Bài viết cho thấy số mục các thông tin phải công bố định kỳ và bất thường tăng l n, thời gian phải công bố đảm bảo tính kịp thời hơn cũng như những quy chế xử phạt nặng hơn làm rủi ro vốn cổ phần của các doanh nghiệp niêm yết giảm xuống. Một xu hướng được thấy rõ trên cả 2 sàn là tỷ lệ các doanh nghiệp có beta âm ngày càng tăng, đồng thời tỷ lệ các doanh nghiệp có beta lớn hơn 1 ngày càng giảm. Mời các bạn cùng tham khảo!
Trang 1ĐÁNH GIÁ RỦI RO VỐN CỔ PH N DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA
SỰ THAY ĐỔI TRONG QUY ĐỊNH VỀ MINH BẠCH NIÊM YẾT
TS Ngô Thu Giang 1 ThS Nguyễn Thị Vũ Khuyên 2
Viện Kinh tế và Quản lý, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Tóm tắt
Doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) ngày càng phải đối diện với sự ràng buộc, kiểm soát chặt chẽ hơn của Nhà nước thông qua c c văn bản pháp luật liên tục được bổ sung, đổi mới Điển hình là sự thay đổi của c c quy định về minh bạch Sự thay đổi này có t c động nhiều mặt lên không chỉ rủi ro, hiệu quả của doanh nghiệp mà còn tới hiệu quả của toàn thị trường Để đ nh
gi t c động của những thay đổi trong quy định về minh bạch niêm yết, dữ liệu về chỉ
số beta của 328 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và
Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 đến 2016 đã được tổng hợp, quan sát và phân tích Kết quả cho thấy số mục các thông tin phải công bố định kỳ và bất thường tăng l n, thời gian phải công bố đảm bảo tính kịp thời hơn cũng như những quy chế xử phạt nặng hơn làm rủi ro vốn cổ phần của các doanh nghiệp niêm yết giảm xuống Một xu hướng được thấy rõ trên cả 2 sàn là tỷ lệ các doanh nghiệp có beta âm ngày càng tăng, đồng thời tỷ lệ các doanh nghiệp có beta lớn hơn 1 ngày càng giảm
Từ khóa: Rủi ro vốn cổ phần, minh bạch thông tin
1 Giới thiệu
Trong bối cảnh nền kinh tế trong nước và quốc tế hiện nay, các công ty niêm yết có nhiều cơ hội và thuận lợi để phát triển kinh doanh, mở rộng thị trường, thu hút lượng vốn tiềm tàng khổng lồ từ các nhà đầu tư nước ngoài, Tuy nhiên những công ty này cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức có thể mang lại những rủi ro Việc ngày càng siết chặt các quy định minh bạch trong công bố thông tin đối với cổ phiếu niêm yết đã phần nào cải thiện
2
Email của tác giả: vukhuyen.ktqd@gmail.com
Trang 2được một cách đáng kể chất lượng môi trường đầu tư tại Việt Nam, nâng cao ý thức về việc cải thiện tình hình quản trị công ty về mọi mặt, giảm được một số rủi ro liên quan đến vốn cổ phần
Để có thể có cái nhìn rõ ràng hơn về tác động của những thay đổi trong quy định về minh bạch công bố thông tin cổ phiếu niêm yết tới khả năng quản
lý rủi ro của công ty niêm yết, nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu với tên
“Đánh giá rủi ro vốn cổ phần dưới tác động của sự thay đổi trong quy định về minh bạch niêm yết” Nghiên cứu tập trung vào việc quan sát, đánh giá dữ liệu lịch sử biến động rủi ro của các công ty cổ phần niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX trong quá trình hoàn thiện quy định về minh bạch cổ phiếu niêm yết
2 Tổng quan nghiên cứu
2.1 Minh bạch thông tin của công ty niêm yết
Thực tiễn TTCKVN và kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới đã chỉ ra rằng minh bạch hóa thông tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất giúp TTCK phát triển một cách ổn định Ở cả các thị trường đã phát triển ở mức độ cao như Mỹ, Nhật, châu Âu, tầm quan trọng của minh bạch thông tin doanh nghiệp vẫn được tiếp tục được đánh giá cao và luôn là vấn đề mới sau nhiều phát hiện sai phạm về tài chính kế toán của các tập đoàn xuyên quốc gia nổi tiếng (Kim, Lee và Yang, 2010)
Có rất nhiều nghiên cứu đã đưa ra khái niệm về minh bạch doanh nghiệp Kim, Lee và Yang (2010) đã phát triển khái niệm của minh bạch doanh nghiệp là gồm có sự cung cấp kịp thời thông tin của doanh nghiệp cho đông đảo các bên liên quan như là khách hàng, nhà đầu tư tiềm năng cũng như công đồng và xã hội; và sự hoạt động công khai của quá trình ra quyết định trong nội bộ doanh nghiệp
Parris, Dapko và Arnold (2016) thì cho rằng minh bạch doanh nghiệp là mức độ mà tại đó một bên liên quan nhận thức về doanh nghiệp giúp họ hiểu
rõ được những cơ hội mang lại từ doanh nghiệp Định nghĩa minh bạch này khái quát hóa minh bạch dựa trên nhận thức của các bên liên quan Các bên liên quan thường hình thành nhận thức về sự minh bạch trong suốt quá trình
Trang 3tương tác truyền thông với doanh nghiệp Sự tương tác này có thể diễn ra giữa các bên liên quan với bất kỳ nhân viên nào của công ty như nhân viên kinh doanh, đại diện dịch vụ khách hàng, cán bộ nhân sự thông qua hệ thống thông tin bao gồm trang web của doanh nghiệp, tin nhắn điện thoại tự động, và thư marketing điện tử
Như vậy, minh bạch doanh nghiệp thể hiện trách nhiệm, hướng đến sự tự nguyện của doanh nghiệp trong việc cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời tới các bên có liên quan Trong khi đó dường như ở Việt Nam việc minh bạch thông tin không được đa số doanh nghiệp coi trọng Hầu hết các doanh nghiệp chỉ công bố thông tin vừa đủ theo đúng quy định của pháp luật, thậm chí nhiều doanh nghiệp còn mắc sai phạm trong việc thực hiện quy định
về công bố thông tin Việc này có thể sẽ dẫn đến những rủi ro không chỉ đối với nhà đầu tư mà còn cho bản thân doanh nghiệp khi họ dần đánh mất lòng tin của các bên liên quan tới doanh nghiệp
Mức độ minh bạch được hiểu trên nhiều giác độ Để đánh giá được mức
độ minh bạch thì minh bạch được chia thành các tiêu chí hoặc nhóm nhỏ Các tiêu chí để đánh giá tính minh bạch gồm có: Trách nhiệm đạo đức, Trách nhiệm trong truyền thông, Định hướng tư lợi, Trách nhiệm với các bên liên quan, Trách nhiệm với môi trường (Stefanovová, Peterková và Zuzana, 2016) Kim, Lee và Yang (2010) chia minh bạch doanh nghiệp thành 4 nhóm: minh bạch tài chính, minh bạch điều hành, minh bạch hoạt động và minh bạch xã hội Như vậy với mỗi tiêu chí, nhóm minh bạch thì việc đo lường mức độ minh bạch cũng khác nhau
TTCKVN vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện về mọi mặt Để bảo vệ nhà đầu tư, từng bước nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về minh bạch, Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) ngày càng siết chặt các quy định về minh bạch doanh nghiệp Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, mối quan tâm hàng đầu và cơ bản nhất vẫn là minh bạch tài chính và minh bạch hoạt động Trong khi tính minh bạch được xác định dựa trên số lượng mục thông tin công ty cung cấp so với bộ thông tin yêu cầu của các bên liên quan Như vậy phần nào
đó mức độ minh bạch doanh nghiệp niêm yết tại TTCKVN được thể hiện ở sự
bổ sung, tăng cường số lượng mục thông tin mà các doanh nghiệp niêm yết bắt buộc phải công bố
Trang 4Bảng 1 dưới đây thể hiện hệ thống văn bản pháp luật quy định về việc công bố thông tin trên TTCKVN
Bảng 1: Hệ thống VBPL hiện hành về CBTT
2 155/2015/TT-BTC Hướng dẫn công bố thông tin
trên TTCK
1/1/2016
Về việc Hướng dẫn công bố thông tin trên TTCK, trước Thông tư số 155/2015/TT-BTC là Thông tư mới nhất thay thế cho Thông tư số 52/2012/TT-BTC (hiệu lực ngày 1/6/2012) Trước đó là Thông tư số 09/2010/TT-52/2012/TT-BTC (hiệu lực ngày 1/1/2011) và Thông tư số 38/2007/TT-BTC (hiệu lực ngày 13/8/2007) Bằng việc liên tục cập nhật các hướng dẫn về công bố thông tin, có thể thấy hệ thống văn bản pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ngày càng tiến tới phù hợp với thông lệ quốc tế, ngày càng hoàn thiện hơn
Sau 3 năm thực hiện Thông tư 38, Thông tư 09 ra đời đã bổ sung, thay đổi một số quy định về công bố thông tin như sau:
- Tổ chức niêm yết phải công bố báo cáo tài chính bán niên (6 tháng đầu năm) đã được kiểm toán bên cạnh báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính quý như trong Thông tư 38
- Trong trường hợp lợi nhuận sau thuế của kỳ báo cáo biến động từ 10% trở lên so với cùng kỳ năm trước, tổ chức niêm yết phải giải trình thay vì doanh nghiệp phải giải trình khi kết quả kinh doanh giữa 2 kỳ báo cáo biến động từ 5% trở lên như trước
- Các tổ chức niêm yết phải báo cáo giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 10 phiên liên tiếp hoặc là tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp mà không theo xu thế chung của thị trường thay vì các tổ chức niêm yết phải giải trình khi cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp như trước đây
Trang 5Chỉ sau hơn 1 năm đi vào triển khai, Thông tư 09 đã bị thay thế bởi Thông tư 52/2012/TT-BTC với nhiều bổ sung trong danh mục các thông tin cần công bố đối với các tổ chức trên TTCK, trong đó có công ty niêm yết Dưới đây là những điểm khác biệt/bổ sung của Thông tư 52 Bảng 2 thể hiện nội dung và thời hạn công bố thông tin định kỳ
Bảng 2: Công bố thông tin định kỳ
Báo cáo tài chính (BCTC) năm
kiểm toán
- 10 ngày kể từ ngày hoàn thành kiểm toán
- Chậm nhất là 90 ngày kể từ khi kết thúc kỳ kế toán
Báo cáo thường niên (BCTN) 20 ngày kể từ khi kết thúc thời hạn
hoàn thành BCTC năm
Nghị quyết và biên bản họp Đại hội
đồng cổ đông
24 giờ kể từ thời điểm kết thúc kỳ họp
Tình hình biến động cổ đông lớn và
tổng số cổ phiếu có quyền biểu quyết
đang lưu hành hàng quý
10 ngày của tháng đầu quý tiếp theo
Thông tin về tổng số cổ phiếu có
quyền biểu quyết đang lưu hành sau
khi phát hành thêm; mua, bán cổ
phiếu quỹ
24 giờ kể từ khi kết thúc đợt phát hành
Tình hình quản trị công ty định kỳ 6
tháng và năm
Chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ báo cáo
Tài liệu họp Đại hội đồng cổ đông
thường niên/bất thường
15 ngày trước khi diễn ra Đại hội
Nguồn: Thông tư 52/2012/TT-BTC
Ngoài ra quy định về công bố thông tin bất thường cũng có thay đổi Cụ thể:
- Bỏ quy định khi giá cổ phiếu tăng trần hoặc giảm sàn 5 phiên liên tiếp
Trang 6mà không theo xu hướng chung của thị trường thì tổ chức niêm yết phải công
bố các sự kiện liên quan có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu
- Chỉ có công ty niêm yết và công ty đại chúng quy mô lớn (vốn điều lệ thực góp từ 120 tỷ đồng trở lên, có số lượng cổ đông không thấp hơn 300 cổ đông) mới phải công bố thông tin bất thường khi giá cổ phiếu niêm yết tăng trần hoặc giảm sàn từ 10 phiên liên tiếp trở lên
- Các Nghị quyết/Quyết định của Đại hội đồng cổ đông, HĐQT khi công
bố phải kèm theo biên bản họp và biên bản kiểm phiếu
- Bổ sung chức danh Giám đốc Tài chính, Trưởng phòng tài chính kế toán vào danh sách thay đổi nhân sự chủ chốt phải công bố, bên cạnh các chức danh: Thành viên HĐQT, BKS, Ban TGĐ/GĐ, Kế toán trưởng
- Bổ sung chức danh Giám đốc Tài chính, Trưởng phòng tài chính kế toán và Thành viên BKS vào danh sách phải công bố bất thường khi có quyết định khởi tố, bản án, quyết định của Tòa án Thông tư cũ chỉ bao gồm: Thành viên HĐQT, TGĐ/GĐ, Phó TGĐ/GĐ, Kế toán trưởng của công ty
- Báo cáo kiểm toán có ý kiến ngoại trừ, ý kiến không chấp nhận hoặc ý kiến từ chối của tổ chức kiểm toán đối với BCTC; công bố công ty kiểm toán
đã ký hợp đồng kiểm toán BCTC năm; thay đổi công ty kiểm toán (sau khi đã
ký hợp đồng) hoặc việc từ chối kiểm toán BCTC của công ty kiểm toán; kết quả điều chỉnh hồi tố BCTC (nếu có) phải công bố trong vòng 24 giờ
- Quyết định vay hoặc phát hành trái phiếu có giá trị từ 30% vốn chủ sở hữu trở lên tính tại BCTC năm gần nhất đã được kiểm toán hoặc BCTC bán niên gần nhất được soát xét; Quyết định phát hành trái phiếu chuyển đổi
- Khi có sự thay đổi số cổ phiếu có quyền biểu quyết đang lưu hành do phát hành thêm; mua, bán cổ phiếu quỹ tính tại thời điểm chứng khoán chính thức được đăng ký tại Trung tâm lưu ký chứng khoán
- Công bố thông tin bất thường trong thời hạn 72 giờ khi có quyết định
về việc thành lập, mua, bán hoặc giải thể công ty con, đầu tư hoặc không còn đầu tư vào công ty liên doanh, liên kết
Như vậy, có thể nói việc ban hành Thông tư 52 thể hiện bước ngoặt lớn trong công cuộc minh bạch hóa thị trường chứng khoán với việc bổ sung hàng
Trang 7loạt thông tin công bố định kỳ cũng như những thay đổi trong thông tin công
bố bất thường Thời gian phải công bố cũng đảm bảo tính kịp thời hơn
Ngày 06/10/2015, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 155 bổ sung quy định về việc gia hạn thời gian công bố báo cáo tài chính bán niên và báo cáo tài chính quý tương tự như trường hợp công bố báo cáo tài chính năm đối với công ty niêm yết Bên cạnh đó, bổ sung quy định về việc giải trình các biến động trong chỉ tiêu tài chính tại các Báo cáo tài chính đã công bố
2.2 Rủi ro và rủi ro vốn cổ phần trên thị trường chứng khoán
Rủi ro của doanh nghiệp được chia thành 2 loại, gồm có rủi ro vốn cổ phần và rủi ro vốn nợ Rủi ro vốn cổ phần được đo lường bằng cách quan sát
độ biến thiên của các mức lợi nhuận thực tế xung quanh lợi nhuận kỳ vọng Rủi ro này bao gồm 2 thành phần: rủi ro đặc thù của doanh nghiệp và rủi ro thị trường Rủi ro đặc thù đo lường sự biến động giá cổ phiếu xảy ra do những nguyên nhân đặc thù của doanh nghiệp và độc lập với biến động của thị trường Trong khi đó rủi ro thị trường đo lường sự nhạy cảm của giá cổ phiếu của doanh nghiệp với những biến động của toàn thị trường Theo mô hình CAPM và APM, những nhà đầu tư nắm giữ những danh mục chứng khoán đa dạng có thể loại bỏ được hoàn toàn rủi ro đặc thù của doanh nghiệp, nhưng đối với rủi ro thị trường thì không thể Rủi ro tác động đến hầu hết tài sản trên thị trường sẽ vẫn tiếp tục tồn tại ngay cả khi một công ty có danh mục kinh doanh
đa dạng Doanh nghiệp nào có cổ phiếu biến động nhiều hơn so với thị trường
có xu hướng rủi ro hơn so với doanh nghiệp có cổ phiếu biến động ít hơn Mô hình CAPM khẳng định mức độ rủi ro thị trường được đo lường bởi chỉ số beta thị trường – ước lượng một đầu tư riêng lẻ sẽ đóng góp bao nhiêu rủi ro vào một danh mục đầu tư mà bao gồm tất cả tài sản được mua bán Và lý do duy nhất mà hai khoản đầu tư có lợi nhuận kỳ vọng khác nhau là bởi vì chúng
có beta khác nhau (Damodaran, 2004) Lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư chính là chi phí vốn cổ phần của doanh nghiệp niêm yết Doanh nghiệp đối mặt với rủi ro vốn cổ phần khi nó có thể phải trả chi phí vốn cổ phần cao hơn
dự tính hoặc khi lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư sụt giảm ảnh hưởng đến sức hấp dẫn của cổ phiếu trên thị trường Như vậy chỉ số beta có thể được dùng để đo lường rủi ro vốn cố phần của doanh nghiệp
Trang 8Công thức (1) thể hiện cách tính beta của một cố phiếu trên thị trường:
(1) Beta giải thích mức độ rủi ro vốn cổ phần của doanh nghiệp như sau:
- Beta >1: Doanh nghiệp có rủi ro cao hơn trung bình
- Beta = 1: Doanh nghiệp có rủi ro ngang mức trung bình
- Beta <1: Những doanh nghiệp an toàn hơn bình thường
- Beta = 0: Cổ phiếu không có rủi ro
- Beta <0: Mức lợi nhuận kì vọng nhỏ hơn mức lợi nhuận phi rủi ro Một khoản đầu tư có beta âm sẽ làm rủi ro của cả danh mục đi xuống khi đưa nó vào một danh mục đầu tư Các nhà đầu tư chỉ nên mua loại cổ phiếu này khi người đó có danh mục đầu tư thực sự đa dạng (Damodaran, 2004)
2.3 Tác động của sự thay đổi trong quy định về minh bạch niêm yết với rủi ro vốn cổ phần
Đã có khá nhiều nghiên cứu ở trong nước cũng như thế giới liên quan đến minh bạch thông tin của các doanh nghiệp niêm yết Không thể phủ nhận vai trò của minh bạch thông tin tới sự phát triển chung của toàn TTCK mà còn đối với các doanh nghiệp niêm yết nói riêng
Minh bạch doanh nghiệp có thể tăng cường khả năng sinh lợi và khả năng chống chọi của doanh nghiệp Đặc biệt, minh bạch tài chính có vai trò quan trọng với khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Trong khi minh bạch xã hội có thể tăng lợi nhuận còn minh bạch hoạt động nâng cao khả năng chống chọi của doanh nghiệp (Kim, Lee và Yang 2010)
Minh bạch thông tin kế toán có ảnh hưởng cùng chiều có ý nghĩa thống
kê tới chất lượng của báo cáo tài chính Chất lượng báo cáo tài chính và tính thuận tiện của thông tin có tác động tích cực có nghĩa tới hiệu quả của việc ra quyết định (Klinsukhon, Ussahawanitchakit, 2016)
Tuy nhiên, dưới sự hiểu biết của tác giả, ảnh hưởng của minh bạch tới mức độ rủi ro thị trường của doanh nghiệp hầu như chưa có nghiên cứu
Trang 9chuyên sâu Rủi ro vốn cổ phần của các doanh nghiệp niêm yết – như đã trình bày ở trên được thể hiện ở mức rủi ro thị trường – có thể sẽ thay đổi sau khi những quy định về minh bạch thông tin ngày càng chặt chẽ hơn Việc đảm bảo thông tin ngày càng đầy đủ, chính xác sẽ giảm bớt những dấu hiệu, tác nhân gây biến động đột ngột của cổ phiếu của mỗi doanh nghiệp nói riêng so với mặt bằng chung của thị trường ví dụ như tâm lý bầy đàn, làm giá, thổi phồng giá chứng khoán,
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Mẫu nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu hướng tới việc nghiên cứu sự biến động của mức độ rủi ro vốn cổ phần của doanh nghiệp khi có những thay đổi trong quy định về minh bạch thông tin niêm yết Những mốc thay đổi quan trọng về quy định minh bạch thông tin là khi có thông tư hướng dẫn mới của Bộ Tài chính về công bố thông tin thay thế cho thông tư cũ, cụ thể là các năm 2010, 2012 và 2015 Vì vậy, thời gian nghiên cứu sẽ là từ năm 2009 đến năm 2016
Để thấy được một cách toàn diện ảnh hưởng của thay đổi quy định minh bạch thông tin niêm yết tới các doanh nghiệp niêm yết, mẫu nghiên cứu sẽ là
328 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết trên 2 sàn chứng khoán chính chức HOSE và HNX có giao dịch liên tục từ 2009 cho đến nay Trong đó 175 doanh nghiệp niêm yết trên sàn HNX và 153 doanh nghiệp trên sàn HOSE Việc tách
và phân tích riêng doanh nghiệp niêm yết trên 2 sàn là vì điều kiện niêm yết của 2 sàn khác nhau, dẫn đến chất lượng và đặc trưng của các doanh nghiệp trên 2 sàn có thể có những nét khác biệt
Dữ liệu về chỉ số beta của các doanh nghiệp niêm yết là dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ website vietstock.vn từ năm 2009 cho đến 2016 Đây là trang mạng xã hội uy tín về chứng khoán, tài chính và kinh tế Việt Nam
Sở dĩ mẫu nghiên cứu là 328 doanh nghiệp nói trên là vì đây là những doanh nghiệp có đầy đủ số liệu về beta trong thời gian nghiên cứu được tính toán và công bố bởi Vietstock Đây cũng là quy mô mẫu tương đối lớn, đủ để đại diện cho tổng số doanh nghiệp niêm yết trên 2 sàn HNX và HOSE
3.2 Phương pháp xác định tác động
Để nghiên cứu tác động của sự thay đổi về luật pháp nói chung lên rủi ro
Trang 10của doanh nghiệp, ta có thể sử dụng mô hình CAPM Nếu sự thay đổi về luật làm ảnh hưởng tới rủi ro của doanh nghiệp, chúng ta có thể ước lượng sự thay đổi của rủi ro bằng cách ước lượng mô hình thị trường sử dụng mẫu dữ liệu cả trước và sau khi có sự thay đổi về luật pháp Bằng cách này, có thể tách biệt được tác động của luật pháp lên giá trị kỳ vọng và rủi ro của dòng tiền trong tương lai (Schwert, 1981)
Căn cứ vào đó, bằng việc quan sát, thống kê mô tả, vẽ biểu đồ phân phối
và so sánh dữ liệu về chỉ số beta của các doanh nghiệp niêm yết trong các giai đoạn trước và sau khi các thông tư quy định về minh bạch niêm yết ra đời, ta
có thể thấy được biến động của rủi ro vốn cổ phần của doanh nghiệp Từ đó có được đánh giá về tác động của các thông tư nói trên đối với rủi ro vốn cổ phần của doanh nghiệp
Cụ thể, ta có thể chia thời gian nghiên cứu thành các giai đoạn nghiên cứu: (2009-2011), (2011-2013) và (2014-2016)
4 Kết quả của nghiên cứu
4.1 Sàn HNX
Kết quả thống kê về chỉ số beta trong toàn thời gian nghiên cứu được thể hiện ở Bảng 3 dưới đây
Bảng 3: Thống kê chỉ số Beta các doanh nghiệp niêm yết sàn HNX 2009-2016
2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016
<0 2,86% 2,29% 0,57% 2,86% 2,86% 8,00% 26,86% 18,86%
=0 0,00% 0,00% 0,57% 0,00% 0,57% 0,57% 0,57% 1,71%
<1 54,86% 51,43% 55,43% 66,86% 74,29% 71,43% 55,43% 56,57%
=1 1,71% 2,86% 1,14% 0,57% 0,00% 0,57% 0,00% 0,00%
>1 40,00% 42,86% 41,71% 29,14% 21,71% 18,86% 16,57% 22,29%
Min (6,47) (0,12) (0,11) (0,31) (0,06) (0,46) (1,48) (1,48) Max 7,68 1,87 1,92 1,79 2,11 3,24 2,86 3,52
SD 1,06 0,42 0,45 0,45 0,45 0,55 0,65 0,75