Trên cơ sở phân tích thực trạng trồng, kết quả và hiệu quả kinh tế trồng sâm Ngọc Linh của các nông hộ ở huyện Nam Trà My , đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng năng suất và có chiến lược phát triển bền vững sâm Ngọc Linh ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến.
Trang 1NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG SÂM NGỌC LINH TỈNH QUẢNG NAM TRONG BỐI CẢNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
IMPROVING THE ECONOMIC EFFICIENCY FOR SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF NGOC LINH GINSENG IN QUANG NAM PROVINCE IN THE
CONTEXT OF INTERNATIONAL INTEGRATION Nguyễn Việt Thiên - Sở Y tế tỉnh Quảng Nam
Phan Văn Hoà - Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế
Tóm tắt
Nam Trà My là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam , được thiên nhiên ưu đãi và ban tặng cây dược liệu quý hiếm , có giá trị kinh tế cao : Sâm Ngọc Linh Tuy nhiên, hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại nhiều cơ hội nhưng cũng gây ra nhiều thách thức đối với phát triển bền vững sâm Ngọc Linh Thách thức lớn n hất hiện nay là làm sao để hộ nông dân tham gia trồng, bảo tồn và lưu giữ nguồn gen quý giữa rừng núi tự nhiên khắc nghiệt , cung cấp sản phẩm cho thị trường Yếu tố mang tính quyết định giải quyết thách thức đó là hiệu quả kinh tế trồng sâm Ngọc Linh
Tính đến năm 2014, diện tích trồng sâm Ngọc Linh của huyện đã lên đến 67,31 ha, với diện tích thu hoạch 8,22 ha Kết quả điều tra hộ trồng sâm ở 3 xã trọng điểm là Trà Linh, Trà Nam và Trà Can g cho thấy năng suất sâm bình quân đạt 420 kg/ha Sau 7 năm trồng, bình quân 1 ha thu được 13,6 tỷ đồng lợi nhuận Nếu hộ trồng sâm bằng hạt giống ở xã Trà Linh , năng suất và lợi nhuận cao hơn nhiều so với hộ trồng sâm bằng cây đầu mầm ở xã Trà Nam và Trà Cang
Để tăng năng suất, nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững sâm Ngọc Linh , trong thời gian đến chính quyền huyện Nam Trà My cần khuyến khích hộ trồng sâm bằng hạt; tăng ngày công ch ăm sóc, canh tác; tham gia tập huấn kỹ thuật ; và có chính sách tín dụng hợp lý nhằm tăng vốn đầu tư cho các hộ trồng sâm ; rà soát và quy hoạch tăng diện tích trồng sâm ở xã Trà Linh trong điều kiện có thể; tăng quy mô diện tích trồng sâm cho các hộ có điều kiện về vốn, kiến thức kỹ thuật và tâm huyết
Từ khóa: Sâm Ngọc Linh, hiệu quả kinh tế, hội nhập
Abstract
Nam Tra My, a mountainous district of Quang Nam province, is blessed and bestowed rare medicinal plants with high economic value: Ngoc Linh ginseng However, international economic integration has brought many opportunities, but also caused many challenges for sustainable development of Ngoc Linh ginseng The biggest challenge now is how to engage farmers in planting, conserving and storing precious medical plant to provide for the market Decisive factors to overcome these challenges is the economic efficiency of growing Ngoc Linh ginseng These are main contents presented in this article
Key words: Ngoc Linh ginseng, economic efficiency, integration
1 Đặt vấn đề
Trang 2Sâm Ngọc Linh là loài cây dược liệu quý, phân bố chủ yếu ở vùng núi cao 1.200m đến 2.100m ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam Cây sinh trưởng, phát triển với yêu cầu khắt khe về điều kiện tự nhiên, thiên nhiên, thời tiết, khí hậu Do giá trị kinh tế lớn , nên hiện nay Sâm Ngọc Linh tự nhiên không nhiều Phần lớn, được Trung tâm Dược liệu Trà Linh, Công ty Cổ phần Dược Vật tư Y tế Quảng Nam và các hộ địa phương trồng với quy mô nhỏ, manh mún
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay , sâm Ngọc Linh phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó cạnh tranh là thách thức lớn nhất Giải quyết điều đó, vấn đề đặt ra
là làm sao để hộ n ông dân tham gia trồng, bảo tồn và lưu giữ nguồn gen quý giữa rừng núi tự nhiên khắc nghiệt, cung cấp sản phẩm cho thị trường Yếu tố mang tính quyết định giải quyết thách thức đó là hiệu quả kinh tế trồng sâm Ngọc Linh
Xuất phát từ những vấn đề đó , chúng tôi đi sâu thực hiện nghiên cứu đề tài : “Sâm Ngọc Linh tỉnh Quảng Nam: Hiệu quả kinh tế và chiến lược phát triển”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích thực trạng trồng, kết quả và hiệu quả kinh tế trồng sâm Ngọc Linh của các nông hộ ở huyện Nam Trà My , đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng năng suất và có chiến lược phát triển bền vững sâm Ngọc Linh ở huyện Nam Trà My , tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
3 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu trên , nghiên cứu đã sử dụng các phương pháp chính như thống kê mô tả, hạch toán kinh tế, toán kinh tế: phân tích hàm sản xuất Cobb – Douglas để ước lượng ảnh hưởng của các nhân tố đến năng suất sâm Ngọc Linh Hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng:
Y = A.X1α1.X2α2.X3α3.e(β1.D1+ β2.D2+ β3.D3+ β4.D4) Trong đó: Y là năng suất củ tươi sâm Ngọc Linh (kg/ha); X1 là diện tích trồng sâm (ha); X2 là số ngày công lao động (ngày công); X3 là lượng vốn đầu tư (triệu đồng); D1 là biến giả, giống (D1 = 1 trồng bằng hạt giống; D1 = 0 trồng bằng đầu mầm); D2 là biến giả, địa phương (D2
= 1 là xã Trà Nam, D2 = 0 là xã khác); D3 là biến giả, địa phương (D3 = 1 là xã Trà Cang, D3 = 0
là xã Trà Linh); D4 là biến giả, tập huấn (D4 = 1 là chủ hộ trồng sâm có tham gia tập huấn trồng sâm, D4 = 0 là chủ hộ trồng sâm không tham gia tập huấn trồng sâm) Số hộ trồng sâm được điều tra ở 3 xã là 150 hộ theo phương pháp chọn ngẫu nhiên có điều kiện tại 3 xã Trà Nam, Trà Cang
và Trà Linh Do tất cả các hộ trồng sâm Ngọc Linh được điều tra chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc Xê Đăng, Ca Dong, cư trú quanh chân núi Ngọc Linh, giao thông đi lại khó khăn, khoa học kỹ thuật kém phát triển, điều kiện canh tác lạc hậu dựa vào điều kiện tự nhiên Vì thế hầu hết các hộ trồng sâm Ngọc Linh được điều tra không sử dụng phân bón (kể cả phân bón hữu cơ và vô cơ); bên cạnh đó sâm Ngọc Linh được trồng trên núi cao, điều kiện đất đai, núi đá không đồng đều, vì thế sâm không được trồng phân bố đồng đều trên bề mặt không gian diện tích mà thành các tiểu vùng nhỏ dưới tán rừng nguyên sinh Do những điều kiện đó, trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi không đưa vào hàm sản xuất Cobb - Douglas các biến phân bón và mật độ trồng sâm
Nguồn thông tin số liệu chủ yế u phục vụ cho nghiên cứu là các thông tin số liệu thứ
Trang 3pháp thu thập số liệu sơ cấp là phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên có điề u kiện , phỏng vấn trực tiếp 150 hộ trồng sâm Ngọc Linh ở 3 xã Trà Linh, Trà Nam và Trà Cang huyện Nam Trà My theo bảng hỏi được thiết kế sẵn
4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Sâm Ngọc Linh hiện nay được phân bố và trồng ở núi Ngọc Linh , huyện Nam Trà My với diện tích khoảng 67,31 ha, trong đó diện tích trồng mới năm 2014 là 12,11 ha Diện tích thu hoạch là 8,22 ha với năng suất củ tươi bình quân toàn tỉnh là 291 kg/ha [6] Mặc dù so với năm 2010, năng suất củ t ươi bình quân năm 2014 tăng 127 kg/ha [6], đây là lượng tăng khá lớn sau 5 năm tuy nhiên năng suất thực tế nhiều hộ trồng sâm có thể đạt đến 490 kg/ha Nguyên nhân chính là do Trung tâm Dược liệu Trà Linh và nhiều hộ trồng sâm đã áp dụng các biện pháp kỹ thuật mới nhằm tăng năng suất sâm củ, đặc biệt các kỹ thuật về giống, biện pháp canh tác, trong đó trồng từ hạt giống cho năng suất cao hơn trồng từ đầu mầm [6]
Năm 2014, sản lượng sâm Ngọc Linh t oàn huyện đạt 2,4 tấn củ tươi , với giá trị sản xuất ước đạt 86,7 tỷ đồng Bình quân trên toàn huyện 1 ha trồng sâm Ngọc Linh , giá trị sâm củ tươi đạt 10,5 tỷ đồng Ngoài giá trị củ sâm, người trồng sâm còn thu hoạch cả rễ và lá Đây
là giá trị khá lớn so với nhiều loại cây trồng nông nghiệp hiện nay ở nước ta , góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố nguồn lực , đặc biệt là đất đai , giải quyết việc làm , tăng thu nhập và phát triển địa phương
Qua phân tích kết quả và hiệu quả kinh tế trồng sâm Ngọc Linh của 150 hộ được điều tra tại 3 xã Trà Linh, Trà Nam và Trà Cang, huyện Nam Trà My cho thấy, năng suất bình quân
1 ha đạt 420 kg, trong đó nếu trồng từ hạt, năng suất bình quân cao hơn (472 kg/ha), trong khi trồng từ đầu mầm năng suất bình quân chỉ đạt 373 kg/ha
Trang 4Bảng 1 Kết quả và hiệu quả kinh tế trồng sâm Ngọc Linh của các hộ điều tra
năm 2014 phân theo phương thức giống
(Tính bình quân 1 ha)
Các chỉ tiêu kết quả
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Nguồn: Kết quả điều tra hộ năm 2014 và xử lý của tác giả
Sau khi trừ chi phí trung gian, bình quân 1 ha, các hộ trồng sâm thu được 14,8 tỷ đồng giá trị gia tăng , và sau khi trừ tổng chi phí , lợi nhuận bình quân đạt 13,6 tỷ đồng/ha Nếu hộ trồng sâm từ hạt, 1 ha giá trị gia tăng và lợi nhuận bình quân tương ứng đạt 16,8 tỷ và 15,7 tỷ đồng/ha Điều đó cho thấy trồng sâm Ngọc Linh có giá trị khá cao so với trồng nhiều loại cây trồng khác hiện nay tại các xã vùng núi Ngọc Linh , huyện Nam Trà My Bình quân 1 ha, nếu hộ trồng từ hạt , cứ bỏ ra 1 đồng chi phí trung gian bình qu ân hộ thu được 14,78 đồng giá trị gia tăng và bỏ ra 1 đồng chi phí hộ thu được 6,87 đồng lợi nhuận (Bảng 1)
Trang 5Bảng 2 Kết quả và hiệu quả kinh tế trồng sâm Ngọc Linh của các hộ điều tra năm
2014 phân theo xã
(Tính bình quân 1 ha)
Chỉ tiêu
ĐVT
Các xã điều tra
Bình quân Trà Linh Trà Nam Trà Cang
Các chỉ tiêu kết quả
1.Giá trị sản xuất (GO) Triệu đồng 19.067,95 13.828,53 13.544,06 15.928,89
2 Chi phi trung gian
(IC)
Triệu đồng
1.249,98 1.012,32 1.090,15 1.129,82
3 Giá trị gia tăng (VA) Triệu đồng 17.817,97 12.816,21 12.453,91 14.799,07
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế
Nguồn: Kết quả điều tra hộ năm 2014 và xử lý của tác giả
Nếu xem xét theo địa phương, bình quân 1 ha trồng sâm Ngọc Linh, giá trị gia tăng và lợi nhuận ở xã Trà Linh là cao nhất , đạt 17,8 tỷ đồng, xã Trà Nam và Trà Cang tương ứng chỉ đạt 12,8 tỷ đồng và 12,4 tỷ đồng Vì vậy, lợi nhuận thu được 1 ha ở xã Trà Nam cũng cao hơn
2 xã còn lại, bình quân đạt 16,4 tỷ đồng/ha đối với xã Trà Linh và 11,6 tỷ đồng/ha đối với xã Trà Nam và Trà Cang Bình quân 1 ha, hộ trồng sâm Ngọc Li nh ở xã Trà Linh , cứ bỏ ra 1 đồng chi phí trung gian bình quân hộ thu được 14,25 đồng giá trị gia tăng và bỏ ra 1 đồng chi phí hộ thu được 6,15 đồng lợi nhuận (Bảng 2) Nguyên nhân có sự khác biệt này là do xã Trà Linh có điều kiện đất đai, nguồn nước và khí hậu phù hợp với đặc điểm sinh trưởng và phát triển cây sâm Ngọc Linh Đồng thời đây là nơi đặt Trung tâm D ược liệu Trà Linh, trung tâm nghiên cứu bảo tồn và phát triển sâm Ngọc Linh nên các hộ trồng sâm ở đây có nhiều kiến thức, kinh nghiệm hơn trong trồng, chăm sóc sâm Ngọc Linh
Bảng 3.7: Kết quả ước lượng hàm sản xuất Cobb- Douglas của các hộ trồng
sâm Ngọc Linh được điều tra ở huyện Nam Trà My
Trang 6ảnh hưởng (Coefficients) (Std.Error) chuẩn (T-stat) định T nghĩa (Sig)
D2-Địa phương (D2=1: xã Trà
D3-Địa phương (D3=1: xã Trà
Ghi chú: Các biến làm nền: + D 1 - Loại giống (giống đầu mầm)
sâm)
Để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến năng suất sâm Ngọc Linh của các hộ điều tra, trong khuôn khổ giới hạn của nghiên cứu này , chúng tôi chỉ đưa vào mô hình h àm sản xuất Cobb – Douglas các nhân tố định lượng gồm : Diện tích trồng sâm; Số ngày công lao động; Lượng vốn đầu tư và các nhân tố phi định lượng gồm : loại giống sâm (tức trồng bằng hạt hoặc trồng bằng cây sâm đầu mầm ); Địa phương; và Sự tham gia tập huấn trồng sâm của chủ hộ
Kết quả phân tích hàm sản xuất Cobb – Douglas cho thấy, kiểm định mô hình F= 18,869 với ý nghĩa thống kê 99% cho phép bác bỏ giả thiết H0, tức là bác bỏ giả thiết tất cả các hệ số hồi quy riêng đều bằng 0 và chấp nhận giả thiết H1, giả thiết không phải tất cả các hệ số hồi quy riêng bằng 0 Như vậy, mô hình đưa ra phù hợp với thực tế với ý nghĩa thống kê 99% Hệ số xác định R2 điều chỉnh bằng 0,456 cho biết 45,6% sự thay đổi năng suất sâm Ngọc Linh là do các biến trong mô hình tạo ra, còn lại 54,4% do các yếu tố ngoài
mô hình gây ra Điều này hoàn toàn phù hợp với các biến đã đưa vào mô hình và thực tế cây sâm Ngọc Linh ở huyện Nam Trà My, là cây dược liệu dài ngày , thời gian thu hoạch lên đến 7 năm Trong quá trình sinh trưởng , sâm Ngọc Lin h phát triển chủ yếu dựa vào tự nhiên, việc trồng và chăm sóc của con người chỉ tác động ở một mức độ nhất đ ịnh
Các hệ số hồi quy riêng của các biến độc lập như: diện tích trồng sâm , số ngày công lao động, lượng vốn đầu tư , loại giống, tham gia tập huấn đều dương và có ý nghĩa thống kê 90%, 95% và 99% Với giá trị | t | của các hệ số αi lớn hơn 1,713 và giá trị | t | của các hệ số βi lớn 2,358 ta khẳng định năng suất sâm biến động tăng (giảm) theo dấu của các hệ số hồi quy riêng của các biến này Các nhân tố như diện tích trồng sâm , loại
Trang 7giống, số ngày công lao động, lượng vốn đầu tư , tham gia tập huấn ảnh hưởng làm tăng năng suất sâm; nhân tố địa phương trồng làm giảm năng suất sâm
Trong các nhân tố đưa vào mô hình làm tăng năng suất sâm ở huyện Nam Trà My thì nhân tố diện tích thu hoạch có ảnh hưởng tăng lớn nhất, thứ đến là loại giống , số ngày công lao động Khi tăng diện tích trồng sâm của hộ lên 1% so với mức trung bình, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, thì năng suất sâm thu hoạch của hộ sẽ tăng thêm 0,140% Điều này cho thấy quy mô diện tích sâm được trồng và thu hoạch của hộ tăng đã làm gia tăng năng suất sâm Thực vậy, những hộ có quy mô diện tích trồng sâm lớn họ đầu tư vốn, tâm huyết, công sức cao hơn, mạnh dạn trao đổi kiến thức , áp dụng các biện pháp canh tác mới , tiên tiến nên năng suất cao hơn Tương tự, việc đầu tư thêm số ngày công lao động , lượng vốn, tham gia tập huấn và trồng sâm bằng hạt sẽ cho năng suất cao hơn
Riêng nhân tố địa phương có ảnh hưởng ngược chiều với năng suất sâm Nếu tăng diện tích trồng sâm ở xã Trà Nam , xã Trà Cang thì năng suất sâm bình quân sẽ có xu hướng giảm Ngược lại, nếu tăng diện tích trồng sâm ở xã Trà Linh thì năng suất sâm thu hoạch bình quân sẽ có xu hướng tăng lên Thật vậy, sâm là cây dược liệu khó tính ; sinh trưởng, phát triển với yêu cầu khắt khe về điều kiện môi trường tự nhiên: đất đai , thời tiết, khí hậu Sâm tự nhiên hoặc trồng phân bố ở vùng núi cao Ngọc Linh thuộc xã Trà Linh có năng suất cao nhất , cao hơn nhiều so với sâm được phân bố ở vùng núi xã Trà Nam và Trà Cang
5 Kết luận
Sâm Ngọc Lin h là cây dược liệu quý hiếm , có giá trị kinh tế cao , sinh trưởng
và phát triển khá phù hợp với điều kiện tự nhiên ở vùng núi cao huyện Nam Trà My
Trong những năm gần đây , huyện Nam Trà My , tỉnh Quảng Nam đã quy hoạch và trồng mới từ 10 đến 12 ha hàng năm Tính đến năm 2014, diện tích trồng sâm Ngọc Linh ở đây đã lên đến 67,31 ha, với diện tích thu hoạch 8,22 ha Bình quân 1 ha năng suất sâm thu hoạch trên toàn huyện là 291 kg Kết quả điều tra hộ trồng sâm ở 3 xã trọng điểm là Trà Linh, Trà Nam và Trà Cang cho thấy năng suất sâm của các hộ ở đây cao hơn nhiều , bình quân đạt
420 kg/ha Sau 7 năm trồng, kết quả phân tích cho thấy , sau khi trừ chi phí sản xuất , bình quân 1 ha, các hộ trồng sâm thu được một khoảng lợi nhuận khá lớn , 13,6 tỷ đồng/ha Nếu hộ trồng sâm bằng hạt giống ở xã Trà Linh , năng suất và lợi nhuận cao hơn nhiều so với hộ trồng sâm bằng cây đầu mầm ở xã Trà Nam và Trà Cang
Nghiên cứu cũng cho thấy , năng suất sâm Ngọc Linh củ tươi phụ thuộc vào nhiều nhân tố, trong đó mức độ ảnh hưởng từ cao đến thấp là địa phương trồng , diện tích trồng sâm, trồng sâm giống bằng hạt , số ngày công lao độ ng trồng và chăm sóc , tham gia tập huấn và lượng vốn đầu tư
Nếu tăng 1% diện tích trồng sâm, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, năng suất sâm củ tươi sẽ tăng 0,14%, với mức ý nghĩa thống kê 99% Tương tự, nếu tăng 1% số ngày công lao động , trong điều kiện các yếu tố khác không đổi , năng suất sâm củ tương tăng 0,087% với mức ý nghĩa thống kê 90%
Như vậy, để tăng năng suất sâm Ngọc Linh , nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển bền vững, trong thời gian đến chính quyền huyện Nam Trà My cần rà soát và quy hoạch tăng diện tích trồng sâm ở xã Trà Linh trong điều kiện có thể ; tăng quy mô diện tích trồng sâm cho
Trang 8các hộ có điều kiện về vốn , kiến thức kỹ thuật và tâm huyết; khuyến khích hộ trồng sâm bằng hạt; tăng ngày công chăm sóc, canh tác; tham gia tập huấn kỹ thuật; và có chính sách tín dụng hợp lý nhằm tăng vốn đầu tư cho các hộ trồng sâm
Trang 9TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế (2010), Tổng kết 12 năm thực hiện dự án bảo tồn nguồn cây thuốc cổ truyền (1997-2009), Huế
2 Baeg, In-Ho; So, Seung-Ho;The world ginseng market and the ginseng (Korea) J Ginseng Res Vol 37, No 1, 1-7 (2013)
3 Bipin Chandra Joshi and Rakesh K Joshi (2014) The Role of Medicinal Plants in Livelihood Improvement in Uttarakhand International Journal
of Herbal Medicine 2321- 2187
4 Bruc Herrick and Charks P Kindleberger (1988), Economic
development, Fourth Edition, McGraw-Hill International Edition
5 PanNature (2011) Policy Review, No.3/Quarter III Hanoi: PanNature Secretariat of the Convention on Biological Diversity (2009) Sustainable Forest Management, Biodiversity and Livelihoods: A Good Practice Guide
6 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam (2015), Quy hoạch
bảo tồn và phát triển Sâm Ngọc Linh trên địa bàn huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam