Song khi ta nhìn nhận lại một cách khách quan và toàn diện, nhìn vào khả năng,những gì đã đạt được, đang làm được và sẽ làm được của chủ nghĩa Mác-Lênin thì takhông thể phủ nhận được sự
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
====o0o====
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
QUAN ĐIỂM CỦA TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG NGUỒN LỰC CON NGƯỜI TRONG
SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ
Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Sinh viên thực hiện: Tô Huyền My
Mã sinh viên: 2014330023
Lớp tín chỉ: TRI114.12
Số thứ tự: 45 Giảng viên hướng dẫn: TS Đào Thị Trang
Hà Nội - Tháng 3 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… 1
NỘI DUNG……… ….2
I LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN VỀ CON NGƯỜI………… 2
1.1 Bản chất của con người……….……….2
1.1.1 Các quan điểm về con người của các nhà Triết học trước Mac……….2
1.1.1.1 Quan niệm con người trong Triết học phương Đông………2
1.1.1.2 Quan niệm con người trong Triết học phương Tây……… 2
1.1.2 Bản chất của con người trong tự nhiên và xã hội……….4
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người……… ….4
1.2.1 Quan điểm của Mác về con người……….…… 5
1.2.2 Vai trò của chủ nghĩa Mác trong xã hội nước ta hiện nay……… 7
II VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG CNH-HĐH Ở NƯỚC TA HIỆN NAY… 9
2.1 Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hoá, hiện đại hoá……….…9
2.1.1 Hoàn cảnh……….9
2.1.2 Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp CNH-HĐH, sự quan trọng của phát triển con người……….9
2.2 Mục tiêu con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá……… ……11
2.3 Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề nguồn lực con người ở nước ta hiện nay……….12
2.3.1 Thực trạng ………13
2.3.1.1 Ưu điểm của nguồn lực con người ở Việt Nam……… ……13
2.3.1.2 Hạn chế của nguồn lực con người ở Việt Nam……… …13
2.3.2 Nguyên nhân……….…14
2.3.3 Giải pháp……… 14
TỔNG KẾT……….…………15
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 16
Trang 3Song khi ta nhìn nhận lại một cách khách quan và toàn diện, nhìn vào khả năng,những gì đã đạt được, đang làm được và sẽ làm được của chủ nghĩa Mác-Lênin thì takhông thể phủ nhận được sự nổi trội và triển vọng của nó trong sự nghiệp phát triển conngười trong quá trình CNH-HĐH ở nước ta hiện nay.
Phát triển con người toàn diện chính là động lực và cũng là mục tiêu nhân đạo của
sự nghiệp CNH- HĐH mà nước ta đang tiến hành Ta không thể phủ nhận vai trò quantrọng của nguồn lao động nước ta trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội cũng như sựphát triển nền kinh tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, theo cơ chế thị
trường Nghị quyết ĐH Đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đã khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Thực tế đã chứng
tỏ rằng nếu không có nguồn nhân lực chất lượng cao thì nên kinh tế của chúng ta chưathế thoát ra khỏi sự nghèo nàn và lạc hậu Để thực hiện được điều đó thì không thểkhông xây dựng một tầm nhìn chiến lược về con người, nâng cao chất lượng của ngườilao động, trong đó, tư tưởng Mác-Lênin chính là nền tảng xây dựng nên tầm nhìn chiếnlược đó
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, em đã chọn đề tài tiểu luận:
“Quan điểm của triết học Mác – Lênin về con người và vấn đề xây dựng nguồn lực con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay".
Với đề tài này, kết cấu của tiểu luận sẽ chia ra các mục như sau:
Mục I: Lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về con người
Mục II: Vấn đề con người trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay
Trang 4NỘI DUNG
1 1 Bản chất của con người
1.1.1 Các quan điểm về con người của các nhà Triết học trước Mác
1.1.1.1 Quan niệm con người trong triết học Phương Đông
Từ xưa đến nay, trong những vấn đề được bàn cãi nhất trong giới triết học nóiriêng và trong nghiên cứu khoa học nói chung thì vấn đề con người luôn được đưa lênhàng đầu Không những thế, đề tài con người được các nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý Ngay từ thời cổ đại, triết học Phương Đông (Trung Quốc, Ấn Độ) cho rằng:”Con người được xem như là một vũ trụ thu nhỏ” Các mối quan hệ giữa con người vớithế giới, con người với con người, con người với chính bản thân mình đều đã được đềcập và giải luận khá sâu sắc Nó trở thành triết lí ứng xử và là nét bản sắc của conngười phương Đông
Trong nền triết học Trung Hoa cổ đại, vấn đề bản tính con người được ưu tiênhàng đầu Giải quyết vấn đề này, các nhà tư tưởng của Nho gia và Pháp gia đã tiếp cận
từ giác độ hoạt động thực tiễn chính trị, đạo đức của xã hội và đi đến kết luận bản tínhcủa con người là Thiện (Nho gia) và Bất Thiện (Pháp gia) Các nhà tư tưởng của Đạogia lại tiếp cận theo giác độ khác và đi tới kết luận bản tính tự nhiên của con người.Triết học Ấn Độ, tiêu biểu là trường phái Đạo Phật lại tiếp cận ở giác độ suy tư
về con người và đời người ở tầm chiều sâu triết lí siêu hình Kết luạn về bản tính vôngã, vô thường và tính hướng thiện con người trên con đường truy tìm sự giác ngộ làmột trong những kết luận độc đáo của triết học Đạo phật
1.1.1.2 Quan niệm con người trong Triết học phương Tây
Các triết gia tiêu biểu cho nền triết học Hy Lạp cổ đại đã đưa ra những kiến giải
có giá trị về con người Protago (481-411 TCN) nói: “Người ta là thước đo của mọivật” Nhà tư tưởng vĩ đại Arixtôt (382-322 TCN) phân biệt con người khác với con vật
ở chỗ con người là “động vật chính trị”
Thời kì Trung cổ (từ thế kỉ V đến thế kỉ XIV) con người với những tư tưởngkhoa hoc bị kìm hãm Thời đại này, triết học chit là đầy tớ của thần học
Trang 5Thời Phục hưng (thế kỉ XV – XVI) đã làm sống lại những giá trị, tư tưởng tíchcực về con người Triết học thời kì này đã đề cập đến con người với tư cách là cá nhân,
có trí tuệ và phẩm chất, quan hệ giữa con người với thế giới trở thành trung tâm củatriết học Tuy nhiên thời kì này đề cập đến vấn đề con người chủ yếu từ phương diện
cá thể
Những tư tưởng về con người tiếp tục phát triển và bừng sáng trong Triết họcTây Âu cận đại (thế kỉ XVI – XVIII) Sức mạnh trí tuệ con người được các nhà triếthọc đề cao R Đêcactơ đã nêu lên mệnh đề nổi tiếng:” Tôi tư duy, vậy tôi tồn tại” làđiểm xuất phát cho hệ thống triết học của mình
Nhìn chung những quan điểm duy vật về con người trong thời kì này trởthành cơ sở, nền tảng cho các nhà khoa học nghiên cứu sau này
Triết học cổ điển Đức (thế kỉ XVIII – XIX) là đỉnh cao của triết học Tây Âu cậnđại Đến thế kỉ XV – XVIII thì những quan điểm triết học về con người trên cơ sở tựnhiên đã bắt đầu phát triển và chiếm ưu thế Tuy nhiên những nhà triết học cổ điểnĐức đã xây dựng quan điểm triết học về con người theo hướng của chủ nghĩa duy tâm.Trong đó Hegel quan niệm con người là hiện thân của ý niệm tuyệt đối là con người ýthức và do đó đời sống con người chỉ được xem xét về mặt tinh thần Tuy nhiên ôngcũng chính là người đầu tiên thông qua việc xem xét cơ chế hoạt động của đời sốngtinh thần mà phát hiện ra quy luật về sự phát triển của đời sống tinh thần và cá nhân
Đến thời Feuerbach thì ông lại phê phán tính siêu tự nhiên, phi thể xác trong quanđiểm của Hegel Theo quan điểm của Feuerbach, con người chính là một sản phẩm của tựnhiên và có bản năng tự nhiên, ông đã dùng những thành tựu của khoa học để chứng minhmối liên hệ của tư duy với những quá trình vật chất diễn ra trong cơ thể con người Tuynhiên sai lầm của Feuerbach là khi ông giải thích con người trong mối liên hệ cộng đồng thìFeuerbach lại rơi vào lập trường của chủ nghĩa duy tâm
Nói chung, từ Carter đến Feuerbach đã có một bước tiến dài trong việc tìm rabản chất của con người Tuy nhiên trong lí luận của họ còn rất nhiều hạn chế, nhữngquan điểm về con người còn chưa đầy đủ và chặt chẽ, mang xu hướng duy tâm cánhân khá nhiều Sau này, chủ nghĩa Mac đã kế thừa và khắc phục những hạn chế đó,xây dựng một hệ thống quan niệm đầy đủ nhất về bản chất con người, vai trò của của
Trang 6con người trong xã hội.
1.1.2 Bản chất của con người trong tự nhiên và xã hội
Theo khoa học hiện nay đã chứng tỏ rằng con người là một sản phẩm của tựnhiên theo quá trình tiến hóa mà phát triển như ngày nay Tuy con người đã vượt xa
so với những loài sinh vật còn lại nhưng con người vẫn không thể lột bỏ hết đượcnhững cái tự nhiên để tách biệt hoàn toàn với tổ tiên, với những loài sinh vật khác.Trong con người vẫn tồn tại những thú tính hoang dại của tổ tiên mình, đó thuộc vềbản năng của con người, những bản năng gốc mà chính nhờ nó con người đã sống vàphát triển đến ngày hôm nay
Điềm giống nhau và cũng là điểm khác nhau giữa con người với những sinhvật khác chính là sự phát triển về nhận thức và ý thức của con người Lao động làphương thức tồn tại của con người Con người tồn tại được chỉ khi tiến hành lao độngsản xuất của cải vật chất để phục vụ cho chính cuộc sống của mình Cũng chính nhờlao động mà con người hình thành được ý thức Mặt khác, trong các mối quan hệ xãhội thì quan hệ trong sản xuất lao động xuất hiện đầu tiên và trở thành quan hệ nềntảng cho sự xuất hiện của các mối quan hệ xã hội khác trong các lĩnh vực đời sống vàtinh thần của con người
Con người là sản phẩm của tự nhiên, con người sản xuất ra của cải vật chất, tácđộng vào tự nhiên để làm thay đổi tự nhiên, do đó con người chính là chủ thể cải tạo
tự nhiên Tuy nhiên con người lại sống phụ thuộc vào thiên nhiên Do đó con ngườiđược tự nhiên sinh ra, vừa bị phụ thuộc và vừa tác động vào thiên nhiên Bằng hoạtđộng lao động sản xuất, con người sáng tạo ra toàn bộ nền văn hóa vật chất, tinh thần.Đặc biệt trong hoạt động kinh tế (một phương thức của sản xuất), vai trò của conngười đóng góp quan trọng nhất Do đó, để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh, đẩymạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì hiểu rõ bản chất con người, xâydựng một nguồn lực vững mạnh là một yêu cầu thiết yếu
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác về con người
1.2.1 Quan điểm của Mác về con người
Như ta đã biết, các nhà Triết học cổ đại đều thần thánh hóa hình tượng con người,các nhà Triết học cổ điển Đức thì đã có bước tiến xa hơn đó là đã định nghĩa được con
Trang 7người là sản phẩm của tự nhiên Tuy nhiên các triết gia đã rơi vào lập trường chủ nghĩaduy tâm trong khi phân tích bản chất của con người trong các mối quan hệ xã hội Mác đãkhắc phục những điểm yếu trong lí luận của các nhà Triết học cổ điển Đức để xây dựngmột cách hoàn thiện nhất khái niệm và bản chất của con người.
Theo Mác, bản chất con người gồm có 2 phần, đây cũng chính là 2 giác độ đểMác phân tích bản chất của con người
Thứ nhất : Phần sinh học
Đây là phần cấu tạo cơ thể và cơ thế sinh hoạt Con người là kết quả tiến hóa vàphát triển lâu dài của tự nhiên Điều này không thể phủ nhận bởi sự phát triển của chủnghĩa duy vật và khoa học tự nhiên đã chứng minh điều đó Với học thuyết tiến hóa củaDarwin đã chứng minh được rằng mọi loài sinh vật đều có nguồn gốc chung và đều làsản phẩm của tự nhiên Điều này đã bác bỏ mọi lí luận rằng con người là sản phẩm củaThượng Đế tạo ra Cũng như có ý kiến cho rằng con người, trái đất là trung tâm của Vũtrụ, con người được thần thánh hóa như thần linh Thực tế khoa hoc đã kiểm nghiệmrằng Trái đất cũng chỉ là một phần cực kì nhỏ bé của Vũ trụ, và may mắn có được sựsống Cũng như loài người chỉ là một trong vô số loài sinh vật đã từng tồn tại trên trái đất
và cũng may mắn khi tồn tại và phát triển đến như ngày nay
Thứ hai: Phần ý thức
Con người là một bộ phận của giới tự nhiên và đồng thời giới tự nhiên cũng là
“thân thể vô cơ của con người” Do đó những biến đổi của tự nhiên và các tác độngcủa quy luật tự nhiên trực tiếp hay gián tiếp đến sự tồn tại của con người và xã hội loàingười Điều đó tương tự như sự trao đổi vật chất giữa sinh vật và môi trường Ở đây là
sự vất chất của con người với môi trường Khi môi trường tác động đến con người thìđồng thời con người cũng tác động ngược lại môi trường, làm biến đổi thiên nhiênhình thành mối quan hệ hai chiều Đây chính là mối quan hệ biện chứng giữa sự tồntại của con người, loài người và các tồn tại khác của giới tự nhiên
Một điểm khác biệt rõ ràng giữa con người với các loài sinh vật khác chính làbản năng của con người, nó không còn hoang dại, mang tính tự nhiên mà đã pháttriển lên mức cao hơn và được xã hội hóa Con người có thể làm ra công cụ lao động.Tuy nhiên, con người không chỉ biết làm ra công cụ lao động mà còn biết cải tạo tự
Trang 8nhiên, biến đổi thiên nhiên theo mục đích của mình Trong những luận điểm về conngười của chủ nghĩa Mác về con người thì luận điểm xem con người là sinh vật biếtchế tạo ra công cụ sản xuất được xem là luận điểm tiêu biểu, điển hình cho sự khácbiệt của con người và các loài sinh vật khác.
Về mặt xã hội, mỗi người là một phần tử của xã hội, tập hợp con người vớinhau ta được một tập gọi là xã hội trong đó các cá nhân liên hệ với nhau bằng cácmối quan hệ đặc biệt Đó gọi là quan hệ xã hội Từ quan hệ xã hội sẽ nảy sinh nhữngmối quan hệ khác
Con người không chỉ là chủ thể của hoạt động sản xuất vật chất, là yếu tố hàngđầu quyết định trong lực lượng sản xuất, mà còn đóng vai trò là chủ thể hoạt độngcủa quá trình lịch sử Chính việc thông qua hoạt động sản xuất mà con người sáng tạo
ra lịch sử của mình Dựa vào đó Mác khẳng định sự phát triển của lực lượng sản xuất
có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển phong phú bản chất con người Do đó, ta cóthể nhận định rằng mục tiêu cao cả của sự phát triển xã hội là phát triển con ngườitoàn diện , nâng cao nặng lực và phẩm giá của con người Trong đó bước quan trọngnhất là giải phóng con người về mặt xã hội
Theo quan điểm của Mác thì định hướng phát triển xã hội lấy sự phát triển củacon người làm thước đo chung càng được khẳng định trong bối cảnh lịch sử của conngười Hiện nay chúng ta đang sống trong một thế giới đầy biến động Xã hội loàingười phát triển một cách đa dạng, do đó ta có thể thấy được sự không đồng đềutrong sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước khác nhau Sự không đồng đều này tạonên một bức tranh đa sắc màu về bối cảnh của thế giới Tuy nhiên, cho dù có pháttriển theo kiểu gì thì định hướng phát triển đó đều hướng tới mục đích chung là pháttriển con người lên một mức cao hơn như Mác đề cập
Nghiên cứu về con người, Mác lấy đối tượng nghiên cứu chủ yếu là con người
vô sản Điều đó có thể dễ hiểu là do Giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất có thể đápứng đẩy đủ những quy luật của cuộc sống và phục tùng được lòng dân Theo Mác,con người vô sản là người sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội tuy nhiên họ lại làgiai cấp bị bóc lột trong xã hội Một luận điểm nữa của Mác cho rằng, người vô sản
là những người tiêu biểu cho phương thức sản xuất xã hội mới, đó là những người có
Trang 9khả năng giải phóng xã hội, xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn Trong xã hội đócon người làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu Tuy nhiên điều này khó cỏ thểxẩy ra và có cảm giác phi lí Điều đó không xảy ra ở các nước tư bản chủ nghĩa hay
đa số các nước xã hội chủ nghĩa mà chỉ xảy ra ở các nước xã hội chủ nghĩa tiêu biểunhư Liên Xô Như ta đã biết, Liên Xô đã tan rã cách đây gần 3 thập kỉ và đến nay tưtưởng đó của Mác cũng gần như không thể thực hiện Lí do đưa ra là đa phần xã hộihiện nay không thể tồn tại những con người chỉ biết “làm theo năng lực, hưởng theonhu cầu”
1.2.2 Vai trò của chủ nghĩa Mác trong xã hội nước ta hiện nay
Nước ta là nước đang phát triển Do đó, Đảng và Nhà nước đã rất quan tâmđến vấn đề con người trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước Muốn xây dựng một đấtnước phát triển về nhiều mặt, trong đó đặc biệt là lĩnh vực kinh tế, ta cần phải đào tạocon người một cách có chiều sâu lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm cơ sở Đặc biệt trongkhi nền nước ta đang đối mặt với nhiều thách thức thì việc xây dựng một đội ngũnhân lực giỏi là một điều vô cùng cần thiết Hơn bất cứ một lĩnh vực nào khác, lĩnhvực phát triển con người là mục tiêu cao cả nhất của toàn dân, đưa chúng đến mộtthời kì mới, mở ra nhiều khả năng tìm ra những con đường tối ưu để phát triển đấtnước Người lao động nước ta ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong sự pháttriển của kinh tế đất nước theo cơ chế thị trường Với khả năng của tư tưởng Mác-Lênin chúng ta hoàn toàn tin tưởng vào con đường phát triển con người để phát triểnđất nước của Đảng và nhà nước đề ra Thực tế đã chứng minh tư tưởng Mác – Lênin
đã vạch ra nhiều con đường đúng đắn trong lịch sử cho đất nước ta Đó là cách mạngtháng Tám năm 1945, chiến thắng 30/04/1975 giải phóng đất nước Đó là điều màbao nhiêu học thuyết trước Mác không thể làm được Chủ nghĩa Mác-Lênin sau nàyđược chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo vào hoàn cảnhcủa đất nước và được biết với cái tên tư tưởng Hồ Chí Minh Hệ thống tư tưởng Mác-Lênin đã trở thành hệ thống tư tưởng chính thống của toàn xã hội , làm thay đổinhanh chóng đời sống tinh thần đại đa số nhân dân Việt Nam Bằng hệ thống giáodục với các hình thức đào tạo đa dạng, với các hình thức khoa học thấm nhuần tinhthần chủ nghĩa cơ bản của chủ nghĩa Mac Lênin đã hình thành những lớp người lao
Trang 10động mới ngày càng có tư tưởng, trình độ chuyên môn ngày càng cao Ngày naychúng ta đã có một đội ngũ cán bộ văn hóa, khoa học công nghệ với trình độ lý luận
và quản lí tốt đồng đều trong cả nước
Chỉ trong một thời gian ngắn tư tưởng Mác-Lênin đã thể hiện xu hướng củamình đối với nền văn hóa dân tộc, xóa bỏ dần sự thống trị của các tư tưởng tự phát lạchậu ở nước ta Với sức mạnh hùng hồn cùng những dẫn chứng khoa học có cơ sở, họcthuyết Mác-Lênin đã vạch rõ được những yếu tố phi khoa học, phi nhân đạo của các
tư tưởng nhân đạo Hơn thế, chủ nghĩa Mác-Lênin còn thể hiện tính ưu việt so với các
tư tưởng tư sản đang dần dần làm lệch hướng đi của người trong điều kiện đời sốngvật chất khó khăn Với một nước còn nhiều khó khăn, trong hoàn cảnh những tư tưởnglạc hậu, những tàn dư của các xã hội cũ để lại vẫn bám đuổi, che lấp con đường đi củađất nước thì Chủ nghĩa Mác-Lênin là ngọn đèn soi sáng cho con đường của đất nước
và cũng là người dẫn đường cho đảng và chính phủ cũng như toàn thể nhân dân ViệtNam Tuy nhiên một đất nước đã có truyền thống lâu đời như Việt Nam thì khôngphải ai cũng hiểu và thấm nhuần tư tưởng Mac-Lênin
Tóm lại, trong sự phát triển của đất nước, tiến trình CNH-HĐH cần yếu tố hàngđầu là phát triển con người, trong đó, chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nền tảng của sựphát triển đó
Trang 11II VẤN ĐỀ CON NGƯỜI TRONG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
2.1.Tính tất yếu khách quan của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1.1 Hoàn cảnh
Đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường được hơn 30 năm, sau khi chế độbao cấp được xóa bỏ Trong khoảng thời gian đó, thực hiện mục tiêu “dân giàu nướcmanh, xã hội công bằng dân chủ văn minh” đất nước ta đã có nhiều khởi sắc về nhiềumặt Trong đó, lĩnh vực kinh tế đã có những bước nhảy tột bậc, tham gia vào nền kinh tếthế giới Tuy nhiên trong những năm gần đây, nền kinh tế thế giới đang có những dấuhiệu khủng hoảng Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến một nền kinh tế con non trẻ ởnước ta Trong khi ở nước ta, sự nghiệp CNH HĐH đang trên đà thực hiện thì việc thúcđẩy quá trình này sẽ nhanh chóng làm cho nền kinh tế của chúng ta ổn định phát triển
2.1.2 Tính tất yếu khách quan của sự nghiệp CNH-HĐH, sự quan
trọng của phát triển con người
Ở các nước khác trên thế giới, CNH-HĐH là xu hướng tất yếu Đây không chỉ là côngcuộc xây dựng kinh tế mà nó còn làm biến đổi sâu sắc tới các lĩnh vực đời sống xã hội Quátrình phát triển kinh tế đều có 3 giai đoạn, đầu tiên là nền kinh tế nông nghiệp, sau đó là nềnkinh tế công nghiệp và cuối cùng là nền kinh tế dịch vụ Nước ta là nước có nền kinh tế nôngnghiệp lâu đời, và quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa xảy ra là điều tất yếu Sự phát triểncủa CNH HĐH yêu cầu nhiều yếu tố như môi trường chính trị ổn định, vốn tài nguyên, cơ sởvật chất Các yếu tố đó đều tham gia vào quá trình CNH-HĐH tuy nhiên với một vai trò khônggiống nhau, trong đó nguồn nhân lực là quan trọng nhất Nguồn nhân lực phải đủ về số lượng
và cả chất lượng Nói cách khác nguồn nhân lực phải là động lực thúc đẩy quá trình CNHHĐH Điều đó được thể hiện ở các lí do sau đây:
Thứ nhất: Ngoại trừ yếu tố con người thì các yếu tố còn lại như vốn, tài nguyên
thiên nhiên, cơ sở vật chất, vị trí địa lí chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng, không thể có tácdụng ngay được Các yếu tố đó chỉ có thể phát huy được tác dụng khi chúng dưới điềukhiển và sử dụng của con người Bởi con người là nguồn lực duy nhất có thể tư duy, cótrí tuệ và ý chí biết khai thác, điều khiển và gắn kết các nguồn lực khác gắn kết chúnglại với nhau, tạo nên một sức mạnh tổng hợp vô cùng to lớn để tác động vào quá trình
Trang 12công nghiệp hóa hiện đại hóa Vì vậy, trong các yếu tố cấu thành nên lực lượng sản xuất
để có thể thúc đẩy quá trình CNH-HĐH thì người lao động chính là yếu tố quan trọngnhất
Thứ hai: Các nguồn lực khác là có hạn và không vĩnh cửu, có thể bị cạn kiệt do
khai thác và do thời gian Tuy nhiên nguồn lực con người lại là vô hạn Ngoài về mặtsinh học con người có khả năng sinh sản thì con người không ngừng phát triển về mặttrí tuệ và không ngừng học hỏi Do đó, con người góp phần cải tạo, nâng cấp nhữngnguồn lực khác Không những thế con người có khả năng sáng tạo vô tận, do đó conngười có thể tìm ra, phát minh ra những yếu tố không có trong tự nhiên Điều đó dễdàng được chứng minh khi chúng ta nhìn vào lịch sử của con người, hệ thống công cụsản xuất của con người ngày càng hiện đại hơn, được hiện đại hóa, tự động hóa chính làminh chứng rõ ràng nhất cho điều đó
Thứ ba : Theo Mác, trí tuệ con người có một sức mạnh vô cùng to lớn khi nó
được vật thể hóa và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp Trong thời đại hiện nay, khikhoa học đang phát triển như vũ bão dẫn đến các nền kinh tế của các nước công nghiệpphát triển vận động theo hướng trí thức Ở các nước này, nguồn lợi thu được từ tri thức(chất xám) có thể chiếm một nửa tổng giá trị tài sản quốc gia, ở các nước đang pháttriển như Việt Nam, nguồn lợi từ chất xám không nhiều mà hầu hết bắt nguồn từ việcsản xuất thủ công Ngày càng có nhiều nhân tài bỏ nước sang các nước phát triển, mất
đi một lượng nhân tài lớn Điều đó được gọi là chảy máu chất xám Ở nước ta, hiệntượng chảy máu chất xám diễn ra không quá nhiều nhưng nó đang âm thầm mang đi rấtnhiều những con người tài giỏi đến những nước khác Do đó, việc nâng cao chất lượngcon người cần đi đôi với việc tránh tình trạng chảy máu chất xám để chúng ta có thể xâydựng một nguồn lực chất lượng nhất, toàn tâm toàn ý phục vụ cho đất nước
Thứ tư: Kinh nghiệm của nhiều nước và thực tiễn đã chứng minh sự nghiệp
CNH HĐH còn phụ thuộc vào kế hoạch đường lối chính sách của của Đảng và Nhànước và phụ thuộc rất nhiều vào ý thức và năng lực nhận thức của mỗi người
2.2 Mục tiêu con người trong Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa
Trong quá trình CNH-HĐH hiện nay ở nước ta hiện nay, chúng ta cần phải đạtđược những mục tiêu sau :
“Xây dựng nước ta thành một nước CN có cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, cơ
Trang 13cấu kinh tế hợp lí, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuấtđời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh giữ vững, dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
CNH HĐH không chỉ là một tiến trình đổi mới, nó còn là một cuộc cách mạng vìcon người và do con người Khi nói đến những lợi ích và ưu việt của chủ nghĩa xã hộimang đến cho nước ta thì đó là kết quả của những nỗ lực vượt bậc và bền bỉ của nhân
dân Điều đó không thể phủ nhận Đảng ta đã nhiều lần khẳng định rằng :” Con người
là vốn quy nhất, chăm lo cho hạn phúc con người là mục tiêu phấn đấu cao nhất của chế độ ta” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói ” Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Qua đó ta có thể thấy được đường lối đúng đắn
của Đảng ta khi đặt mục tiêu lâu dài vào con người trong thực tế trong suốt những nămlãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đảng ta đã cố gắnglàm nhiêu việc theo hướng đó Với tư cách là Đảng cầm quyền, ngay từ đầu nhữngchính sách, đường lối của Đảng đều quán triệt việc chăm sóc và phát huy nhân tố conngười Việc đẩy mạnh công cuộc CNH HĐH đất nước đòi hỏi chúng ra phải nhận thứcmột cách đầy đủ những giá trị và những ý nghĩa quyết định của nhân tố con người Nềncông nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu phát triển con người toàn diện, ta không chỉhiểu con người với tư cách là người lao động sản xuất mà là còn là một công dân trong
xã hội, một cá nhân trong gia đình, tập thể, là một thành viên trong trong cộng đồngdân tộc Đó không chỉ là những con người lao động chân tay bình thường mà còn lànhứng người làm việc bằng trí óc, đó là những những nhà kinh tế, những doanh nhânhay quản lí… Không chỉ thế, đó là còn là lớp người ý thức được cuộc sống, nhận thứcđược thực trạng của đất nước để cùng nhau hợp tác, cùng nhau gắn bó vì sự nghiệpchung của đất nước
Qua đó, ta có thể khẳng định rằng bước sang thời kì CNH-HĐH theo định hướng xãhội chủ nghĩa, theo nền kinh tế thị trường thì chúng ta cần phải lấy việc phát triển con người
là mục tiêu trọng tâm, là yếu tố cơ bản cho việc phát triển nhanh, bền vững của nền kinh tếđồng thời phát triển mọi mặt của xã hội như văn hóa, giáo dục…Nếu CNH-HĐH là vị sựnghiệp phát triển con người thì con người phải được coi là giá trị tối cao
CNH-HĐH ở Việt Nam có thành công hay thất bại phụ thuộc vào nhiều yếu tố,
Trang 14đó, chúng ta phải càng đầu tư hơn nữa trong việc nghiên cứu con người Nghiên cứucon người để phát triển con người, phát triển con người để đáp ứng những sự phát triểnkhác Yếu tố hàng đầu của nguồn lực con người trước hết phải là trí tuệ Nó được biểuhiện ở khả năng áp dụng những thành tựu khoa học để sang chế ra những kỹ thuật tiêntiến, sự nhạy bén, thích ứng nhanh và làm chủ được được kĩ thuật, công nghệ hiện đại,
có kĩ năng lao động nghề nghiệp, có năng lực hoạch định chính sách và lựa chọn giảipháp và tổ chức thực hiện
Tuy nhiên CNH-HĐH không phải không có mặt trái của nó CNH - HĐH đụngchạm đến vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm trong mối quan hệ giữa con người và thiênnhiên Đây là vấn đề cấp bách không chỉ với mỗi quốc gia mà còn đối với sự tồn tại củacon người trên trái đất, Do đó, đi kèm với CNH- HĐH phải là trách nhiệm trước vấn đềmôi trường, không thể chỉ quan tâm đến phát triển kinh tế mà quên bảo vệ môi trường
Sự nghiệp CNH- HĐH không chỉ đặt lên vai những con người lao động, trên vaicủa chính phủ và nhà nước mà đây là nhiệm vụ của mỗi cá nhân, kể cả những học sinh,sinh viên đang học tập Điều mà chúng ta phải học tập theo những nước đã phát triểnhơn chúng ta một bước là việc coi trọng giáo dục, coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.Việc coi thường giáo dục, tài năng, thờ ơ trước tương lai của thế hệ trẻ sẽ là lực cản rấtlớn đến quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
2.3 Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề nguồn lực cho con người ở nước ta hiện nay
Muốn hoàn thành được CNH- HĐH, chúng ta cần phải khai thác hiệu quả nguồnlực con người và coi đây là nguồn lực quan trọng nhất Muốn sử dụng tốt nó thì chúng
ta phải hiểu được thực trang và những tiềm năng, khó khăn cần giải quyết Khi đóchúng ta mới có thể khai thác được một cách triệt để và phát triển được nguồn nhân lực
ở nước ta hiện nay
2.3.1 Thực trạng
2.3.1.1 Ưu điểm của nguồn lực con người ở Việt Nam
Nhìn vào thực trạng của nguồn lao động của nước ta có thể thấy rất nhiều ưuđiểm thuận lơi Thứ nhất, Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, tăng trưởng nhanh.Năm 2016 tổng số dân là 92,7 triệu người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là