Tuy nhiên, việc phát triển vượt bậc từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản …làm môi trường nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các sản phẩm hóa học.. Đặc biệt, tại các kh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
VIÊN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
- -BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KÌ
MÔN HỌC: MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG Ô NHIỄM NGUỒN NƯỚC
TỪ HOẠT ĐỘNG NÔNG NGHIỆP
Mã lớp học phần: 420300320606 GVHD: ThS Cao Thị Thúy Nga Nhóm sinh viên thực hiện : Nhóm 13 Trương Thị Hồng Nhật 19517461 DHTP15C Nguyễn Thị Bích Ngọc 19504401 DHTP15B
Hồ Đặng Nguyên Ngọc 20089211 DHDKTD16C
TP.HCM, tháng 6 năm 2021
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, chúng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Trường Đại học Công nghiệp TPHCM đã đưa môn học Môi trường và Con người vào chương trình giảng dạy Đặc biệt,
em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến giảng viên bộ môn - Cô Cao Thị Thúy Nga đã dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập vừa qua Trong thời gian tham gia lớp học Môi trường và Con người của cô, chúng em đã có thêm cho mình nhiều kiến thức bổ ích, sự hiểu biết về môi trường, con người và cuộc sống xung quanh Đây chắc chắn sẽ là những kiến thức quý báu, là hành trang để chúng em có thể vững bước sau này
Bộ môn Môi trường và Con người là môn học thú vị, vô cùng bổ ích và có tính thực tế cao, đảm bảo cung cấp đủ kiến thức, gắn liền với nhu cầu thực tiễn của sinh viên Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn nhiều hạn chế và khả năng tiếp thu thực tế còn nhiều bỡ ngỡ Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức nhưng chắc chắn bài tiểu luận khó có thể tránh khỏi những thiếu sót và nhiều chỗ còn chưa chính xác, kính mong cô xem xét và góp ý để bài tiểu luận của nhóm em được hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
1 NN: Nông nghiệp
2 BVTV: Bảo vệ thực vật
3 PBHH: Phân bón hóa học
Trang 4MỤC LỤC
I ĐẶT VẤN ĐỀ: 5
II Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI: 5
III NỘI DUNG 6
1 Giới thiệu chung 6
2 Hiện trạng 6
2.1 Trồng trọt 6
2.2 Chăn nuôi 8
2.3 Thủy hải sản 9
3 Tác động 10
4 Giải pháp 12
IV KẾT LUẬN 13
PHỤ LỤC 15
Tài liệu tham khảo 18
Trang 5I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ngành nông nghiệp (NN) là một trong những ngành đóng góp quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam Nó chiếm khoảng 20% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam (GDP) trong giai đoạn giữa năm 2010 và năm 2015 NN ở Việt Nam bao gồm các hệ thống trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản Trong số này, hệ thống trồng trọt đóng một vai trò quan trọng trong an ninh lương thực quốc gia, giảm nghèo và các cơ hội tạo sinh kế cho người dân địa phương cũng như cho kim ngạch xuất khẩu Và trong những năm gần đây, ngành nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, việc phát triển vượt bậc từ trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy hải sản …làm môi trường nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các sản phẩm hóa học NN không chỉ là một nguồn gây ô nhiễm, nó còn góp phần vào sự lây lan và đưa các chất ô nhiễm như vậy vào môi trường nước thông qua nước thải Những rủi ro tiềm ẩn đối với sức khỏe con người
do tiếp xúc với các chất ô nhiễm thông qua các sản phẩm NN bị ô nhiễm cần được chú ý
Vì vậy, việc tìm ra các hiện trạng, nguyên nhân và đặt ra các chính sách, biện pháp để bảo
vệ nguồn nước từ các hoạt động NN là vô cùng quan trọng và cấp bách
II Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI:
NN Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong 20 năm qua Hoạt động mạnh mẽ của ngành đã giúp Việt Nam trở thành một trong 5 nhà xuất khẩu hàng đầu của khoảng 6 mặt hàng NN, góp phần giảm nghèo, ổn định xã hội và cải thiện đáng kể an ninh lương thực Tuy nhiên, hiện nay, NN Việt Nam đang hướng tới những hạn chế do xu hướng sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) và phân bón hóa học (PBHH) ngày càng nhiều gây nhiễm độc nguồn nước mặt và nước ngầm Đặc biệt, tại các khu vực nông thôn, người dân dùng nguồn nước sông ngòi, nước ngầm làm nước sinh hoạt, các chất độc theo chuỗi thức ăn gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và ô nhiễm môi trường trên toàn bộ quy mô canh tác Nhiều cuộc giám sát về chất lượng nước mặt của các cơ quan chức năng cho thấy có nhiều thông số nguy hại vượt quy chuẩn quốc gia về môi trường Tình trạng ô nhiễm nguồn nước có tác động rất lớn tới cuộc sống của người dân, về cảnh quan môi trường, về nguồn nước sinh hoạt, và nhất là ảnh hưởng tới cây trồng, nuôi trồng thủy sản
Trang 6Ô nhiễm nước từ hoạt động sản xuất NN không bền vững đặt ra một mối đe dọa nghiêm trọng đối với sức khỏe con người và hệ sinh thái Song song với chính quyền thì mỗi người dân đều phải tự ý thức bảo vệ môi trường nước Đặc biệt, ở nông thôn, các hoạt động NN cần phải được cân nhắc và xử lý các chất thải hợp lí để không ảnh hưởng đến môi trường sống nói chung và nguồn nước nói riêng
III NỘI DUNG
1 Giới thiệu chung
Việt Nam là một nước NN với khoảng 70% số dân sống ở vùng nông thôn Sản xuất nông nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế- xã hội nước ta NN, chiếm 70% trừu tượng hóa nước trên toàn thế giới, đóng một vai trò chính trong ô nhiễm nước
Ô nhiễm nước là một thách thức toàn cầu đã gia tăng ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển, làm suy yếu tăng trưởng kinh tế cũng như vật chất và sức khỏe môi trường của hàng tỷ người Các chất gây ô nhiễm NN là mối quan ngại lớn nhất đối với sức khỏe con người, là nguồn bệnh từ chăn nuôi, thuốc trừ sâu, ni-tơ trong nước ngầm, các nguyên tố kim loại và các chất gây ô nhiễm mới nổi, bao gồm kháng sinh và gien kháng kháng sinh được bài tiết bởi gia súc Ô nhiễm nước từ NN là một thách thức phức tạp và quản lý hiệu quả đòi hỏi một loạt các phản ứng Cách hiệu quả nhất để giảm thiểu áp lực đối với các hệ sinh thái thủy sinh và các hệ sinh thái nông thôn là hạn chế phát tán các chất gây ô nhiễm tại nguồn hoặc chặn chúng trước khi chúng đến các hệ sinh thái dễ bị tổn thương.[1]
2 Hiện trạng
NN, chiếm 70% lượng nước tuần hoàn trên toàn thế giới, là một yếu tố lớn gây ô nhiễm môi trường nước Ô nhiễm NN, trầm trọng hơn bởi sự gia tăng lưu lượng trầm tích
và mặn nước ngầm, cũng đang trở thành một vấn đề Áp lực NN đối với chất lượng nước đến từ hệ thống trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, tất cả đã mở rộng và tăng cường để đáp ứng nhu cầu thực phẩm ngày càng tăng liên quan đến tăng trưởng dân số và thay đổi mô hình chế độ ăn uống
2.1 Trồng trọt
Trang 7Sự tăng trưởng toàn cầu của sản xuất cây trồng đã đạt được chủ yếu thông qua việc sử dụng chuyên sâu các đầu vào như thuốc trừ sâu và PBHH Ngành NN mỗi năm tiêu thụ
70000 kg và 40000 lít thuốc trừ sâu và PBHH Hệ số sử dụng phân đạm khoảng 60%; trong đó từ 15- 20% bị huỷ ra khỏi đất dưới dạng khí, 20- 25% được chuyển vào chất hữu
cơ trong đất; 20- 25% bị rửa trôi ra sông suối dưới dạng NO3 Còn lượng phôtpho bị rửa trôi khỏi đất và đi vào hệ thống sông suối dưới dạng đất bị sói mòn trung bình khoảng 6 -15kg phôtpho (dạng P205) trên 1ha đất canh tác Thuốc BVTV là một trong các tác nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường Theo nghiên cứu, khi phun thuốc BVTV để trừ dịch hại ngoài đồng ruộng thì chỉ có 5- 7% lượng thuốc tham gia trực tiếp vào quá trình tiêu diệt dịch hại, còn 93 - 95% bị rửa trôi vào nguồn nước, thẩm thấu vào đất canh tác gây ô nhiễm nguồn nước ngầm [2] Ngày nay, thị trường thuốc trừ sâu toàn cầu có giá trị hơn 35
tỷ USD mỗi năm Một số quốc gia như Argentina, Malaysia, Nam Phi và Pakistan đã tăng trưởng hai con số về mức độ sử dụng thuốc trừ sâu
Những loại chất thải NN xuất hiện ngày càng nhiều tại các vùng nông thôn trong khi khả năng đầu tư cho xử lý, giảm thiểu ô nhiễm rất hạn chế Những loại rác thải NN này không được phân loại mà vứt bừa bãi ra môi trường Canh tác NN tại một số địa phương còn lạc hậu, việc sử dụng phân động vật tươi hoặc ủ chưa đảm bảo còn phổ biến, gây nhiễm bẩn nguồn nước bởi những thành phần hóa học trong chất thải động vật
Lượng rác thải tồn đọng tại kênh, mương khá lớn và phổ biến, dẫn đến ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân cũng như gia tăng gánh nặng bệnh tật, với tỷ lệ là 15% bao bì (tương đương 19000 tấn bao bì) thải ra môi trường
Hiện nay trong sản xuất NN việc sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, PBHH không
có nguồn gốc xuất xứ, không được sự cho phép của các cơ quan khuyến nông đã và đang
là mối nguy hại với môi trường nước Đặc biệt, hiệu suất sử dụng phân bón ở nước ta chỉ rơi vào khoảng 40- 45%, phần còn lại ngoài bốc hơi, sẽ bị rửa trôi vào nguồn nước mặt,
và một phần ngấm sâu xuống tầng nước ngầm, gây ra tình trạng ô nhiễm trầm trọng Các chất độc hại có trong thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, PBHH một phần được ngấm xuống đất
Trang 8ảnh hưởng đến các tầng nước ngầm phía dưới, một phần theo dòng chảy qua hệ kênh mương nội đồng xả ra hệ thống sông, suối làm ô nhiễm nguồn nước
Tưới tiêu là một yếu tố chính trong tăng cường NN Tuy nhiên, tưới tiêu và thoát nước thường có liên quan đến việc mất chất lượng nước do muối, thuốc trừ sâu và phân bón chảy ra và lọc
2.2 Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi tại Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong NN Nó chiếm 28% giá trị sản xuất NN và là một trong những phân ngành NN tăng trưởng nhanh nhất nhưng cũng là một trong ba ngành đóng góp hàng đầu cho các vấn đề môi trường nghiêm trọng nhất, bao gồm suy thoái chất lượng nước, ở mọi quy mô từ địa phương đến toàn cầu Ngành chăn nuôi đang phát triển và tăng cường nhanh hơn sản lượng cây trồng ở hầu hết các quốc gia Chất thải liên quan, bao gồm phân, có ý nghĩa nghiêm trọng đối với chất lượng nước
Tổng số gia súc đã tăng từ 7,3 tỷ vào (năm 1970) lên 24,2 tỷ (trong năm 2011) Sản lượng chăn nuôi hiện chiếm 70% tổng diện tích đất nông nghiệp và 30% bề mặt đất của hành tinh Ước tính 80 triệu tấn chất thải gia súc phát sinh mỗi năm là các chất dinh dưỡng, chất gây bệnh và các hợp chất dễ bay hơi làm ảnh hưởng đến chất lượng nước.[2] Một lớp chất gây ô nhiễm NN mới đã xuất hiện dưới dạng thuốc thú y (kháng sinh, vắc-xin và chất thúc đẩy tăng trưởng [hormone]), di chuyển từ các trang trại qua nước sang hệ sinh thái và nguồn nước uống
Hệ thống xử lý nước thải chăn nuôi trước khi thải ra nguồn tiếp nhận còn chưa được kiểm soát chặt chẽ Các trang trại thải ra một lượng lớn hóa chất NN, chất hữu cơ, dư lượng thuốc, trầm tích và thoát nước mặn vào các vùng nước Việt Nam tạo ra khoảng 80 triệu tấn chất thải động vật mỗi năm Khoảng 80% số phân được tạo ra bởi các cơ sở chăn nuôi các nông hộ nhỏ và số còn lại là từ những cơ sở trang trại chăn nuôi hộ gia đình chiếm phần lớn nhất trong chăn nuôi trâu (98,8%), đồng thời cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong chăn nuôi bò (89,4%), lợn (75%), và gia cầm (71,8%) Trong đó chỉ có 30– 60% chất thải được xử lý, lượng còn lại xả thẳng ra môi trường Trong chăn nuôi lợn, khoảng 70- 90% lượng nitơ, khoáng chất (phốt pho, kali, magiê và các loại khác), và các kim loại
Trang 9nặng chứa trong thức ăn được cho là thải ra môi trường Mức ô nhiễm nước bẩn do coliform do các trang trại chăn nuôi nhỏ cao gấp 278 lần so với mức cho phép, trong khi chăn nuôi thương phẩm cao gấp 630 lần so với mức cho phép Nồng độ ammoniac trong khí thải từ các trang trại lợn ở khu vực phía Bắc đã cao hơn mức độ cho phép từ 7 đến 18 lần, và hydro sulfide cao gấp 5 đến 50 lần.[2]
2.3 Thủy hải sản
Nuôi trồng thủy sản đã tăng hơn 20 lần kể từ những năm 1980, đặc biệt ở châu Á Tổng sản lượng thuỷ sản toàn cầu đạt 167 triệu tấn vào năm 2014 Các trang trại nuôi cá tra được ước tính đã tạo ra hơn 10 tỷ mét khối nước thải có 51.336 tấn nitơ và 16.070 tấn phốt pho Phần lớn các chất gây ô nhiễm này được thải ra các kênh rạch địa phương và cuối cùng đến hệ thống sông Mekong đồng bằng sông Mekong, mà không qua xử lý trước, mặc dù hầu hết các hộ gia đình ở nông thôn đều phụ thuộc vào nước mặt để sử dụng làm nước sinh hoạt và các mục đích sử dụng khác Ước lượng lượng nước thải liên quan đến nuôi tôm nhỏ hơn Sản xuất tôm thâm canh đã tạo ra khoảng 4,4 tỷ mét khối nước thải, chứa 25.344 tấn nitơ và 6.336 tấn phốt pho Ước tính 75% số lượng này được thải vào các con sông địa phương ở vùng duyên hải đồng bằng sông Cửu Long [2]
Thức ăn cho cá và thức ăn thừa từ nuôi thủy sản nuôi đã làm giảm chất lượng nước cùng với dư chất kháng sinh, thuốc diệt nấm và chất tẩy rửa, làm sạch đã góp phần gây ô nhiễm hệ sinh thái hạ lưu ngày càng nghiêm trọng hơn Cá bài tiết và thức ăn chưa ăn từ nuôi trồng thủy sản làm giảm chất lượng nước Tăng sản xuất đã kết hợp với việc sử dụng nhiều hơn thuốc kháng khuẩn, thuốc diệt nấm và các tác nhân chống bẩn, từ đó có thể góp phần gây ô nhiễm hệ sinh thái hạ lưu
Các chất Nito xuất phát từ sản xuất NN hiện nay là chất gây ô nhiễm hóa học phổ biến nhất trong các tầng nước ngầm Các hệ sinh thái thủy sản bị ảnh hưởng đáng kể bởi ô nhiễm NN, quá dưỡng do tích tụ chất dinh dưỡng trong hồ và các vùng nước ven biển ảnh hưởng đến đa dạng sinh học và nghề thủy sản
Hiện nay, các khu vực nuôi trồng thủy sản chủ yếu có quy mô nhỏ lẻ, tự phát và chưa
có biện pháp xử lý nước thải trong trường hợp xảy ra sự cố nhiễm độc nguồn nước, sự cố
Trang 10cá chết, nước thải sau khi thay thế được thải trực tiếp ra ngoài môi trường gây ô nhiễm nguồn tiếp nhận, đặc biệt là phát tán nguồn bệnh trong khu vực
Bùn thải trong quá trình nuôi trồng thủy sản chứa các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa
bị phân hủy, các hóa chất và thuốc kháng sinh, các loại khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đất phèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42- Lớp bùn này trong tình trạng ngập nước yếm khí tạo thành các sản phẩm phân hủy độc hại như
H2S, NH3, CH4, Mecaptan…thải ra trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi, ảnh hưởng đến chất lượng nước Nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các chất tồn dư của vật
tư sử dụng như hóa chất, vôi, khoáng chất, lưu huỳnh lắng đọng dẫn đến ô nhiễm môi trường nước Các loài cá ăn thịt có giá trị cao trong nuôi trồng thủy sản và chúng đòi hỏi đầu vào lớn của bột cá và thức ăn viên khác Nhiều loại nuôi trồng thủy sản không cho ăn (ví dụ: nuôi trai) có thể lọc và làm sạch nước, nhưng các loại khác (ví dụ: nuôi cua lồng thâm canh) có thể phá vỡ chu kỳ dinh dưỡng tự nhiên và dẫn đến suy thoái chất lượng nước
3 Tác động
Nhiều nghiên cứu cho thấy, nguồn nước tại nhiều địa phương bị ô nhiễm trầm trọng
và nhận thức của người dân về bảo vệ nguồn nước còn hạn chế Trong số 5 nhóm bệnh có liên quan đến nước (bệnh lây lan qua nước ăn uống, nhóm bệnh do thiếu nước trong tắm giặt, nhóm bệnh do muỗi truyền, nhóm bệnh do vi yếu tố, hóa chất độc hại trong nước và nhóm bệnh do tiếp xúc với nước) thì ô nhiễm nguồn nước đóng vai trò quan trọng trong việc lây lan các bệnh truyền nhiễm và gây ra các bệnh không truyền nhiễm
Tác động xấu tới sức khỏe con người: Ảnh hưởng của ô nhiễm nguồn nước đối với sức khỏe con người có thể thông qua hai con đường: một là do ăn uống phải nước bị ô nhiễm hay các loại rau quả và thủy hải sản được nuôi trồng trong nước bị ô nhiễm; hai là
do tiếp xúc với môi trường nước bị ô nhiễm trong quá trình sinh hoạt và lao động Theo thống kê của Bộ Y tế, gần một nửa trong số 26 loại bệnh truyền nhiễm có nguyên nhân liên quan tới nguồn nước bị ô nhiễm Điển hình nhất là bệnh tiêu chảy cấp Ngoài ra, có nhiều bệnh khác như tả, thương hàn, các bệnh về đường tiêu hoá, viêm gan A, viêm não,