ trợ cho nhau, có nhân thì phải có nghĩa và có nghĩa nhất định phải đạt được nhân

2.6 Ảnh hưởng đạo đức Khổng Tử tới Việt Nam

2.6.1 Tích cực

Những tư tưởng đạo đức “Nhân-Lễ-Trí-Nghĩa” của Khổng Tử

có mối quan hệ mặt thiết tác động và phụ thuộc vào nhau nó góp phần hình thành nên một con người toàn diện, hình thành nên phương hướng đều hành đất nước Mà ngay từ buổi đầu đã được các triều đại phong kiến của ta vận dụng như Trần Hưng Đạo, , Nguyễn Trãi, Nguyễn Trường Tộ….Tuy nhiên ở bài nghiên cứu này tôi tập trung làm rõ sự vận dụng tư tưởng đức trị của Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam

Sự tác động của tư tưởng đạo đức Khổng Tử đến Hồ Chí Minh đã được khúc xạ qua nhãn quan macxit của Người, Người đã vận dụng sáng tạo những tư tưởng ấy, góp phần làm cho nền văn

Trang 16

hóa phương Đông bước lên một tầm cao mới Với sự giác ngộ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin được xem là căn cứ lý luận để Hồ Chí Minh nhìn nhận và kế thừa từ Nho giáo Cũng chính từ lập trường này mà Người đã đưa ra mối liên hệ, tính quy định của kinh tế - xã hội đối với học thuyết Khổng Tử, đánh giá vai trò và ý nghĩa của nó đối với thời đại ngày nay Người viết: “Cách đây 20 thế kỷ, chưa có chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc chưa bị áp bức như chúng ta ngày nay, cho nên bộ óc của Khổng Tử không bao giờ bị khuấy động vì các học thuyết cách mạng Đạo đức của Ông

là hoàn hảo, nhưng nó không thể dung hợp được với các trào lưu tư tưởng hiên đại, giống như cái nắp tròn làm thế nào có thể đậy kín cái hộp vuông” [5, tr.453] Như vậy Hồ Chí Minh đã kế thừa những

gì từ tư tưởng Khổng giáo

Nếu như đạo đức Khổng Tử đề cao “Nhân” tức là con người trong việc xây dựng một xã hội tốt đẹp trong đó có hạnh phúc cho mọi người Cũng như quan niệm trên Hồ Chí Minh rất đề cao vai trò con người Người viết: “Vô luận việc gì điều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” [6, tr.453] Tuy nhiên điểm khác với tư tưởng Nho gia chính là việc họ đề cao vai trò người quân tử, người cầm quyền, người giáo hóa dân chúng thì Hồ Chí Minh lại khẳng định đề cao vai trò của quần chúng trong cách mạng

Vì thế ở Hồ Chí Minh đều cốt yếu là ở chổ tổ chức quần chúng lại giáo dục họ, đưa họ ra tranh đấu để tự giải phóng và xây dựng đời sống mới, đó là sự tương đồng, nhưng đồng thời là sự khác biệt sự vượt qua Khổng giáo ở Hồ Chí Minh trong việc nhìn nhận vai trò của con người, chủ thể lịch sử Từ đó mà trong tác phẩm “Đường kách mệnh” người đã đưa ra đạo đức của người cách mạng trên cơ sở tiếp thu nhiều điều từ Khổng giáo Ý chí và tâm huyết của người quân tử, người đạt đạo, đạo đức, khí phách bật trượng phu, sự kiên định,

“Giàu sang không quyến rũ, nghèo khó không chuyển lay uy vũ không thuất phục”… Người đã giải thích chữ Nhân của Khổng Tử với cách mới như sau “Nhân là thật thà yêu thương, hết lòng giúp đỡ đồng chí và đồng bào, vì thế mà kiên quyết chống lại những người, những việc có hại cho Đảng và nhân dân Vì thế mà sẵn lòng chịu cực khổ trước mọi người, hưởng hạnh phúc sau thiên hạ Vì thế mà không ham giàu sang, không e cực khổ, không sợ uy quyền”

Nho gia chủ trương thân dân, trọng dân nhưng trên thực tế không được bình đẳng với bọn quí tộc “Hình bất thượng lễ phu, lễ bất

Trang 17

hạ thứ dân”, hình phạt chỉ dùng cho dân, còn quan lại, quý tộc thì được xử theo lễ Trái lại đối với Hồ Chí Minh người cán bộ Đảng viên phải là người chấp hành pháp luật của Nhà nước, bởi lẻ Hồ Chí Minh cho rằng cán bộ được xem như là gốc của cách mạng “Muốn việc thành công hay thất bại đều do cán bộ mà ra” Pháp luật ở Hồ Chí Minh là sự dân chủ chứ không như Khổng giáo, đều đó được thể hiện ngay từ phiên họp đầu tiên của chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (03-09-1945), người khẳng định: “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ Tôi đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” [7, tr.133]

Cũng như Khổng giáo, Hồ Chí Minh chăm lo xây dựng đạo đức nhưng là đạo đức cách mạng, chăm lo giáo dục đạo đức để xây dựng con người mới, con người XHCN Và Người đặt biệt nhấn mạnh vai trò của nêu gương và việc này trước tiên được thực hiện ở cán bộ, đảng viên, bởi “Cán bộ là cái dây chuyền của bộ máy”, người cán bộ cần phải học tập tu dưỡng rèn luyện đạo đức của bản thân, phải gương mẫu, cần, kiệm, liêm, chính để dân noi theo”

Như vậy ta có thể thấy tư tưởng đạo đức Khổng Tử có ảnh hưởng to lớn đến tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trên con đường xây dựng đạo đức cách mạng, xây dựng con người XHCN

Do quá coi trọng đức nên trong xử lý công việc và các mối quan hệ xã hội, dẫn đến buông lỏng kỷ cương, phép nước Tiếp thu truyền thống trọng đức nhấn mạnh “thân thân” nên người có chức quyền lôi kéo, dẫn gia đình thân thuộc vào làm kết bè kết phái Ngoài

ra do hiểu sai về đức nhân – nghĩa với nội dung đền ơn trả nghĩa mà xảy ra sự ban ơn, hối lộ, cửa quyền, móc ngoặc trong một số cán bộ hiện nay

Coi trọng lễ về cách giáo dục con người một cách cứng nhắc, bảo thủ là cơ sở cho tư tưởng bè phái, cục bộ, đề cao địa vị, trọng nam khinh nữ… từ coi trọng lễ, coi trọng quan hệ gia đình đến quan hệ

“chú cháu”, “anh em” nên trong quá trình thực hiện “Phê bình và tự

Trang 18

phê bình” không triệt để Ngoài ra sự giáo dục và tu dưỡng đạo đức Khổng giáo mang tính cứng nhắc tạo nên những con người sống theo khuôn mẫu, hành động thụ động làn cản trở quá trình xây dựng đạo đức mới

3 Kết luận

Khổng Tử, là nhà tư tưởng Trung Quốc cổ đại có vai trò to lớn trong lịch sử giáo dục thế giới Ông đã để lại cho nhân loại những tư tưởng quý giá mà ở từng thời kỳ lịch sử khác nhau, khi vai trò nhân tố con người được đề cao thì lại càng phát hiện ở đó chứa đựng những yếu tố tích cực, tiến bộ trong giáo dục và đào tạo con người

Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác-Lênin, triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, chúng ta nghiên cứu tư tưởng tư tưởng triết học về đạo đức Khổng Tử để thấy rõ những hạn chế và tích cực của nó đối với giáo dục con người Việt Nam

Con người mới mà chúng ta cần xây dựng đó là con người có những phẩm chất tốt đẹp truyền thống, đồng thời có khả năng nắm bắt

và vân dụng những tri thức hiện đại Do đó nếu ta vận dụng tốt những

tư tưởng chính trị đạo đức Khổng Tử một cách linh hoạt thì sẽ có được những lớp người vừa có nhân đức, vừa có dũng tài Công việc này phải được tiến hành thường xuyên, kiên trì, lâu dài, khi đó góp phần vào việc làm nên những con người vừa đảm bảo tính truyền thống vừa

có phẩm chất năng lực làm chủ xã hội sẽ góp phần tích cực vào sự nghiệp đổi mới của nước nhà, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Tài liệu tham khảo

[1] Chu Hy: Luận Ngữ, Nxb Văn học,1992

[2] Doãn Chính: Đại Cương lịch sử Triết học phương Đông,

Trang 19

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG CỦA PHẬT GIÁO

SV: Trần Dương Linh - Võ Văn Kha

Lớp: ĐHGDCT14A

GVHD: ThS Mai Thị Thanh

Tóm tắt: Trên cơ sở vạch rõ nội hàm khái niệm khoan dung, bài viết

bước đầu phân tích những biểu hiện của tư tưởng khoan dung Phật giáo được thể hiện thông qua các phẩm hạnh: “Vị tha”, “Từ bi”,

“Bác ái”, “Lòng trắc ẩn” và đặc biệt là sự khoan hòa giữa đạo Phật

với các tôn giáo khác Đồng thời, làm rõ ý nghĩa của tư tưởng khoan dung Phật giáo đối với mỗi cá nhân, gia đình và xã hội trong tiến trình hội nhập và phát triển hiện nay

Từ khóa: Khoan dung, Khoan dung phật giáo, Phật giáo

1 Đặt vấn đề

Đạo Phật là một trong những tôn giáo lớn xuất phát từ Ấn Độ Người có công sáng lập ra là thái tử Tất Đạt Đa (Shidartha) sinh năm

624 TCN thuộc dòng họ Thích Ca (Sakyà), con vua Tịnh Phạn Vương

Đà Na (Sudhodana) trị vì nước Ca Tỳ La Vệ (Kapilavasu) xứ Trung

Ấn Độ và hoàng hậu Ma Da (Ma Da) Một trong những tư tưởng chủ đạo của Phật giáo là dạy con người hướng thiện, không làm điều xấu

và có trí tuệ xây dựng cuộc sống tốt đẹp, yên vui, hạnh phúc và ấm no Đưa con người đến cõi niết bàn, cực lạc và thoát khỏi khổ đau Cũng giống như một số tôn giáo khác, Phật giáo không sử dụng thuật ngữ khoan dung nhưng thông qua giáo lý thì tư tưởng khoan dung được thể hiện một cách đầy đủ qua phẩm hạnh “Vị tha”, “Từ bi”, “Bác ái”

và “Lòng trắc ẩn” Phật giáo với tư tưởng khoan dung của mình đã chung sống hòa hợp với các tôn giáo khác và trở thành một trong những tôn giáo có số lượng các tín đồ đông đảo, chiếm được lòng tin của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân

2 Nội dung

2.1 Khái niệm khoan dung

Tư tưởng khoan dung xuất hiện rất sớm trong lịch sử tư tưởng triết học Dù rằng, trong giai đoạn đầu tiên đó, thuật ngữ khoan dung chưa được sử dụng thường xuyên, nhưng tinh thần của

nó có ảnh hưởng lớn đến giai đoạn sau Ở phương Tây Thuật ngữ

“khoan dung” có nguồn gốc từ tiếng Latinh tolerare và tolerantia với nghĩa là tha thứ, ủng hộ, dung nạp Thuật ngữ này, gắn liền với

Trang 20

đời sống tôn giáo khi xuất hiện vào thế kỷ XVI trong những xung đột tôn giáo giữa người Công giáo và Tin lành Trong tiếng Anh có chữ toleration (sự khoan dung, sự tha thứ), dùng gần nghĩa với benevolance (khoan dung, thiện nguyện) Ở phương Đông thuật ngữ

khoan dung xuất hiện lần đầu trong Kinh Thư Trong đó, khoan

dung được quan niệm là một đức tính của người quân tử bên cạnh tín, mẫn, huệ; “khoan” được hiểu là sự tha thứ, rộng lượng, khoan hồng, “dung” là bao dung

Mặc dù được đề cập và bàn luận từ lâu, song với tư cách là một thuật ngữ khoa học, khoan dung mới chỉ được nhắc tới ở Việt Nam từ những năm 90 của thế kỷ XX và được hiểu như một phạm trù đạo đức, một chuẩn mực nhân văn của con người Trong Hán Việt từ điển giản yếu, học giả Đào Duy Anh cho rằng : Khoan dung là sự rộng rãi dung được nhiều, độ lượng rộng, khoan dung là lòng rộng bao dung Còn Bửu Kế trong từ điển Hán Việt từ nguyên: Khoan dung là che chở, đùm bọc, bao dung kẻ khác; Hoàng Phê trong từ điển tiếng Việt: Khoan dung là rộng lượng tha thứ cho người có lỗi lầm; trong từ điển bách khoa Việt Nam: Khoan dung là thái độ ứng xử rộng lượng của người trên đối với kẻ dưới quyền Như vậy, khoan dung có rất nhiều cách hiểu khác nhau Cách hiểu phổ biến nhất là chỉ sự tha thứ của người trên đối với kẻ dưới, song nghĩa rộng nhất chúng ta có thể hiểu: Khoan dung chỉ thái độ chấp nhận khác biệt có phê phán trong mức độ đối thoại để cùng phát triển, không phân biệt cao thấp, sang hèn, văn minh hay không văn minh Như vậy, việc sử dụng thuật ngữ khoan dung chưa có sự thống nhất về nội hàm nên dẫn đến có nhiều cách hiều khác nhau Có khi khoan dung được hiểu là thái độ, cách ứng xử có liên quan đến tôn giáo, thường chỉ tình yêu thương, bao dung, độ lượng giữa con người với con người Khác với Phật giáo thì Nho giáo coi khoan dung là một phẩm tính của người quân tử và nội hàm thiên về thái độ ứng xử của bề trên đối với kẻ dưới, của người có quyền đối với người không có quyền Song thực tế khoan dung còn được đề cập ở nhiều lĩnh vực khác Ngày nay, khoan dung bao hàm ý nghĩa là một sự đối thoại ngay cả với những người có tín ngưỡng, có niềm tin trái ngược nhau

Trước những đổi thay của xu thế toàn cầu hoá hiện nay, khi các nước ngày càng gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, bên cạnh sự đụng độ về kinh tế và về chính trị, sự đụng độ về văn hoá và văn minh đã và đang xảy ra thì khoan dung là một thuật ngữ thường xuyên được nhắc đến

Trang 21

trong quan hệ giữa các khu vực và các dân tộc Để vạch rõ nội hàm của khái niệm khoan dung, tìm ra một khuôn mẫu cho thế giới hiện đại của thế kỷ XIX, UNESCO trong bản Tuyên ngôn những nguyên lý về khoan dung đã xác định bốn khía cạnh chủ yếu của tư tưởng khoan dung có tác động tích cực đến việc xây dựng xã hội hoà bình Theo đó,

“Khoan dung là một hình thức tự do, tự do về tư tưởng, tự do về pháp

lý Một con người khoan dung là người làm chủ về tư tưởng và hành động của mình Khoan dung là một thái độ ứng xử tích cực, không hàm ý mang ơn hay hạ mình chiếu cố đối với người khác Khoan dung

là thừa nhận và chấp nhận sự khác biệt Đó là học cách nghe, cách thông tin và cách hiểu người khác Khoan dung là chấp nhận sự đa dạng của các nền văn hóa, là sự cởi mở đối với những tư tưởng triết lý khác mình, là sự ham học hỏi, tìm hiểu những điều bổ ích để làm giàu cho bản thân, không bác bỏ những gì mà mình chưa biết Khoan dung

là tôn trọng quyền và tự do của người khác Khoan dung là sự thừa nhận không có một nền văn hóa, một quốc gia hay một tôn giáo nào độc tôn về tri thức và chân lý” [3, tr.29]

Như vậy, khoan dung là sự tôn trọng, chấp nhận và đề cao sự đa dạng, là sự hòa hợp trong sự khác biệt Trên tinh thần đó, Phật giáo với

tư tưởng khoan dung đã bù đắp cho những mảnh đời đau khổ, bất hạnh của con người Các cơ sở thờ tự là nơi nương tựa của những người già neo đơn không người thân, trẻ em bị cha mẹ bỏ rơi,…Từ những việc làm thiết thực mà Phật giáo ngày càng cần thiết đối với con người hiện đại trước những thách thức ngày càng nhiều và phức tạp

2.2 Một số biểu hiện của tư tưởng khoan dung Phật giáo

Khoan dung là một trong những tư tưởng cốt lõi của Phật giáo

Nó được biểu hiện qua nhiều phương diện như: yêu thương con người, tôn trọng phẩm hạnh ở mỗi người và khoan hòa với các tôn giáo khác Lòng yêu thương con người được thể hiện thông qua giáo lý, giáo luật của Phật giáo, trong đó biểu hiện rõ nhất ở tính “Vị tha”, “Từ bi”,

“Bác ái”, “Lòng trắc ẩn” và sự khoan hòa với các tôn giáo khác

Trang 22

Phật Một trong những con đường tu tập hoàn thiện bản thân đó là thực hiện lòng vị tha

Thật vậy, vị tha là pháp hạnh vô cùng cần thiết mà hàng đệ tử Phật cần rèn luyện để tạo dựng cuộc hòa hợp, an vui, giải thoát mình

và giải thoát mọi người Nói cách khác, lòng vị tha được xây dựng trên nền tảng từ bi và vô ngã, nghĩa là xuất phát từ tình yêu thương con người biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác để cảm nhận

và chia sẻ cảm thông trước nỗi buồn hay những khó khăn của mọi người, trước hoàn cảnh đó, nếu chúng ta có thể giúp được họ vượt qua khó khăn và có cuộc sống tốt đẹp hơn, thì hãy sẵn lòng mở rộng vòng tay để giúp dù có hy sinh lợi ích của bản thân mình để đổi lại hạnh phúc, niềm vui cho mọi người Người có lòng vị tha họ luôn suy nghĩ cho người khác, tha thứ những lỗi lầm của họ Chính phẩm chất tốt đẹp này là sợi dây gắn kết mọi người lại với nhau tạo nên một đoàn thể Vị tha không chỉ đơn giản thể hiện qua cách thức hay hành vi ứng xử mà còn thể hiện trong lời nói Chẳng hạn như những lời chúc thân tình trong ngày đầu năm mới cũng thể hiện lòng vị tha,

ở đó người ta dành cho nhau những ước muốn chân thành, có thể là tiền tài, danh vọng, sức khỏe

Tuy nhiên, để tha thứ cho một người nào đó có tâm hại mình là một điều không dễ chút nào nhưng với phật tính vị tha chúng ta sẽ làm được tất cả Nếu người nào không thể tha thứ cho người mắc lỗi mà cứ nuôi dưỡng sự hận thù thì tâm xấu này sẽ ảnh hưởng đến bản thân người đó Nó khiến cho bản thân luôn căng thẳng, khó chịu, bất an và tất nhiên nó sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, công việc của bạn Như vậy, chúng ta nên suy nghĩ một cách đơn giản hơn, một cách mà chính tôi thường làm và tôi thường nghĩ khi gặp vấn đề như thế là: trong cuộc đời này, người nào cũng từng mắc sai lầm, không ai hoàn hảo Họ nói điều ác, hành động không tốt, chắc có lẽ vì họ không biết hay vô ý Nếu biết hậu quả nghiêm trọng chắc họ không dám làm Nghĩ như vậy bạn sẽ dễ bỏ qua những sai lầm của người khác hơn Nhờ có phật tính

vị tha mà chúng ta có thể sống tốt hơn, có lối ứng xử văn hóa hơn, giúp cuộc sống chúng ta có ý nghĩa hơn Nếu không có vị tha sẽ không có phật pháp và đạo Phật Nếu không có vị tha con người khó trở nên hoàn thiện chính mình và xã hội khó mà hòa hợp

2.2.2 Từ bi

Từ là làm cho vui, Bi là cứu khổ diệt khổ Nói một cách khái quát Từ Bi là tạo ra niềm vui, niềm hạnh phúc đồng thời diệt trừ

Trang 23

những ác tính, khổ đau cho tất cả mọi loài chúng sinh, làm cho cuộc sống khoan hòa hơn Vì thế trong cuộc sống nếu một cá nhân nào gặp khó khăn hay chuyện không may xảy ra thì mọi người ra tay giúp đỡ

để họ vượt qua khó khăn, thoát khỏi vòng khổ ải, không có thái độ thờ

ơ hay làm ngơ trước sự đau khổ của người khác Nếu không làm như vậy sẽ đánh mất tinh thần cứu thế của đạo Phật Có thể nói Bi là nhân

và Từ là quả của Bi Bởi vậy, tư tưởng “đồng thể đại bi” có ý nghĩa rất nhân văn Do đó, thấy người khác chết đuối như chính mình bị chết đuối, thấy người khác đói như chính mình bị đói, thấy người khác khổ như chính mình bị khổ Vì thế chúng ta cần mở rộng tấm lòng với tất

cả mọi người, không phân biệt giàu nghèo, bé lớn, đẳng cấp và tôn giáo, “Thương người như thể thương thân” niềm hạnh phúc của người khác cũng là niềm vui của mình Làm được như thế, mọi người sẽ cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng, thanh thản, vui mừng, nhưng làm xong một việc tốt đó thì chúng ta nên quên nó đi không nên lưu giữ trong tâm thức bởi khi chúng ta lưu giữ lại trong tâm thức thì chúng ta cảm thấy mình đã hoàn hảo, đã tốt rồi và sẻ không làm tốt ở những việc sau

Phật giáo chỉ rõ, tính sân giận, oán hờn của con người là một nguyên nhân lớn gây ra khổ đau cho chính họ Sự oán giận có thể đánh mất hạnh phúc giữa những người thân như vợ chồng, anh em, họ hàng, bạn bè… Sự chém giết, khủng bố và chiến tranh giữa các phe phái, các nước vì màu da, tôn giáo… tất cả đều do sân hận mà ra, nó tồn tại trong tiềm thức ở trong mỗi con người, có dịp là nó bùng nổ

Vì thế, từ thời xa xưa đến bây giờ, giết chóc, chiến tranh luôn luôn xảy ra không ở nơi này thì ở nơi khác, không sao dứt được cảnh khổ; Phật giáo có phương cách dùng lòng Từ Bi để xóa đi, diệt đi lòng sân hận oán hờn, đó là phương thuốc diệt khổ Vì thế chúng ta cần “quán

Từ Bi”, tức là quan sát khắp vạn loài chúng sinh để tìm mọi cách đem đến cho họ niềm vui, đồng thời giúp họ diệt trừ nghiệp chướng và dẫn

họ đến con đường giác ngộ Nếu ai còn chấp nhất mà không quên được sự sân hận của mình thì không phải là tín đồ của Phật giáo

2.2.3 Bác ái

Phật giáo quan niệm rằng, Bác ái là yêu thương tất cả mọi người, không phân biệt người thiện hay người ác Trong tư tưởng phật giáo tình yêu thương con người được chảy đều cho tất cả mọi người không phân biệt và đối xử đối tượng này hay đối tượng khác Nó được thể hiện qua việc làm của Đức Phật như: nộp mình cho con hổ đói ăn

Trang 24

thịt vì nó sắp ăn thịt con của nó dù biết nó là một loài mãnh thú hung hãn nó sẽ ăn thịt Ngài Và một lần người nhìn thấy một số người trong đạo Bà-la-môn đói thì Đức Phật đã nướng mình làm thức ăn, giúp họ qua cơn đói khát Điều này chứng tỏ rằng: khi chúng ta yêu thương mọi người tức có lòng bác ái thì đem lại hạnh phúc cho mọi người và chính bản thân chúng ta, từ đó tránh được những hận thù, mâu thuẫn Lòng bác ái là sợi dây gắn kết mọi người lại gần nhau, yêu thương nhau hơn, tránh phân biệt giữa người này với người kia, giữa tôn giáo này với tôn giáo khác gây chia rẽ bè phái, đấu tranh và sát hại lẫn nhau Nhờ có tinh thần bác ái mà Phật giáo chung sống một cách hòa hợp được với các tôn giáo khác

2.2.4 Lòng trắc ẩn

Lòng trắc ẩn là một phẩm chất đáng quý của con người, được hình thành qua quá trình giáo dục và thể hiện nếp sống của cá nhân trong phạm trù đạo đức Theo đạo Phật quan niệm thì lòng trắc ẩn là sự cảm thông sâu sắc đối với mọi người, sẵn sàng đặt mình vào vị trí của người khác, là tạm thời quên mình để hiểu người khác và học cách yêu thương

họ Lòng trắc ẩn không chỉ thể hiện ở những việc làm lớn lao mà còn được thể hiện qua những việc làm đơn giản hằng ngày như giúp đỡ một người ăn xin, gọi xe cứu thương cho người gặp nạn… Những việc làm này tưởng chừng rất nhỏ nhưng lại có ý nghĩa rất lớn, vì thế chúng ta không nên do dự trước một việc làm tốt, có ý nghĩa Khi gặp những người có hoàn cảnh khó khăn, bất hạnh, chúng ta tìm hiểu nguyên nhân, hoàn cảnh của họ để giúp đỡ, nếu ngoài khả năng thì có thể kêu gọi sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội, của cộng đồng Nhờ có lòng trắc ẩn chúng ta sẽ phần nào hiểu hơn về những khó khăn, nỗi khổ đau và bất hạnh cũng như những tuyệt vọng của người khác, từ đó có sự cảm thông, chia sẻ để cùng nhau vươn tới cuộc sống an vui, hạnh phúc

2.2.5 Sự khoan hòa giữa đạo Phật với các tôn giáo khác

Phật giáo là một tôn giáo lớn và có số lượng tín đồ đông, song với tư tưởng khoan dung của mình đạo Phật luôn tôn trọng các tôn giáo khác, không xem tôn giáo mình là trên hết Xem giáo lý, giáo luật và tư tưởng của các tôn giáo khác điều là hữu ích, đều đáng trân trọng Không có sự kỳ thị, phân biệt mà luôn dung hòa với các tôn giáo bản địa Khi du nhập vào việt nam thì tư tưởng khoan dung của đạo Phật còn được thể hiện qua tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” với Nho giáo

và Đạo giáo Sự khoan dung của Phật giáo còn được thể hiện ở nơi thờ

Trang 25

tự, trong chùa không chỉ thờ Phật A Di Đà, Thích Ca Mâu Ni, Di Lặc, các vị La Hán, Bồ Tát mà ở đấy, ta còn thấy các vị thánh, thần, tiên, mẫu của tôn giáo và tín ngưỡng bản địa, hoặc những danh nhân văn hóa lịch sử; không chỉ trong nước mà cả nước ngoài Hầu hết ngôi chùa Phật giáo có ban hoặc điện Mẫu Tam phủ, Tứ phủ; không ít chùa thờ các danh nhân văn hóa, lịch sử, người có công với cộng đồng, dân tộc, hoặc những người có công xây cất, tôn tạo ngôi chùa Gần đây, nhiều ngôi chùa có bàn thờ Bác Hồ và có vị sư trụ trì ngôi chùa Chùa thờ Phật nhiều khi cũng thờ thêm các vị thánh nhân của đạo Lão mà dân tin cậy, ngóng chờ, hy vọng, như Chùa Thày ở Sài Sơn Chùa Châu Đài ở Thượng Cát (Từ Liêm, Hà Nội) mà dân chúng nhiều đời thường gọi là

“đền Tam giáo” từ lâu đã thờ trên cao nhất là Lạc Long Quân, Âu Cơ, Đức Thích Ca, Quan Âm, Từ Lộ, Khổng Tử, Trần Hưng Đạo, Thái Thượng Lão quân cùng 12 vị Tiên Đồng Ngọc Nữ Ở một số chùa khác, chúng ta cũng thường gặp các Đức Phật chung bệ thờ với đức Thánh Tản Viên, bà Chúa Liễu Hạnh… Cổng chùa luôn là nơi mà ai có đau khổ, có bức xúc đều được tiếp đón, không kể thành phần xuất thân, không phân biệt nguồn gốc tôn giáo

Như vậy, tư tưởng khoan dung của Phật giáo không chỉ được thể hiện ở lòng vị tha, từ bi, bác ái và lòng trắc ẩn mà còn được thể hiện ở sự khoan hòa với các tôn giáo khác Khoan dung của Phật giáo chính là yêu thương tất cả mọi người không phân biệt xuất thân, thành phần xã hội, chấp nhận cùng tồn tại và phát triển bên cạnh các tôn giáo khác Việt Nam là một quốc gia có đa tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng trong lịch sử chưa từng xảy ra chiến tranh tôn giáo Có được điều đó là nhờ truyền thống khoan dung của người Việt và đặc điểm đan xen, hòa đồng, khoan dung của tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam Khoan dung sẽ tạo ra sự ổn định, hòa bình, một môi trường sống

an toàn cho nhân loại Đồng thời khoan dung giúp cho mỗi cá nhân, gia đình và xã hội ngày càng có sự gắn kết, phát triển, hoàn thiện Con người sống tốt hơn, yêu thương và chung tay xây dựng một thế giới hòa bình, phồn vinh và hạnh phúc

2.3 Ý nghĩa hiện thời của tư tưởng khoan dung Phật giáo

Tư tưởng khoan dung Phật giáo đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của Phật giáo, nó là điều kiện để giao lưu, hòa nhập với các tôn giáo, tạo sự gắn kết giữa các tín đồ, phật tử trong nước cũng như trên thế giới Khoan dung còn có ý nghĩa đặc

Trang 26

biệt quan trọng trong quá trình truyền bá Phật giáo, giáo dục con người đi đến hoàn thiện nhân cách, phẩm chất đạo đức tốt đẹp Với tình yêu thương con người và lòng từ bi bác ái, Phật giáo ngày càng đến gần hơn với quần chúng nhân dân, ăn sâu vào tư tưởng của mỗi

cá nhân con người Tư tưởng khoan dung của Phật giáo góp phần cho

sự thành công của cá nhân, sự gắn bó của gia đình và sự phát triển, đồng thuận của xã hội

Thứ nhất, đối với cá nhân: Người có lòng khoan dung sẽ cảm

thấy hạnh phúc, có lối ứng xử thông minh, hòa nhập với xã hội tạo thêm mối quan hệ giúp cho việc ngoại giao dễ dàng và khả năng thành công trong công việc là rất cao Người có lòng khoan dung luôn vui

vẻ, không hận thù và luôn nghĩ cho lợi ích của tập thể hơn lợi ích của bản thân Người có lòng khoan dung luôn được mọi người coi trọng

và khẳng định giá trị bản thân của họ Khoan dung giúp cho thân thể con người khỏe mạnh, dễ dàng làm nên việc lớn và đưa con người trở

về với bản chất của chính mình và khoan dung làm cho con người ta

có nhiều niềm vui, hạn chế những hận thù, thân thiện với nhau hơn mà bớt đi sự cô đơn và tẻ nhạt trong cuộc sống

Thứ hai, đối với gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, gia

đình ổn định và phát triển thì xã hội mới ổn định và phát triển Khoan dung giúp cho mọi người sống với nhau một cách hòa thuận, không hơn thua, ganh ghét lẫn nhau Không vì lợi ích nhỏ mà bỏ đi tình thân,

có như thế mới là một gia đình văn minh, hạnh phúc Các thành viên trong gia đinh biết chấp nhận sự khác biệt về tính cách, thói quen của các thành viên khác, bỏ qua những lỗi lầm và cho họ cơ hội để sửa chữa những sai lầm mà họ phạm phải Tha thứ những lỗi lầm nhưng đồng thời phải góp ý, phân tích đúng sai, để các thành viên trong gia đình hoàn thiện bản thân Đứng trên lập trường giáo dục thì hạn chế cảnh chồng đánh vợ, cha đánh con và cả sự thù hằn lẫn nhau.Thay vào

đó bằng sự tha thứ, lòng khoan dung và cả những lời dạy bảo hết sức

ân cần của người chồng dành cho vợ, của các bậc phụ huynh dành cho con cái, và ngược lại con cái cũng phải biết kính trọng, biết nghe lời

và phải hiếu thảo, giúp đời sống gia đình trở nên tốt đẹp, gắn bó và yêu thương lẫn nhau, “một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ ” vì thế, khoan dung là nền tảng của một gia đình hạnh phúc

Thứ ba, đối với xã hội: Khoan dung là sợi dây gắn kết mọi

người lại với nhau từ đó thấu hiểu tâm tư, tình cảm và hoàn cảnh của

Trang 27

nhau để cùng sẽ chia, giúp đỡ và cùng tiến bộ Ngày nay tư tưởng khoan dung của Phật giáo được mọi người vân dụng làm cơ sở đễ đối

xử với nhau Điều đó được thể hiện thông qua các chương trình như:

“trái tim nhân ai”, “Chắp cánh ước mơ”, “Lục lạc vàng”, “Chuyến xe nhân ái’’,…Điều đó chứng mình được con người luôn yêu thương lẫn nhau Không những thế, khoan dung còn là cầu nối giúp cho việc giao lưu văn hóa thuận lợi giữa các quốc gia trong khu vực, họp tác giữa các nước trên thế giới dựa trên nguyên tắc: hợp tác, hòa bình, hữu nghị giữa các quốc gia Giải quyết các xung đột bằng biện pháp hòa bình, chuyển từ đối đầu sang đối thoại, hợp tác cùng phát triển Khoan dung còn là điều kiện, là phương tiện và cũng là nền tảng để các doanh nghiệp, các quốc gia có thể chấp nhận sự khác biệt để gần nhau hơn, hợp tác và phát triển bền vững Một lần nữa, giá trị khoan dung đang giúp đất nước phát huy mọi nguồn lực để đưa Việt Nam “sánh vai cùng cường quốc năm châu”, phát triển kinh tế, bảo vệ tổ quốc trước mọi xâm lược Như vậy, tư tưởng khoan dung phật giáo có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của Phật giáo, trong giáo dục con người, trong gia đình và ngoài xã hội Nơi đâu có lòng yêu thương con người, lòng nhân ái, lòng nhân đạo, lòng từ bi,…thì nơi đó có khoan dung Nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến con người và xã hội Thúc đẩy sự đi lên, đi đến cái tốt đẹp, cái hoàn thiện nhất

3 Kết luận

Tư tưởng khoan dung của Phật giáo là một tư tưởng có ý nghĩa sâu sắc đối với các tín đồ và các tầng lớp khác trong xã hội Nhờ có khoan dung mà con người sống tốt hơn, biết đoàn kết, yêu thương mọi người cho dù đó không phải là người thân của mình Khoan dung không chỉ giới hạn trong việc điều chỉnh hành vi đạo đức và thể hiện tôn trọng tự do tín ngưỡng mà nó còn trở thành điều kiện thể hiện tôn trọng sự sống, hướng đến sự bình đẳng, thoát khỏi những khổ đau, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa tôn giáo với tôn giáo, giữa con người với con người trong xã hội Đặc biệt, trong xã hội toàn cầu hóa hiện nay, khoan dung tôn giáo nói chung, khoan dung Phật giáo nói riêng được xem như một nguyên tắc để cùng hội nhập trong thế giới đa tôn giáo hiện nay Đối với Việt Nam, khoan dung tôn giáo của Phật giáo được tiếp biến, phát huy đặc sắc trong Phật giáo Việt Nam, qua đó đã tạo nên những kì tích, đã dựa trên nguyên tắc lấy sự ổn định của cả dân tộc, lấy hạnh phúc, lợi ích và thịnh vượng của cả dân tộc làm mục tiêu phấn đấu chung Tư tưởng khoan dung của Phật giáo góp phần

Trang 28

làm mạnh hơn khối đại đoàn kết Phật giáo Việt Nam cũng như dân tộc

Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập với thế giới hiện nay

Tài liệu tham khảo

[1] Nguyễn Thị Phương Mai (2007), “Khoan dung thuật ngữ và sự

vận động của nó trong lịch sử triết học phương tây”, Tạp chí Triết học,

[6] Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb

Tôn giáo, Hà Nội

Trang 29

TÌM HIỂU TRIẾT LÝ NHÂN SINH

TRONG TÁC PHẨM ĐẠO ĐỨC KINH CỦA LÃO TỬ

SV: Phạm Thị Mỹ Duyên

Lớp: ĐHGDCT13

GVHD: CN Phùng Ngọc Tiến

Tóm tắt: Trong triết học phương Đông, “Đạo”có một vị trí rất

quan trọng đối với các trường phái triết học như Nho gia, Lão gia

và Phật giáo Trong bài này, người viết đi tìm những triết lý nhân sinh trong “Đạo Đức kinh”của Lão Tử đó là những triết lý về nguồn gốc, bản chất của con người về đạo, quy luật về đời sống con người trong thuyết vô vi, thuyết âm dương và những quy luật của tự nhiên về đời sống xã hội Từ đó chúng ta nhận thức được những triết lý nhân sinh của Đạo gia có ý nghĩa rất quan trọng đối với đời sống xã hội hiện nay

Từ khóa: Đạo đức, triết lý nhân sinh, vô vi

1 Đặt vấn đề

Đạo Đức kinh là một tác phẩm kinh điển của triết học phương

Đông cổ đại, nó không chỉ chứa đựng hệ thống tri thức sâu sắc về thế giới quan mà còn chứa đựng những giá trị sâu sắc về nhân sinh quan Mặc dù ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử đặc thù thời Xuân Thu - Chiến quốc, các triết lý nhân sinh quan tiếp tục có ý nghĩa trong việc nhận thức, suy ngẫm và thực hành đối với đời sống xã hội hiện đại

Tư tưởng đạo đức đó là sự kết hợp nhuần nhuyễn các quan điểm về thế giới quan, nhân sinh quan Nó là nội dung cốt lõi của triết học phương Đông Thế nhưng, mỗi triết gia đều có cách lý giải, suy tư

và diễn giải riêng của họ “Đạo”là một khái niệm trừu tượng hay dùng trong Nho gia và Lão gia và Phật giáo, song mỗi một hệ phái lại có cách lọc và cách diễn giải với sắc thái khác nhau

Trang 30

Viết xong không ai biết chết ra sao, ở đâu Có người bảo: lão Lai Tử cùng là người nước Sở viết mười lăm thiên sách nói về công dụng của Đạo gia cũng đồng thời với Khổng Tử Về quê quán trong bộ sử kí lưu hành hiện nay Lão Tử gốc ở làng Khú Lí, hương Lệ, huyện Hỗ nước

Sở Ông làm quan sử giữ kho chứa sách của nhà Chu tức như chức giám đốc thư viện quốc gia ngày nay, Lão Tử sống ở thế kỉ thứ IV (390-300 TCN) và Vũ Đồng đoán ông sinh vào khoảng 430-340 TCN

Về tác phẩm Đạo Đức kinh, theo Tư Mã Thiên thì Lão Tử viết

tác phẩm này là do lời yêu cầu của Doãn Hỉ, như vậy tác phẩm xuất hiện vào thời Xuân Thu Nhưng tới thế kỉ XVIII mới có người nghi ngờ thuyết đó (Tất Nguyên hay Uông Trung) rồi gần đây Khang Hữu

Vi, Lương Khải Siêu, Tiền Mục, Trương Tây Đường , Phùng Hữu Lan… đều cho rằng Lão Tử xuất hiện trong thời Chiến Quốc; người thì cho là sau Măc Tử trước Trang Tử, người lại cho ông sinh trong khoảng từ Trang Tử tới Tuân Tử Cũng có ý kiến cho rằng Lão Tử

xuất hiện còn trễ hơn nữa, sau bộ Lã thị Xuân Thu và trước bộ Hoài

Nam Tử, nghĩa là vào đầu thời Tiền Hán, nhưng thuyết này không vững [2, tr.28]

2.2 Về nội dung của triết lý nhân sinh trong tác phẩm Đạo Đức kinh

2.2.1 Quan điểm của Lão Tử về Đạo

Theo Lão Tử thì Đạo là bản nguyên của vũ trụ Theo ông:

“Có một vật hỗn độn, sinh trước Trời Đất, yên lặng trống không, đứng một mình mà không thay đổi, đi khắp nơi mà không ngừng nghỉ Có thể làm mẹ thiên hạ Ta không biết tên, nên đặt tên nó là Đạo, gượng gọi tên nó là lớn”.[1,2, tr.56].Hữu vật hổn thành, tiên thiên địa sinh Tịch hề liêu hề Độc lập nhi bất cải Chu hành nhi bất đãi Khả dĩ vi thiên hạ mẫu Ngô bất tri kỳ danh, tự chi viết Đạo cưỡng vi chi danh viết Đại)

Lão Tử cho rằng Đạo là Chân lý tuyệt đối, là nguồn gốc của vũ trụ và vạn vật, nên nghĩa lý chữ Đạo rất cao siêu, khó mà giải rõ được

Vì thế, trong Chương thứ nhất bàn về Đạo, Lão Tử đã nói rõ là: “Đạo khả đạo, phi thường đạo, Danh khả danh phi thường danh” [3, tr.37] Theo ông, bản tính của Đạo là hư không lặng lẽ, xem chẳng thấy, lắng chẳng nghe, rờ không đụng, không lớn, không nhỏ, không trước, không sau, không thể dùng lời nói mà diễn tả được, hoặc đem ra mà so sánh với bất cứ sự vật nào cụ thể được Đạo là tinh thần là bản nguyên của trời đất, vạn vật Nên trời đất, vạn vật là bản thể của Đạo, vì thế Đạo lưu hành trong vũ trụ, tàng ẩn trong muôn vật, cho nên vật nào

Trang 31

cũng có phần linh diệu của Đạo bên trong để điều hòa, trưởng dưỡng cho nó Đạo không có hình trạng, rất khó diễn tả, nên con người chỉ lấy tâm để cảm nhận và hình dung Đạo mà thôi

Theo nghĩa này thì Đạo là một thực tại siêu việt, vượt trên hết

mọi thực tại, nhưng cũng là thực tại thâu tóm, bao quát toàn thể vũ trụ này; là thực tại vượt trên thế giới hình tượng, thuộc thế giới tuyệt đối, vượt mọi khả năng của lý trí con người Thực tại đó con người chỉ có thể trực giác, chiêm nghiệm mà không hề tư duy hay khảo cứu được, lại càng không thể dùng đến danh từ hay ngôn ngữ để diễn đạt nó ra bên ngoài Bởi nó vượt lên trên mọi loại kinh nghiệm hữu danh, hữu hình mà con người có được

Theo Lão Tử chương 51: “Đạo sinh ra vạn vật, đức bồi dưỡng, nuôi lớn tới thành thục, che chở mỗi vật (…) ; vật chất khiến cho mỗi vật thành hình ; hoàn cảnh khí hậu, thủy thổ hoàn thành mỗi vật” [1, tr.65]

Đạo chỉ có công sinh ra vạn vật thôi ; công nuôi dưỡng, che

chở mỗi vật cho tới lớn là về “Đức”

Chữ Đức ở đây Lão Tử muốn dùng với nghĩa rất mới, không phải chữ đức như Nho gia thường dùng mà là đức nuôi lớn mỗi vật

,mỗi vật đều có “đức” mà đức của bất kỳ vật nào cũng là từ đạo mà ra

Lão Tử là người đầu tiên trong lịch sử triết học luận về vũ trụ,

trong Chương 25 của Đạo Đức kinh ông bảo: “có một vật gì đó hỗn

độn mà thành trước trời đất có thể coi nó là mẹ của vạn vật trong thiên hạ” [3, tr.56]; Chương 53 ông nói rõ thêm: “vạn vật có nguồn gốc, nguồn gốc đó là mẹ của vạn vật” [1, tr.57] Nguồn gốc đó bản thân Lão Tử cũng không định đoán được, có lẽ nó có trước vạn vật? Chính

vì vậy mà ông đi đến bác bỏ thuyết trời sinh ra vạn vật, mà có một cái

gì khác sinh ra vũ trụ, có trước thượng đế nên ông tạm đặt tên cho nó

là “Đạo” “Đạo khả đạo, phi thường đạo, Danh khả danh, phi thường danh; Vô danh thiên địa chi thủy, Hữu danh vạn vật chi mẫu” [3, tr.37] Đối với Lão Tử, Đạo là một chân lý thuần nhất “huyền bí trên mọi huyền bí” nên không thể dùng bằng ý tưởng để suy diễn, thậm chí càng không dùng ngôn ngữ hữu hạn của con người mà đặt tên cho nó Nếu có đặt tên chẳng qua chỉ là bất đắc dĩ, vì mỗi khi đặt tên Đạo ấy

ra thì đã làm cho Đạo ấy mất đi tính chân lý thực hữu

Tư tưởng về Đạo của Lão Tử chịu sự chi phối của thế giới quan

mà ông hấp thụ con người Trung Quốc cổ đại Theo đó, “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sanh tam, tam sinh vạn vật Vạn vật phụ âm

Trang 32

nhi bão dương, trùng khí dĩ vi hòa” Đạo là “không”, “không” sinh ra

“có”, vậy “nhất” đó là “có” hay nói cách khác đạo là vô cực, vô cực sinh thái cực (nhất) “Nhị” ở đây chính là âm và dương, còn “tam” chính là sự giao thoa giữa âm và dương Theo đạo âm dương tạo ra thanh khí và trọng khí, thanh khí làm trời, trọng khí làm đất còn sự điều hòa âm - dương sẽ sinh ra con người và vạn vật

Quan điểm về vũ trụ của Lão Tử chính là cơ sở cơ sở cho nhân sinh quan và chính trị quan của ông Vì vậy, ở nhiều chương khi ông nói về nhân sinh cũng tức là nói về chính trị hay ngược lại không thể tách được đâu là chính trị đâu là nhân sinh, đâu là đạo của nhà cầm quyền, đâu là đạo của dân, cả hai đều phải thuận tự nhiên đều là những áp dụng của phần vũ trụ quan cả

2.2.2 Học thuyết vô vi

Từ quan niệm về “Đạo”, Lão Tử chủ trương chính trị “vô vi”

“Vô vi” không phải là không nên làm gì cả, mà theo Lão Tử “vô vi” là làm mà như không làm, và không làm những điều không nên làm Ông cũng viết rằng nước tuy mềm mại uyển chuyển nhưng có thể chảy đến bất cứ nơi nào, và với một khối lượng lớn thì có thể làm lở

cả đất đá Như vậy vô vi có thể ví von với cách hành xử của nước

Sống trong giai đoạn chiến tranh loạn lạc, nên Lão Tử rất ưu tư về vấn đề quốc trị Với ông dân đói vì nhà cầm quyền lấy thuế nhiều, dân khó trị vì người cầm quyền theo hữu vi Vì vậy, “Trị thiên hạ thì nên vô

vi, còn như hữu vi thì không trị được thiên hạ” [3-4, tr.246] Người lãnh đạo quốc gia phải áp dụng sách lược vô vi để trở về (phản phục) với đạo hay cái gốc tự nhiên ban đầu thì mới có thể an bang tế thế

“Phản phục” là quay trở về cái ban đầu Theo Lão Tử nó là quy luật tự nhiên của Đạo Theo đó, “Đạo trời giống như buộc dây cung vào cung chăng? Dây cung ở cao quá thì hạ nó xuống, ở thấp quá thì đưa nó lên; dài quá thì bỏ bớt đi, ngắn quá thì thêm vào Đạo trời bớt chỗ dư, bù chỗ thiếu” [4, tr.84]

2.2.3 Quan niệm của Lão Tử về đạo đức, nhân sinh

Khi bàn về vấn đề đạo đức, nhân sinh Lão Tử đã phê phán ngũ đức (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín) và đạo hiếu trung của Khổng Tử

Theo Lão Tử thì loài người bẩm sinh có lòng yêu cha mẹ, yêu con, yêu đồng loại, tôn trọng bề trên v.v… cũng như loài chim, loài nai chẳng hạn, không loài nào không nuôi nấng, che chở cho con khi con còn nhỏ, không quyến luyến với mẹ, không hợp đoàn, không theo con đầu đoàn; đạo và đức khiến như vậy Những tình cảm đó hồn nhiên,

Trang 33

trong sạch, không suy tính Nhưng khi loài người để mất tình cảm hồn nhiên đó rồi, mới đặt ra nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, hiếu trung; bảo phải hành động ra sao mới là nhân, nghĩa, hiếu, trung, là cố ý rồi, nhắm một mục đích rồi, không thành thực nữa; nếu lại bắt buộc người ta làm như mình, thì đâu còn là đạo đức nữa, mà là sa đoạ, dùng trí xảo, trọng sự loè loẹt, đầu mối của hỗn loạn rồi Ông khẳng định: “Đạo lớn bị bỏ rồi mới có nhân nghĩa; trí xảo xuất hiện rồi mới có trá ngụy; gia đình bất hòa rồi mới sinh ra hiếu, từ; nước nhà rối loạn mới có tôi trung” Vì vậy, nên “dứt thánh, bỏ trí, dân lợi gấp trăm; dứt nhân bỏ nghĩa, dân lại hiếu từ; dứt [trí] xảo, bỏ lợi, không có trộm giặc” và “bất thượng hiền,

sử dân bất tranh” [2, tr.93], mà nên giữ sự chất phác

Trong quan niệm về thiên – ác, tốt – xấu Lão Tử cũng có những quan điểm mang tính biện chứng Theo ông, “Ai cũng cho cái đẹp là đẹp, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái xấu; ai cũng cho điều thiện là thiện, do đó mà phát sinh ra quan niệm về cái ác”[3, tr.96] Như vậy, trong vũ trụ không có gì vốn tốt – xấu, thiện – ác; đạo không phân biệt thiện ác, tốt xấu…

3 Triết lý nhân sinh trong Đạo Đức kinh đối với xã hội hiện nay

Việt Nam là một quốc gia chịu ảnh hưởng rất lâu đời và sâu sắc của nền văn hóa Trung Hoa cổ đại Đặc biệt là triết lý nhân sinh Đạo giáo đã được những nhà lãnh đạo, quản lý sử dụng như là tư tưởng chủ đạo trong kiến trúc thượng tầng trong suốt thời kỳ phong kiến và cho đên hôm nay, nó vẫn còn tồn tại hiện hữu và tiêp tục tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội Ngày nay, những triết lý nhân sinh của Lão gia không chỉ thấy được sự vĩ đại của mà còn coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức, lối sống, nếp sống có văn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tuong lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước, bồi dưỡng nhận thức và năng lực phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại

Lối sống đạo đức đang diễn ra khá phức tạp trong đời sống xã hội hiện nay, vậy cần phải làm gì để khắc phục những hậu quả Ở nước ta việc thu nhận Lão gia do nhu cầu của độc lập, quân chủ tập trung chủ yếu đạo gia lúc bấy giờ có nhiều thành tích tức là Việt Nam

Trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước nhưng cái học của nó theo lối từ chương, khoa bảng và nó học nhiều khía cạnh Theo Đạo gia con người

là quyết định nhất cái lớn nhất của chủ nghĩa mác, là vấn đề cứu vớt con người bị tha hóa bởi xã hội tư bản Để tu thân đề sướng đạo làm

Trang 34

người Đạo giáo cần phải hệ thống hóa tất cả các triết thuyết Ở Việt Nam, bên cạnh chủ nghĩa nhân ái truyền thống Việt Nam chủ nghĩa làm quan trọng mà đại nghĩa là yêu nước.Trong sự phát triển và hì thành nhân cách cho thế hệ trẻ nói chung, sinh viên Việt Nam noi riêng đã đượ tể hiện và khẳng định trong thật tiễn đổi mới đất nước lấy việc phát triển con người làm cơ sở phát triển kinh tế nhanh và bền vững Để bảo

vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của quốc gia cần phải vận dụng tinh hoa Đạo gia, đặt biệt là đạo làm người, tu thân lấy tấm gương Hồ Chí Minh vận dụng khi người đề ra cần kiệm, liêm chính Đưa nền giáo dục nước nhà lên đỉnh cao mới Mỗi việc đều xử lý theo Hiến pháp và pháp luật có sự can thiệp của nhà nước, còn nhiều vấn đề bất cập làm sao từ nước nhỏ phát triển thành nước mà người ta gọi là “con rồng” Thông qua đó, trong đời sống xã hội hiện nay chúng ta cần xây dựng nề nếp ứng xử thay vào đó bằng những biểu hiện :con người phải biết yêu thương lẫn nhau, đoàn kết là sức mạnh

đạo đức của Lão Tử với nội dung phong phú trong cuốn Đạo Đức kinh, có thể đem lại cho ta nhiều đều bổ ích góp phần vào sự nghiệp

đổi mới và phát triển đất nước ta

Tài liệu tham khảo

[1] Vũ Đình (1998), Đạo đức học phương đông cổ đại, Nxb Chính trị

Quốc Gia, Hà Nội

[2] Nguyễn Duy Cần (2013), Tinh hoa Đạo học phương Đông, Nxb

Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh

[3] Nguyễn Hiến Lê (1998), Lão Tử - Đạo Đức kinh, Nxb Văn hóa

thông tin, Hà Nội

Trang 35

TÌM HIỂU TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ CỦA MẶC GIA

SV: Nguyễn Vĩnh Phong

Lớp: ĐHGDCT13

GVHD: CN Phùng Ngọc Tiến

Tóm tắt: Bài viết tìm hiểu khái quát về đặc điểm trong tư tưởng chính

trị của trường phái triết học Mặc gia thời kì Chiến Quốc ở Trung Quốc

cổ đại và những dấu ấn mà Mặc gia đã tác động đến các giai đoạn tiếp theo trong lịch sử triết học Trung Hoa Đồng thời, bài viết bước đầu chỉ

ra những mặt tích cực và hạn chế mà trường phái triết học này đã một thời tỏa sáng cùng Nho gia với học thuyết “Kiêm ái” rất nổi tiếng và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng của trường phái này

Từ khóa: công lợi, kiêm ái, phi công, thượng hiền, tiết dụng

1 Đặt vấn đề

Nhắc đến Mặc giáo là ta lại nghĩ đến người sáng lập ra trường phái này là Mặc Tử, một người suốt đời tận tụy buôn ba khắp các nước phục vụ lợi ích cho mọi người và mong muốn có một xã hội tốt đẹp Không vì tước lộc, địa vị mà muốn giúp đời “dù mòn trán lỏng gót mà có lợi cho thiên hạ thì cũng làm” [4, tr.49] Ngoài những hành động thực tế thì ông cũng đưa ra tư tưởng của mình, nhất là về chính trị để khuyên bảo mọi người yêu thương lẫn nhau Những tư tưởng của Mặc Tử (đầu thời Chiến Quốc) cùng với Nho giáo của Khổng Tử (thời Xuân Thu) đã ảnh hưởng rất lớn đến xã hội Trung Hoa đương thời, tuy về sau bị phê phán nhưng tư tưởng của Mặc Tử lại có những dấu ấn để đời cho đời sau

2 Khái quát về Mặc Tử và hoàn cảnh lịch sử xã hội Trung Hoa cổ đại

2.1 Khái quát về Mặc Tử

Mặc Tử (khoảng 479 - 381 TCN), họ Mặc tên Địch là người nước Lỗ, xuất thân là hạng bình dân ở đầu thời Chiến Quốc Có tài liệu ghi lúc đầu Mặc Tử theo Nho gia, về sau thì lập trường phái riêng

Ông là người có tinh thần cứu đời đầy nhiệt huyết, có tài biện luận thuyết phục, làm việc nhân nghĩa… nên được coi là “người tốt ở gầm trời muốn tìm cũng không thể được vậy” [1, tr.263] Ông có rất nhiều học trò, môn đệ như Cầm Hoạt Ly, Cao Thạch Tử, Công Thượng Quá, Canh Trụ Tử… và đời sau thì có Lý Tương Cần, Ngũ Hầu, Khổ Hoạch, Đặng Lăng Tử… Ông thường bảo các môn đệ đi qua các nước làm quan, nếu thấy làm điều sai thì gọi về, ông có thể bảo các môn đệ của mình vào tình cảnh nguy hiểm để hoàn thành

Trang 36

nhiệm vụ mà họ không từ một lời, từ đó cho thấy tổ chức của phái này rất nghiêm minh như đoàn thể chính trị, các môn đệ tuyệt đối phục tùng ông, và ông như là một đảng trưởng phái này

Về “Bộ Mặc Tử” của ông theo Nghệ Văn Chí trong bộ “Hán thư” đời Hán gồm 71 thiên, đến Tống thì trong bộ “Trung Hưng Quán” có ghi là 61 thiên, đến nay còn 53 thiên (chia làm 15 quyển)

2.2 Hoàn cảnh lịch sử Trung Hoa thời cổ đại

Cả hai thời Xâu Thu- Chiến Quốc thì xã hội Trung Hoa chuyển biến liên tục, do Mặc Tử sống ở đầu thời Chiến Quốc, xã hội loạn lạc

và chuyển biến liên tục có nhiều biến cố, chiến tranh xảy ra liên miên hơn so với Xuân Thu, ở đời Mặc Tử, trên 80 năm có tới chín vụ như:

Sở diệt Trần, diệt Ngô, Thái, Kỉ; Việt diệt Cử, Đàm; Triệu, Hàn, Ngụy diệt Trí Bá;… Do lúc bấy giờ là thời đại đồ sắt trước là ở Ngô, Việt tìm ra được sắt và nói cách khác là phát sinh ra thuật luyện sắt , người

ta dùng sắt để làm lưỡi cày, lưỡi liềm, chiếc đục, rìu và sau này là binh khí… nhờ đó mà sức lao động giảm, năng suất tăng (vì lưỡi cày sắt bén và tốt hơn gỗ, đồng) đào kênh khai thông nước nên cây cối phát triển tươi tốt nhờ đó nông nghiệp và công nghiệp phát triển, kinh tế phát triển mạnh hơn so với thời trước (thời Ân dùng lưỡi cày bằng gỗ, thời Tây Chu dùng lưỡi cày bằng đồng đỏ, và cả hai vật liệu này thì không thể cày sâu vào đất được, chỉ là cào được lớp mặt phía trên và làm cho cây cối trồng trọt không thể bén sâu rễ mà tốt được) thì nhu cầu mở cõi tăng, địa chủ có quyền, quý tộc tăng lên, nông dân thì bị bóc lột hơn Vào thời này, phuông tiện giao thông được cải thiện, nhu cầu trao đổi buôn bán ngày càng mạnh hình thành nên những trung tâm thành thị, đường xá được xây đắp thêm càng nhiều Sự cản trở của biên giới, hàng rào thuế quan làm cho lưu thông hàng hóa chậm lại, từ

đó nhu cầu thống nhất Trung Hoa cổ đại ngày càng tăng dẫn đến chiến tranh xâm lược, xảy ra liên miên và để lại nhiều hậu quả nặng nề do

sử dụng đồ sắt vào chiến tranh bất kể quy luật nào, nào là chém giết tù nhân bắt được, chôn sống lính của kẻ thù, thây chất đầy đồng, hiện tượng người già, trai tráng đi lính và đàn bà trẻ em làm việc nông để sản xuất giao cho nhà nước hoa lợi phục vụ chiến tranh là điều diễn ra không quá mới mẻ và bất ngời ở thời này… mà nhờ vậy Trung Hoa cổ đại sớm được thống nhất bởi nhà Tần sau này

3 Nội dung

Chính trị theo tư tưởng của Trung Hoa cổ đại nói chung đó là

sự sắp đặt, lo liệu, quản lý để xã hội có trật tự và kỷ cương Trong đó,

Trang 37

theo Mặc gia thì chính trị là yêu thương mọi người và cùng làm lợi cho nhau, tất cả điều theo sự quản lý của thiên tử từ đó đất nước thống nhất và trở nên trị Nhà nước được xem như là một đại gia đình, trên thuận dưới hòa, thống nhất tư tưởng và yêu thương làm lợi cho nhau Đồng thời với những hình thức “chế tài” mà Mặc Tử sử dụng đó là chế tài về tôn giáo, chế tài chính trị, ngoài ra còn hình thức chế tài về mặt xã hội buộc mọi người phải tuân theo

Trong suốt tư tưởng chính trị của mình thì Mặc Tử luôn đề cặp đến quan điểm “Kiêm ái” và “Công lợi”, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt

và tạo nên dấu ấn riêng trong tư tưởng của ông trong xã hội đương thời, ông rất chú ý đến hiệu quả của công việc trong đó ông đề cặp đến việc lựa chọn người hiền tài, nguyên nhân làm cho thiên hạ loạn- trị

và những cách thức sinh hoạt đời thường cũng như là sinh hoạt chính trị để đi đến xã hội tốt đẹp như ông luôn hướng tới

3.1 Quan điểm của Mặc Tử về việc thành lập nhà nước thịnh trị

Việc thành lập nhà nước được ông đề cặp không phải là nguồn gốc của việc ra đời và hình thành nhà nước đầu tiên mà là những điều kiện cần có để thành lập một nhà nước thống nhất thịnh trị cho toàn thiên hạ

Theo ông, nguyên nhân làm cho thiên hạ loạn đó là do con người không tin vào trời- quỷ thần (trời theo Mặc Tử khác so với Khổng Tử) nên làm điều hại người, “không làm điều trời muốn mà lại làm điều trời không muốn, tức là mình dốc xuất trăm họ trong thiên hạ làm điều gây ra tai họa” [4, tr.391], không yêu người và đặt lợi ích của mình lên trên lợi ích của người và lợi ích chung Từ đó ông phê phán thuyết thiên mệnh tuyệt đối của Khổng Tử, trời- quỷ thần theo ông là nhằm nhấn mạnh tư tưởng chủ đạo của ông để phân biệt những cái tốt- xấu, phải- trái… để làm khuôn phép trong hành vi của con người, và răn đe người trên kẻ dưới tuân theo

Do tính chất cai trị cha truyền con nối, vì lợi ích của giai cấp mình mà cho người huyết thống kế tục tiếp nối sự nghiệp, nếu đó là người hiền tài theo Mặc Tử thì tốt nhưng vẫn phải theo cơ chế “tuyển cử”, còn nếu là người có vẻ bề ngoài phú quý, xa hoa, nhưng lại nhu nhược không được lòng người, người sẽ không phục thì sẽ không cai trị được người và muôn dân trong thiên hạ từ đó thiên hạ sẽ loạn “bề trên cai trị hễ được kẻ dưới đồng tình thì trị, không được kẻ dưới đồng tình thì loạn” [4, tr.171] Từ đó ông đề cao tính chất thượng hiền, lựa chọn và trọng dụng những người hiền tài, quân tử phải có nhân nghĩa,

Trang 38

hiểu được mệnh trời và có lòng kiêm ái (lợi người và yêu người), phải hợp lòng dân để được đưa lên làm thiên tử làm cho xã hội thái bình và

đó là việc căn bản của chính trị: “người sang và sáng suốt cai trị kẻ ngu và hèn thì nước trị; người ngu và hèn trị kẻ sang và sáng suốt thì nước loạn” [4, tr.426] Quả là những điều kiện trên trong xã hội đó thì giai cấp nông dân, nô lệ thì nhiều, người bề trên thì ít, mà bề trên hạng dốt thì nhiều thì lấy đâu ra người hiền tài? nên việc lưa chọn người hiền tài không có cơ sở xã hội

Khi con người ham lợi, hám danh không yêu người thì sẽ làm mọi thủ đoạn để đạt được mong muốn của mình, nhất là bề trên lợi dụng quyền để gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau, cuộc sống xa hoa phú quý không tiết dụng trong khi nhân dân vẫn cực khổ chịu đói rét, lao động cực nhọc, không lo việc nước đối với người trên, lười lao động đối với kẻ dưới sẽ làm cho cuộc sống sa sút do con người chỉ chú ý đến lễ nhạc mà không tiết dụng, tiết táng

Từ các nguyên nhân làm cho thiên hạ loạn thì Mặc Tử đề ra quan điểm cho thiên hạ trị và quản lý xã hội thống nhất theo tiêu chí của ông, và đây là tư tưởng chủ đạo mà đã được đề cặp ở phần trước

đó là kiêm ái đi đôi với công lợi là cơ sở của thái bình thịnh trị

Kiêm ái, theo Mặc Tử khác so với Khổng Tử ở chỗ đó là yêu mọi người như yêu mình, không phân biệt thân sơ, giai cấp quốc gia dân tộc, (Nho gia thì yêu mọi người trong gia đình trước rồi mới yêu người trong thiên hạ, họ quan trọng hơn người trong thiên hạ, “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”: điều mình không muốn thì đừng làm cho người khác; Pháp gia thì chú trọng đến pháp luật phải nghiêm minh và phải cho toàn dân hiểu rõ, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, quan điểm về nhà nước của pháp gia chú trọng đến sự tập trung quyền lực, mọi người điều bình đẳng trước pháp luật, thời biến pháp biến; Đạo gia với thuyết “vô vi” chủ trương trở về thời kì xa xôi trong lịch

sử xa hơn thời của Mặc Tử, về với xã hội bộ lạc nguyên thủy, là quốc gia nhỏ nơi mà có ít người sinh sống, không tranh giành với nhau, không ham muốn tư dục, mọi người sống hiền hành chất phác, thuận với tự nhiên, có thuyền không dùng, có xe không đi, cá

Kiêm ái là nhân nghĩa, làm lợi cho người trong thiên hạ, yêu người như yêu mình, yêu nước người như nước mình… từ đó không

Trang 39

gây ra chiến tranh xâm lược lẫn nhau, xã hội trên thuận dưới hòa thuận đồng ý kiến Nên theo Mặc Tử, “không kiêm ái thì thiên hạ loạn, kiêm ái thì thiên hạ trị” [1, tr.269], vì theo ông “việc của người nhân tức là tạo cái lợi, trừ cái hại cho thiên hạ” [4, tr.374], mà cái hại lớn nhất là nước lớn chiếm nước nhỏ, kế tiếp là mạnh hiếp yếu mà công dụng của kiêm ái thì ai cũng đem tai tinh mắt sáng mà trông cho nhau, đem tay chân khỏe mạnh mà làm lụng, giúp đỡ lẫn nhau, dạy bảo nhau, nuôi nấng người già không có con, trẻ em không có cha mẹ

để phụng dưỡng hay dạy dỗ Biệt Mặc khẳng định yêu hết thảy mọi người, không biết người đó ở đâu thì vẫn yêu được, cũng như cha mẹ thất lạc con, không biết nơi đâu mà vẫn cứ thương yêu chúng

Chủ trương kiêm ái nhưng giết kẻ bạo loạn, vậy có phải là kiêm

ái không?, theo Mặc tử thì “giết kẻ trộm không phải là giết người, nên giết kẻ trộm thì không làm hại lòng kiêm ái” [3, tập 1, tr.383] và vẫn

có thể giết kẻ địch nếu họ tấn công ta Ngoài ra, Biệt Mặc còn sửa đổi

lại kiêm ái ở chỗ kiêm ái là không phân biệt đẳng cấp như Mặc Tử đã

đề cập nhưng phải yêu thương bất đầu từ người thân trong gia đình trước, sau đó mới là người trong thiên hạ, là vì lí do họ là người thân, quen biết họ trước nên yêu trước là điều tất yếu và rất chú trọng về tình cảm, xem tình cảm là động lực giúp con người gần nhau hơn và trói buộc người ta

Để có điều kiện cho thiên hạ thịnh trị, ông chủ trưởng trừ bỏ cái hại và chăm lo chú ý đến lợi ích thiết thực, những lợi ích căn bản của con người như ăn, ở, nghỉ ngơi… từ đó hợp lòng dân và đủ tiện lợi để không tranh giành nhau “cơ giả đắc thực, hàn giả đắc y, lão giả đắc tức” [7, tập 1, tr.298] (đói có ăn, rét có mặc, mệt được nghỉ ngơi)

Nhưng, cái lợi của ông được hiểu theo nghĩa là góp của cải của dân vào việc đóng thuyền, làm xe… cho bề trên để họ đi lại, chở vật thay cho dân việc gánh vác để họ và dân đỡ mỏi vai lưng… như thế mới có lợi cho cả đôi bên Điều này mâu thuẫn với chủ trương tiết dụng của ông là chống sự xa xỉ vô ích, và chằng khác gì cướp và bóc lột của dân Kiêm ái là gây lợi cho mọi người và hợp ý trời

Ngoài kiêm ái công lợi thì theo ông phải theo nguyên tắc

“thượng đồng và thượng hiền”, hai nguyên tắc này đan xen với nhau, không thể thiếu và rách rời nhau Thượng đồng là dưới thuận ý trên và cao nhất là trời, nhưng trời làm sao cai quản đời sống của bình dân, của con người? Nên trời phải “chỉ định” người hiền tài để làm thiên tử thay cho trời để quản lý mọi mặt trong xã hội Trời hay quỷ thần nói

Trang 40

chung thì yêu những điều mình yêu và ghét những điều mình ghét… trong đó có dân, trời thương yêu dân như con, nên phải lựa chọn người hiền tài, đức độ phải hiểu mệnh trời làm kiêm ái lên làm thiên

tử và thiên tử này phải tránh những điều mà trời- quỷ thần ghét, làm những điều trời- quỷ thần yêu, trong đó có dân và sẽ tạo được sự thống nhất trên thuận dưới đồng với nhau, thấu tình đạt lý Trời chỉ định Thiên tử, nhưng việc chọn lựa là do ý chí của dân mà ra, cái gì có lợi cho dân thì làm, không lợi không làm

Khi chọn được người hiền tài làm Thiên tử thì chính sách cai trị, quản lý xã hội ra sao? Theo Mặc Tử đó là, khi làm bất cứ việc gì thì cũng phải hiểu rõ nguyên nhân, công dụng của sự việc để phân biệt phải trái, thiện ác từ đó mới quản lý được thiên hạ Ông đặc biệt chú

trọng đến hiệu quả của công việc và dựa vào “tam biểu”: bản, nguyên, dụng (trong thiên phi mạng thượng) hay “tam pháp”: khảo, nguyên, dụng (trong thiên phi mạng hạ), ở đây “bản” và “khảo” là một Cụ thể như sau: Bản (khảo) là phải noi gương theo các bậc thánh

nhân xưa như vua Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang… phải “ôn cố tri tân” [7, tập 1, tr.232] lấy việc trước xét việc sau, noi gương mà làm theo

Nguyên phải xem xét và quan sát thực hành như thế nào cho phù hợp với kinh nghiệm của đa số dân chúng Dụng là căn cứ vào kết quả ứng

dụng, nếu có lợi cho dân thì làm, và biểu này rất quan trọng

Phải biết xử phạt – khen thưởng phân minh, thiên tử không được hùa với kẻ dưới mà phải tán đồng, khi nghe tin thấy điều bất nghĩa- sai trái hay điều có lợi cho dân thì phải hết sức quan sát và tìm hiểu cho rõ mới xử phạt khen thưởng cho hợp lý Hay bề trên có lỗi, sai sót thì kẻ dưới sửa sai, kẻ dưới có điều oan thì bề trên trừ khử cho

“người trên nếu có việc ẩn, bỏ sót các lợi, kẻ dưới có thể biết mà làm lợi cho; kẻ dưới mà có oan chứa, hại tích, người trên có thể biết mà trừ khử họ” [1, tr.272] Dưới phải phục tùng tuyệt đối bề trên, vì đây là thiên tử được trời chọn lựa và hợp lòng dân nhằm tán đồng và tình ý thông đạt nhau, làm lợi cho nhau, thế nhưng những điều thiện ác, phải trái bất nghĩa… điều do thực tế của đại chúng cần lao quyết định

Khi sử dụng người hiền tài - chính sách thu hút tài năng làm việc thì phải theo ba nguyên tắc: tước cao, lộc hậu, quyết đoán ra lệnh Cũng theo ý trên, tùy theo khả năng của họ mà tuyển chọn tam công, chư hầu, chính trưởng, thể chế quản lý xã hội trên chế độ tuyển cử nên lúc đó “trăm họ trong thiên hạ sẽ đồng lòng với thiên tử” [5, tr.535], phép tắc quản lý trong thiên hạ là của công

Ngày đăng: 23/09/2021, 20:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w