CÁC KHÁI NIỆM : - Khí hậu là trạng thái khí quyển ở nơi nào đó, được đặc trưng bởicác trị số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,lượng bốc thoát hơi nước, mây, gió...Như v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI NGUYÊN & MÔI TRƯỜNG
BÁO CÁO MÔN HỌC
ĐỀ TÀI:
“ NHỮNG THIỆT HẠI KINH TẾ DO BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU GÂY RA”
GVHD: TS NGUYỄN TRI QUANG HƯNG NHÓM 1:
Trang 2-I ĐẶT VẤN ĐỀ :
I.1 CÁC KHÁI NIỆM :
- Khí hậu là trạng thái khí quyển ở nơi nào đó, được đặc trưng bởicác trị số trung bình nhiều năm về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa,lượng bốc thoát hơi nước, mây, gió Như vậy, khí hậu phản ánhgiá trị trung bình nhiều năm của thời tiết và nó thường có tính chất
Hình 1: Sự gia tăng nhiệt độ sẽ kích hoạt một loạt các sự kiện cóthể gây ra rất nhiều huỷ hoại đối với hành tinh
Trang 3I.2 NGUYÊN NHÂN, DIỄN BIẾN VÀ VẤN ĐỀ :
Nguyên nhân tự nhiên :
- Nguyên nhân tự nhiên của sự nóng lên toàn cầu bao gồm việcphát thải khí mêtan từ Bắc cực và các vùng đất ẩm ướt, biến đổikhí hậu, núi lửa, vv Metan, một loại khí nhà kính giữ nhiệt trongkhí quyển trái đất, được thải ra với số lượng lớn ở Bắc cực quang
và các vùng đất ẩm ướt Trong các trường hợp núi lửa, khi một núilửa phun trào, thì hàng tấn tro bụi được thải vào khí quyển Cho dù
tự nhiên có góp phần vào sự nóng lên toàn cầu, nhưng sự góp phầnnày là rất không đáng kể khi so với phần của con người đối vớinguy cơ này
Nguyên nhân nhân tạo:
- Các nguyên nhân do con người đối với sự nóng lên toàn cầu làcác nguyên nhân được gây ra do các hoạt động của con người.Nguyên nhân nổi bật nhất là ô nhiễm do con nguời tạo ra Phần lớn
ô nhiễm này có thể được cho là do việc đốt các nhiên liệu hóathạch, bao gồm đốt than để sản xuất điện, đốt dầu để tăng lực chocác phương tiện xe cộ sử dụng động cơ đốt trong Khi các nhiênliệu hóa thạch này được đốt, chúng sẽ thải carbon dioxit, mà đâylại là một loại khí nhà kính làm giữ nhiệt trong khí quyển của tráiđất và góp phần làm nóng lên toàn cầu Hai là, khi Trái Đất đượckhai thác để lấy các nhiên liệu hóa thạch này trong quá trình khaithác mỏ, thì khí metan bên trong lớp vỏ Trái Đất thoát vào bầu khíquyển và bổ sung vào các khí nhà kính khác như carbon dioxide.Nếu chúng ta bắt đầu điều tra nguyên nhân của sự nóng lên toàncầu do con người, chúng ta sẽ tập trung chú ý vào một trong nhữngnguyên nhân quan trọng nhất của sự nóng lên toàn cầu đó là dân
số Dân số càng đông có nghĩa là nhu cầu càng lớn, các nhu cầunày bao gồm thực phẩm, điện và vận tải Để đáp ứng các nhu cầunày, nhiên liệu hóa thạch được tiêu thụ ngày càng nhiều hơn, vàcuối cùng dẫn đến sự nóng lên toàn cầu Con người thở ra khí
Trang 4carbon dioxide, và với dân số ngày càng tăng, lượng khí carbondioxide con người thở ra cũng tăng lên và dẫn đến sự nóng lên toàncầu Ngay cả nông nghiệp cũng góp phần vào sự nóng lên toàncầu, do việc sử dụng rộng rãi phân bón, và phân gia súc là mộtnguồn khí metan đáng chú ý
Diễn biến :
- Trong lịch sử địa chất của trái đất chúng ta, sự biến đổi khí hậu
đã từng nhiều lần xẩy ra với những thời kỳ lạnh và nóng kéo dàihàng vạn năm mà chúng ta gọi là thời kỳ băng hà hay thời kỳ gianbăng Thời kỳ băng hà cuối cùng đã xãy ra cách đây 10.000 năm
và hiện nay là giai đoạn ấm lên của thời kỳ gian băng Xét vềnguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu này, chúng ta có thể thấy
đó là do sự tiến động và thay đổi độ nghiêng trục quay trái đất, sựthay đổi quỹ đạo quay của trái đất quanh mặt trời, vị trí các lục địa
và đại dương và đặc biệt là sự thay đổi trong thành phần khí quyển
- Trong khi những nguyên nhân đầu tiên là những nguyên nhânhành tinh, thì nguyên nhân cuối cùng lại có sự tác động rất lớn củacon người mà chúng ta gọi đó là sự làm nóng bầu khí quyển hayhiệu ứng nhà kính.Có thể hiểu sơ lược là: nhiệt độ trung bình của
bề mặt trái đất được quyết định bởi sự cân bằng giữa hấp thụ nănglượng mặt trời và lượng nhiệt trả vào vũ trụ Khi lượng nhiệt bị giữlại nhiều trong bầu khí quyển thì sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng lên.Chính lượng khí CO2 chứa nhiều trong khí quyển sẽ tác dụng nhưmột lớp kính giữ nhiệt lượng tỏa ngược vào vũ trụ của trái đất.Cùng với khí CO2 còn có một số khí khác cũng được gọi chung làkhí nhà kính như NOx, CH4, CFC Với những gia tăng mạnh mẽcủa nền sản xuất công nghiệp và việc sử dụng các nhiên liệu hoáthạch (dầu mỏ, than đá ), nghiên cứu của các nhà khoa học chothấy nhiệt độ toàn cầu sẽ gia tăng từ 1,4oC đến 5,8oC từ 1990 đến
2100 và vì vậy sẽ kéo theo những nguy cơ ngày càng sâu sắc đốivới chất lượng sống của con người
- Sự biến đổi khí hậu (BĐKH) toàn cầu đang diễn ra ngày càngnghiêm trọng Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, là băng
Trang 5tan, nước biển dâng cao; là các hiện tượng thời tiết bất thường, bão
lũ, sóng thần, động đất, hạn hán và giá rét kéo dài… dẫn đến thiếulương thực, thực phẩm và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh trên người,gia súc, gia cầm…
Vấn đề :
- Có thể thấy tác hại theo hướng nóng lên toàn cầu thể hiện ở 10điều tồi tệ sau đây: gia tăng mực nước biển, băng hà lùi về hai cực,những đợt nóng, bão tố và lũ lụt, khô hạn, tai biến, suy thoái kinh
tế, xung đột và chiến tranh, mất đi sự đa dạng sinh học và phá huỷ
hệ sinh thái Những minh chứng cho các vấn đề này được biểu hiệnqua hàng loạt tác động cực đoan của khí hậu trong thời gian gầnđây như đã có khoảng 250 triệu người bị ảnh hưởng bởi những trận
lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico Các nước Nam Âu đang đốimặt nguy cơ bị hạn hán nghiêm trọng dễ dẫn tới những trận cháyrừng, sa mạc hóa, còn các nước Tây Âu thì đang bị đe dọa xảy ranhững trận lũ lụt lớn, do mực nước biển dâng cao cũng như nhữngđợt băng giá mùa đông khốc liệt Những trận bão lớn vừa xẩy ra tại
Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ có nguyên nhân từ hiện tượngtrái đất ấm lên trong nhiều thập kỷ qua Những dữ liệu thu đượcqua vệ tinh từng năm cho thấy số lượng các trận bão không thayđổi, nhưng số trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn đã tănglên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, tây nam Thái Bình Dương, Ân Độ Dương,bắc Đại Tây Dương Một nghiên cứu với xác suất lên tới 90%.chothấy sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào cảnh thiếu lương thực vào năm
2100, do tình trạng ấm lên của Trái đất
- Sự nóng lên của Trái đất, băng tan đã dẫn đến mực nước biểndâng cao Nếu khoảng thời gian 1962 - 2003, lượng nước biểntrung bình toàn cầu tăng 1,8mm/năm, thì từ 2003 - 2013 mức tăng
là 4,1mm/năm Tổng cộng, trong 100 năm qua, mực nước biển đãtăng 0,31m Theo quan sát từ vệ tinh, diện tích các lớp băng ở Bắccực, Nam cực, băng ở Greenland và một số núi băng ở Trung Quốcđang dần bị thu hẹp Chính sự tan chảy của các lớp băng cùng với
sự nóng lên của khí hậu các đại dương toàn cầu (tới độ sâu3.000m) đã góp phần làm cho mực nước biển dâng cao Dự báo
Trang 6đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình sẽ tăng lên khoảng từ 2,0
- 4,5oC và mực nước biển toàn cầu sẽ tăng từ 0,18m - 0,59m ViệtNam (VN) là 1 trong 4 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của sựBĐKH và dâng cao của nước biển
II MỤC TIÊU :
- Trình bày mức độ hiện trạng BĐKH ở VN
- Các ảnh hưởng đối với tài nguyên nước hiện nay và tương lai
- Đề ra các biện pháp nhằm giảm thiểu, khắc phục ảnh hưởng củaBĐKH
III CÁC NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO :
- Internet
- Các nghiên cứu khoa học
- Luận văn, tiểu luận tốt nhiệp
IV NỘI DUNG ĐỀ TÀI :
IV.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ MỨC ĐỘ, PHẠM VI ẢNH HƯỞNG CỦA BĐKH :
- Tại VN, nhiệt độ trung bình hàng năm không có gia tăng trongkhoảng thời gian từ1895 (khi bắt đầu có sở khí tượng) đến 1970,tuy nhiên nhiệt độ trung bình hàng năm ở VN gia tăng đáng kểtrong ba thập niên qua, gia tăng khoảng 0.32°C kể từ 1970, tronglúc trong vòng 100 năm qua nhiệt độ trung bình hàng năm tăng0.3°C ở Sri Lanka, và 0.57°C ở Ấn Độ
- Nghiên cứu dữ kiện khí tượng chi tiết của Sở Khí Tượng ViệtNam cho thấy trong vòng 30 năm qua, VN có khuynh huớng giatăng nhiệt độ đáng kể, các tỉnh Miền Bắc gia tăng nhiều hơn MiềnNam, đặc biệt trong những tháng mùa hè với biên độ lớn hơn ỞMiền Bắc, trong vòng 30 năm (1961-1990), nhiệt độ tối thiểu trungbình trong mùa đông gia tăng 3°C ở Điện Biên, Mộc Châu; 2°C ởLai Châu, 1.8°C ở Lạng Sơn, 1°C ở Hà Nội và Bắc Giang Ở MiềnNam, nhiệt độ tối thiểu trung bình gia tăng ít hơn, tăng 1.2°C ởRạch Giá và Ban Mê Thuột, tăng 0.8°C tại Sài Gòn, tăng 0.5°C tại
Trang 7Nha Trang Nhiệt độ trung bình trong mùa hè không gia tăng mấy.
- Riêng tại thành phố Sài Gòn, nhiệt độ trung bình ở Sài Gòn từnăm 1984 đến 2004 cho thấy càng ngày càng tăng lên Chẳng hạn,vào năm 1984, nhiệt độ trung bình ở Sài Gòn là 27.1°C, và riêngtrong 5 năm 2001-2005, nhiệt độ trung bình đã lên đến 28°C, trong
10 năm 1991-2000 tăng 0.4°C, bằng mức tăng của 40 năm trước
đó Nhiệt độ cao nhất trong khu vực miền Nam luôn luôn xuất hiệntại Phước Long, Ðồng Xoài và Xuân Lộc
Hình 2 :Khuynh hướng gia tăng nhiệt độ mùa đông (trái) và mùa hè (phải) ở Việt Nam trong thế kỷ 20 (theo Dirk Schaefer, 2003)
- Tại Việt Nam, mực nước biển được theo dỏi lâu đời và khá chínhxác là Hòn Dâu ở Miền Bắc Kết quả cho thấy mực nước biển dângcao khoảng 0.19 cm/năm trong khoảng thời gian 1955-1990 Mộtcách cụ thể, mực nước biển tại VN đã dâng cao 5 cm trong vòng
30 năm qua Tương tự như vậy, tại Thừa Thiên, Sở Quan trắctường trình mực nước biển tại đây đã dâng cao hơn 5 cm, khiến xói
lở thêm trầm trọng (Vnnews, 12/5/2005) Với mức độ dâng caohiện nay (0.19 cm/năm ở Hòn Dâu), nước biển sẽ dâng cao thêm
20 cm vào năm 2100, và nếu với vận tốc dâng như IPPC tiên đoánthi nươc biển sẽ dâng cao thêm 64 cm vào năm 2100 Vùng duyênhải VN có độ cao 1m trên mặt biển chiếm một diện tích rất lớn dọctheo 3,000 km bờ biển sẽ bị đe doạ trầm trọng Nhiều nơi trongthành phố Sài Gòn chỉ cao hơn mặt biển 3 m Nếu mực nước biểndâng cao hơn hiện nay 100 cm, sẽ có khoảng 40,000 km2 đất trên
Trang 8toàn lảnh thổ VN, chiếm 21.1% diên tích toàn quốc, bị chìm ngậpnước biển
Hình 3 : Khả năng bị nước biển tràn ngập (phần tô màu xám) vào năm 2075 khi nước biển dâng cao thêm 50 cm
- Trong 30 năm qua (1961-1990), nước mưa và sự phân phối nước mưa cũng thay đổi Nói chung cho cả nước thì vủ lượng có khuynhhướng giảm trong thế kỷ 20 Tuy nhiên, vũ lượng gia tăng ở các tỉnh miền Bắc VN, trong khi sút giảm ở các tỉnh miền Nam Chẳnghạn mưa ở Đà Nẳng và Ban Mê Thuột tăng 200 mm/năm, ở Bắc Giang tăng 150 mm/năm, nhưng giảm 100 mm/năm ở Bạc Liêu
Hình 4 : Khuynh hướng giảm vũ lượng ở Việt Nam
Trang 9- Lũ lụt gây nên bởi mưa nhiều trong thời gian ngắn, nước thoátchảy không kịp Ở những vùng trũng, chỉ cần mưa nhiều ở vùngđất cao hơn, ở thượng nguồn, cũng đủ tạo ra lũ lụt Bảo tố thườngkèm theo mưa nhiều nên thường tạo lủ lụt khủng khiếp Lủ lụt xảy
ra khốc liệt hơn nếu nhằm lúc có triều cường lớn, như trùng cácngày xuân phân (21/3) hay thu phân (21/9), cùng lúc với trăng tròn(ngày rằm) hay không trăng (mồng một âm lịch) Theo tài liệu SởThuỷ Văn VN, số lượng và cường độ bảo tố gia tăng rất khốc liệt ở
VN kể từ 1950
- Tại Miền Bắc, hàng năm những trận bão và gió mùa Tây Namgây nên những trận mưa lớn ở miền thượng du cũng như đồngbằng miền Bắc Do ảnh hưởng của biến động thời tiết trên toàn thếgiới vì dòng nước El Nino và La Nina, những trận bão và mưa lớnxảy ra càng khốc liệt hơn Mùa bão thường kéo dài từ tháng 6 đếntháng 10, và trung bình hàng năm có 4 cơnbão
- Các trận lũ lớn đa số xảy ra vào tháng 8, nhằm vào cao điễm củamùa mưa bão Những cơn bão này thường xuất phát từ Phi LuậtTân, Biển Đông và Tây Thái Bình Dương, rồi 3-4 ngày sau sangđến bờ biển VN Địa hình thượng lưu các sông gồm các vùng đồinúi với độ dốc lớn nên nước mưa đỗ nhanh chóng xuống vùngđồng bằng Mỗi khi có mưa to, vùng đồng bằng sông Hồng nhậnnước lũ từ hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Hệ thốngsông Hồng bao gồm sông Đà, sông Hồng, sông Thao nhập lưu tạiViệt Trì, và hệ thống sông Thái Bình gồm các nhánh chính là sôngCầu, sông Thương, sông Lục Nam nhập lưu tại Phả Lại Dầu đượcbảo vệ bởi môt hệ thống đê dài trên 3,000 km, đa số các trung tâmđông dân cư đều nằm dưới mực nuớc lũ sông Hồng Vì vậy khimưa quá to và nước lũ làm vỡ đê làm nhiều nguời thiệt mạng
Hình 5 : Số lượng cơn bão xảy ra ở VN
Trang 10IV.2 NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN TÀI NGUYÊN NƯỚC :
IV.2.1 TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Ở Vn, theo số liệu quan trắc, trong khoảng 50 năm qua (1951 2000), nhiệt độ trung bình đã tăng 0,7oC Cụ thể nhiệt độ trungbình năm 2007 ở Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh đềucao hơn nhiệt độ trung bình của thập niên 1931 - 1940 là 0,8oC -1,3oC và cao hơn thập niên 1991 - 2000 là 0,4oC - 0,5oC Mựcnước biển quan trắc 50 năm qua ở các trạm Cửa Ông, Hòn Dấu đãtăng lên khoảng 20 cm (phù hợp với xu thế chung toàn cầu) Sốlượng những đợt không khí lạnh ảnh hưởng tới Việt Nam giảm đi
-rõ rệt trong 2 thập niên gần đây, như năm 1994 và năm 2007 chỉ có
15 - 16 đợt không khí lạnh (bằng 56% trung bình nhiều năm) Mộtbiểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu trong bối cảnh BĐKHtoàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngàytrong tháng 1 và tháng 2-2008, gây thiệt hại lớn cho nông nghiệp
Số lượng ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trongthập niên 1981 - 1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong
10 năm gần đây Đồng thời số cơn bão có cường độ mạnh nhiềuhơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam, mùa bãokết thúc muộn hơn và nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dịthường hơn Sau bão thường là mưa lũ, sạt lở đất, lũ quét, lũ ống.Chỉ riêng năm 2007, từ đầu tháng 10 đến ngày 15-11, miền Trung
đã có 5 trận lũ lớn, làm 155 người chết, 13 người mất tích, 147người bị thương, thiệt hại về cơ sở vật chất, hoa màu lên đến 4.434
tỉ đồng
- Theo tính toán, dự báo xu thế BĐKH ở Việt Nam những năm tớinhư sau: (a) Nhiệt độ trung bình có thể tăng lên 3oC vào năm2100; (b) Lượng mưa có xu thế biến đổi không đồng đều giữa cácvùng, có thể tăng (từ 0% đến 10%) vào mùa mưa và giảm (từ 0%đến 5%) vào mùa khô, tính biến động của mùa tăng lên; (c) Mựcnước biển trung bình trên dải bờ biển có thể dâng lên 1m vào năm2100
Trang 11- Theo đánh giá của ngân hàng thế giới, nếu mực nước biển dâng1m thì có 10% dân số VN chịu ảnh hưởng trực tiếp và mất 10%GDP, 3m thì là 25% và mất 25%GDP
- Hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng mạnh đến nước tatrong vài thập kỷ gần đây, gây ra nhiều đợt nắng nóng, rét đậm réthại kéo dài có tính kỷ lục Dự đoán vào cuối thế kỷ XXI, nhiệt độtrung bình nước ta tăng khoảng 30C và sẽ tăng số đợt và số ngàynắng nóng trong năm; mực nước biển sẽ dâng cao lên 1m Điềunày dẫn đến nhiều hiện tượng bất thường của thời tiết Đặc biệt làtình hình bão lũ và hạn hán Nước biển dâng dẫn đến sự xâm thựccủa nước mặn vào nội địa, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nướcngầm, nước sinh hoạt cũng như nước và đất sản xuất nông - côngnghiệp Nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm mất 12,2% diện tích đất
là nơi cư trú của 23% dân số (17 triệu người) của nước ta Trong
đó, khu vực ven biển miền Trung sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề củahiện tượng BĐKH và dâng cao của nước biển Riêng đồng bằngsông Cửu Long, dự báo vào năm 2030, khoảng 45% diện tích củakhu vực này sẽ bị nhiễm mặn cục độ và gây thiệt hại mùa màngnghiêm trọng do lũ lụt và ngập úng Nếu không có kế hoạch đốiphó, phần lớn diện tích của đồng bằng sông Cửu Long sẽ ngậptrắng nhiều thời gian trong năm và thiệt hại ước tính sẽ là 17 tỷUSD
- Việc ước lượng thiệt hại do thiên tai bất thường và biến đổi khíhậu trong tương lai ở mỗi quốc gia là công việc tốn kém nhiều trítuệ và tiền của nhưng cần phải làm Các nhà hoạch định chính sách
và kinh tế gia phải tính ra được các chi phí mà ngân sách quốc gia
và địa phương cần phải xuất ra để ứng phó với những thay đổikhông mong muốn này
- Mục đích chính là có được sự đoan chắc về việc đầu tư chi phíphòng tránh thiên tai và ứng phó biến đổi khí hậu trong hiện tại, vàđây cũng là một sự đầu tư phòng ngừa và giảm thiểu các thiệt hại
về nhân mạng, kinh tế và xã hội trong tương lai