1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập lớn Những nguyên lý Mác Lê nin TƯ BẢN THƯƠNG NGHIỆP SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CỦA SÀI GÒN CO.OP

23 66 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 46,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀITrong khoảng 510 năm gần đây, thị trường bán lẻ tại Việt Nam đang phát triển theo những xu hướng mới, với các kênh thương mại hiện đại như hệ thống đại siêu thị, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, của hàng chuyên doanh… có sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng, giành thêm được nhiều thị phần từ kênh bán lẻ truyền thống như: chợ, cửa hàng tạp hóa. Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, những xu hướng này hứa hẹn sẽ đưa thị trường bán lẻ Việt Nam trở thành một trong những thị trường có sức hấp dẫn nhất trong khu vực.Theo Chiến lược phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giai đoạn đến năm 2020 ước khoảng 13%năm, giai đoạn 20212025 đạt 14%năm. Thông qua việc nghiên cứu xu hướng phát triển của thị trường, thói quen mua sắm của người tiêu dùng, để kịp thời nắm bắt cơ hội để củng cố, phát triển hệ thống siêu thị bán lẻ của Sài Gòn Co.op trên phạm vi toàn quốc, đề tài nghiên cứu được chọn là “Tư bản thương nghiệp và sự phát triển hệ thống của Sài Gòn Co.op ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨUTập trung nghiên cứu hệ thống bán lẻ chủ chốt của Sài Gòn Co.op là hệ thống Co.opmart, Co.opXtra, giới thiệu sơ lược về các hệ thống khác: Co.opFood, Cheers, Smile, HTV Co.op...3. PHẠM VI NGHIÊN CỨUHệ thống bán lẻ của Sài Gòn trên toàn quốc từ khi thành lập đến năm 2020.4. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨUPhân tích đánh giá thực trạng hệ thống bán lẻ của Sài Gòn Co.op, qua đó kiến nghị đề xuất những giải pháp phù hợp cho tình hình phát triển của hệ thống.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨUPhương pháp lịch sửPhương pháp thống kê, dự báoPhương pháp mô tả6. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀIVới mục đích và phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung của đề tài được trình bày theo bố cục sau đây : Chương 1: TƯ BẢN THƯƠNG NGHIỆP Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CỦA SÀI GÒN CO.OP Chương 3: CHIẾN LƯỢC, KIẾN NGHỊ CHO SÀI GON CO.OPChương 1: TƯ BẢN THƯƠNG NGHIỆP1.1. Khái niệmTư bản thương nghiệp: thương nghiệp là hoạt động mua bán trao đổi hàng hóa,vậy tư bản thương nghiệp sẽ được hiểu là một bộ phận của tư bản công nghiệp tách ra với sứ mệnh là đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa, đó chính là tư bản thương nghiệp. Cũng có nhiều ý kiến cho rằng tư bản thương nghiệp là tính chất bắc cầu ra đời để làm thực hiện quá trình chuyển giao và tạo ra những giá trị hàng hóa, đó là những khái niệm và hiểu biết đơn giản nhất về tư bản thương nghiệp.1.2. Đặc điểm của tư bản thương nghiệpTư bản thương nghiệp có những đặc điểm riêng biệt và vốn có của mình, tư bản thương nghiệp ra đời bắt nguồn từ sự phát triển của tchênh lệch đó bằng số chênh lệch giữa giá trị của hàng hóa và chi phí sản xuất của hàng hóa.Trong quá trình lưu thông, nhà tư bản công nghiệp chỉ làm cái việc thực hiện giá trị thặng dư hay lợi nhuận đã được sản xuất ra, còn thương nhân thì trái lại, không những phải thực hiện lợi nhuận của mình, mà trước hết còn phải làm ra lợi nhuận của mình ở trong lưu thông và do lưu thông. Hình như điều đó chỉ được thực hiện trong điều kiện: những hàng hóa mua của nhà tư bản công nghiệp theo giá cả sản xuất của chúng, thì anh ta đem bán với một giá cao hơn giá cả sản xuất; như vậy trên danh nghĩa anh ta đã tăng thêm giá cả của hàng hóa, và thu về được số dư đó giữa giá trị danh nghĩa và giá trị thực tế; nói tóm lại, anh ta bán hàng hóa cao hơn giá trị thực tế của chúng.Hình thức tăng thêm này rất dễ hiểu; ta có thể lấy một ví vụ: 1m2 vải giá 20.000đ; nếu khi bán lại, tôi muốn kiếm được một lợi nhuận là 10% thì tôi phải tăng giá lên 110 và bán 1m2 vải đó với giá 22.000đ. Chênh lệch giữa giá cả sản xuất thực tế và giá bán là 2.000đ, tức là l

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 2

Chương 1: TƯ BẢN THƯƠNG NGHIỆP 4

1.1 Khái niệm 4

1.2 Đặc điểm của tư bản thương nghiệp 4

1.3 Vai trò của tư bản thương nghiệp 5

1.4 Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp 5

1.4.1 Tư bản thương nghiệp cổ xưa 5

1.4.2 Tư bản thương nghiệp trong xã hội chủ nghĩa 6

Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CỦA SÀI GÒN CO.OP 11

2.1 Sự hình thành của Sài Gòn Co.op 11

2.2 Sự phát triển hệ thống của Sài Gòn Co.op 11

2.2.1 Hệ thống Co.opmart, Co.opXtra – chủ chốt ngành bán lẻ của Sài Gòn Co.op 11

2.2.2 Hệ thống mua sắm tiện lợi – Co.opfood, Smile, Cheer 13

2.2.3 Kênh thương mại điện tử - Co.oponline và bán hàng qua truyền hình – HTV Co.op 14

2.3 Thành công và thất bại của Sài Gòn Co.op 14

2.3.1 Thành công 14

2.3.2 Thất Bại 17

Chương 3: CHIẾN LƯỢC, KIẾN NGHỊ CHO SÀI GÒN CO.OP 19

3.1 Chủ trương chiến lược 19

3.2 Kiến nghị phát triển 20

KẾT LUẬN 21

Trang 2

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

PHẦN MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong khoảng 5-10 năm gần đây, thị trường bán lẻ tại Việt Nam đang phát triểntheo những xu hướng mới, với các kênh thương mại hiện đại như hệ thống đại siêu thị,siêu thị, cửa hàng tiện lợi, của hàng chuyên doanh… có sự gia tăng mạnh mẽ về sốlượng, giành thêm được nhiều thị phần từ kênh bán lẻ truyền thống như: chợ, cửa hàngtạp hóa Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, những xu hướng này hứa hẹn sẽđưa thị trường bán lẻ Việt Nam trở thành một trong những thị trường có sức hấp dẫnnhất trong khu vực

Theo Chiến lược phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2025, tầmnhìn đến năm 2035, tốc độ tăng bình quân hàng năm của tổng mức bán lẻ hàng hóa vàdoanh thu dịch vụ tiêu dùng giai đoạn đến năm 2020 ước khoảng 13%/năm, giai đoạn2021-2025 đạt 14%/năm Thông qua việc nghiên cứu xu hướng phát triển của thịtrường, thói quen mua sắm của người tiêu dùng, để kịp thời nắm bắt cơ hội để củng cố,phát triển hệ thống siêu thị bán lẻ của Sài Gòn Co.op trên phạm vi toàn quốc, đề tài

nghiên cứu được chọn là “Tư bản thương nghiệp và sự phát triển hệ thống của Sài

Gòn Co.op ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”.

2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Tập trung nghiên cứu hệ thống bán lẻ chủ chốt của Sài Gòn Co.op là hệ thốngCo.opmart, Co.opXtra, giới thiệu sơ lược về các hệ thống khác: Co.opFood, Cheers,Smile, HTV Co.op

3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Hệ thống bán lẻ của Sài Gòn trên toàn quốc từ khi thành lập đến năm 2020

4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Phân tích đánh giá thực trạng hệ thống bán lẻ của Sài Gòn Co.op, qua đó kiếnnghị đề xuất những giải pháp phù hợp cho tình hình phát triển của hệ thống

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Trang 3

Phương pháp lịch sử

Phương pháp thống kê, dự báo

Phương pháp mô tả

6 KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Với mục đích và phạm vi nghiên cứu như trên, nội dung của đề tài được trình bày theo

bố cục sau đây :

- Chương 1: TƯ BẢN THƯƠNG NGHIỆP

- Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CỦA SÀI GÒN CO.OP

- Chương 3: CHIẾN LƯỢC, KIẾN NGHỊ CHO SÀI GON CO.OP

Trang 4

Chương 1: TƯ BẢN THƯƠNG NGHIỆP

1.1 Khái niệm

Tư bản thương nghiệp: thương nghiệp là hoạt động mua bán trao đổi hànghóa,vậy tư bản thương nghiệp sẽ được hiểu là một bộ phận của tư bản công nghiệptách ra với sứ mệnh là đảm nhận khâu lưu thông hàng hóa, đó chính là tư bản thươngnghiệp Cũng có nhiều ý kiến cho rằng tư bản thương nghiệp là tính chất bắc cầu ra đời

để làm thực hiện quá trình chuyển giao và tạo ra những giá trị hàng hóa, đó là nhữngkhái niệm và hiểu biết đơn giản nhất về tư bản thương nghiệp

1.2 Đặc điểm của tư bản thương nghiệp

Tư bản thương nghiệp có những đặc điểm riêng biệt và vốn có của mình, tư bảnthương nghiệp ra đời bắt nguồn từ sự phát triển của trình độ tổ chức, nó giúp cho conngười phân công lao động xã hội Đây được xem là một giai đoạn cao hơn trong chủnghĩa tư bản Chính điều này đã đưa ra những yêu cầu cho tư bản chủ nghĩa đó chính

là tính chuyên môn và đẩy mạnh tốc độ phát triển của tư bản

Tư bản công nghiệp cần phải hiểu được và hoạt động đúng với chức năng nhiệm

vụ, sứ mệnh của mình để phát huy hết được những gì mình có Sự tập trung cao độnguồn lực và các tư duy chiến lược dành riêng cho các sản phẩm Chính vì vậy mà sự

ra đời của tư bản thương nghiệp góp phần quan trọng trong sự phát triển của xã hội Sựchuyên môn hóa này giúp cho cả tư bản thương nghiệp và tư bản công nghiệp có thểtập trung điều kiện sẵn có cho chức năng hoạt động của riêng mình, cho sự liên kếtmang tính chất bắc cầu này

Từ những thông tin trên chúng ta thấy được tư bản thương nghiệp và tư bản côngnghiệp có một đặc điểm nổi bật là vừa có những điểm phụ thuộc vào tư bản côngnghiệp vừa có tính độc lập với nhau đây, là một đặc điểm nổi bật của tư bản thươngnghiệp

Vừa độc lập lại vừa phụ thuộc, hình thức hoạt động của tư bản thương nghiệp cóthể hiểu theo một cách đơn giản là hình thức kinh doanh mua bán, kiểu mua đi và bán

Trang 5

lại Bởi vậy công nghiệp có vai trò giống như nguồn cung cấp yếu tố chính và quantrọng cần thiết cho sự vận động của tư bản thương nghiệp Đó chính là hàng hóa.

1.3 Vai trò của tư bản thương nghiệp

Khi tư bản thương nghiệp xuất hiện, nó có vai trò và lợi ích to lớn đối với xã hội,bởi vì:

Nhờ có thương nhân chuyên trách việc mua - bán hàng hóa nên lượng tư bản ứngvào lưu thông và chi phí lưu thông nhỏ hơn khi những người sản xuất trực tiếp đảmnhiệm chức năng này

Nhờ có thương nhân chuyên trách việc mua - bán hàng hóa, người sản xuất cóthể tập trung thời gian chăm lo việc sản xuất, giảm dự trữ sản xuất, nâng cao hiệu quảkinh tế, tăng giá trị thặng dư

Nhờ có thương nhân chuyên trách việc mua - bán hàng hóa, sẽ rút ngắn thời gianlưu thông, tăng nhanh chu chuyển tư bản, từ đó tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng

dư hàng năm

1.4 Sự hình thành lợi nhuận thương nghiệp

1.4.1 Tư bản thương nghiệp cổ xưa

Xét về mặt lịch sử thì tư bản thương nghiệp xuất hiện trước tư bản công nghiệp,

đó là thương nghiệp cổ xưa Điều kiện xuất hiện và tồn tại tư bản thương nghiệp cổxưa là lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ Đặc biệt hoạt động của thương nghiệp

cổ xưa là “mua rẻ bán đắt”, là “kết quả của việc ăn cắp và lừa đảo” Những ngườitrọng thương luôn cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá, coithương nghiệp là sự lừa gạt như chiến tranh vậy Họ cho rằng “không một người nàothu được lợi nhuận mà không làm thiệt kẻ khác” Do đó, trong thời kỳ này nghề láibuôn phát triển mạnh; những chủ tàu buôn là những người vô cùng giàu có; đã cónhững chuyến tàu lớn từ Bồ Đầu Nha, Tây Ban Nha đến Ấn Độ, Ả Rập để trao đổimua bán hàng hoá … chính những cuộc trao đổi này là nguồn gốc lợi nhuận củathương nghiệp cổ xưa Vì vậy, họ cho rằng “phi thương bất phú” trong giai đoạn nàycũng chẳng lấy gì làm khó hiểu

Trang 6

Thương nghiệp cổ xưa tách rời quá trình và chiếm địa vị thống trị trao đổi hànghoá và do đó nó là khâu nối liền các ngành, các vùng, các nước với nhau, thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển, đẩy nhanh quá trình tan rã của xã hội nô lệ, phong kiến, tậptrung nhanh tiền tệ vào tay một số ít người, đẩy mạnh quá trình tích lũy nguyên thủycủa tư bản và sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa (TBCN).

1.4.2 Tư bản thương nghiệp trong xã hội chủ nghĩa tư bản

Tư bản thương nghiệp dưới chủ nghĩa tư bản là một bộ phận của tư bản côngnghiệp tách rời ra, phục vụ quá trình lưu thông hàng hoá của tư bản công nghiệp.Hàng hoá sau khi ở tay nhà tư bản công nghiệp được chuyển sang tay nhà tư bảnthương nghiệp, có nghĩa là nhà tư bản công nghiệp đã bán xong hàng hóa Đứng vềmặt xã hội mà xét thì nhà tư bản công nghiệp phải bán một lần nữa mới xong (vì hànghóa còn phải lưu thông đến tay người tiêu dùng) Nhưng khâu này giờ đây do nhà tưbản thường đảm nhiệm Do đó tư bản thương nghiệp chỉ là một khâu trong quá trìnhtái sản xuất

Nếu chúng ta gạt bỏ không nói đến các chức năng khác nhau có thể gắn liền với

tư bản thương nghiệp như: bảo quản hàng hóa, gửi hàng đi, vận chuyển, phân loại …chỉ nói đến chức năng thật sự của nó là mua để bán, thì tư bản thương nghiệp khôngtạo ra giá trị cũng như không tạo ra giá trị thặng dư, mà chỉ giúp cho sự thực hiện giátrị và giá trị thặng dư, và do đó, giúp cho việc trao đổi hàng hoá thật sự, cho việcchuyển hàng hoá từ tay người này sang tay người khác: tức là trao đổi chất trong xãhội Vậy lợi nhuận của các nhà tư bản thương nghiệp lấy từ đâu ra

Chỉ nhìn bề ngoài thì lợi nhuận thương nghiệp mới giản đơn là một sự nâng giá,

là một việc tăng danh nghĩa giá cả của hàng hóa lên cao hơn giá của chúng

Nhưng rõ ràng là thương nhân chỉ có thể lấy lợi nhuận của mình trong giá cả củanhững hàng hóa mà anh ta bán ra, và càng rõ ràng là lợi nhuận anh ta thu được trongviệc bán hàng hóa phải bằng số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hàng hóa; tức là nóphải bằng số dư của giá bán trừ đi giá mua

Đối với nhà tư bản công nghiệp thì số chênh lệch giữa giá bán và giá mua hànghóa của anh ta bằng số chênh lệch giữa giá cả sản xuất và chi phí sản xuất của hàng

Trang 7

hóa, hay, số chênh lệch đó bằng số chênh lệch giữa giá trị của hàng hóa và chi phí sảnxuất của hàng hóa.

Trong quá trình lưu thông, nhà tư bản công nghiệp chỉ làm cái việc thực hiện giátrị thặng dư hay lợi nhuận đã được sản xuất ra, còn thương nhân thì trái lại, khôngnhững phải thực hiện lợi nhuận của mình, mà trước hết còn phải làm ra lợi nhuận củamình ở trong lưu thông và do lưu thông Hình như điều đó chỉ được thực hiện trongđiều kiện: những hàng hóa mua của nhà tư bản công nghiệp theo giá cả sản xuất củachúng, thì anh ta đem bán với một giá cao hơn giá cả sản xuất; như vậy trên danhnghĩa anh ta đã tăng thêm giá cả của hàng hóa, và thu về được số dư đó giữa giá trịdanh nghĩa và giá trị thực tế; nói tóm lại, anh ta bán hàng hóa cao hơn giá trị thực tếcủa chúng

Hình thức tăng thêm này rất dễ hiểu; ta có thể lấy một ví vụ: 1m2 vải giá20.000đ; nếu khi bán lại, tôi muốn kiếm được một lợi nhuận là 10% thì tôi phải tănggiá lên 1/10 và bán 1m2 vải đó với giá 22.000đ Chênh lệch giữa giá cả sản xuất thực

tế và giá bán là 2.000đ, tức là lợi nhuận 10% trên số 20.000đ Thế là, khi tính 1m2 vải

là 22.000đ thì sự việc như thế là tôi chỉ bán cho người mua 10/11 m2 vải lấy 20.000đ

vì tôi giữ lại 1/10 m2 cho tôi Như vậy, đó chỉ là một thủ đoạn gián tiếp để chia phầngiá trị thặng dư và sản phẩm thặng dư bằng cách tăng thêm giá cả của hàng hóa về mặtdanh nghĩa

Cứ theo hiện tượng mà xét, thì mới thoạt nhìn ta thấy rằng ở đây hình như lợinhuận thương nghiệp là do người ta nâng giá hàng hoá mà thực hiện được Điều nàylàm nhiều người nhầm tưởng là lợi nhuận thương nghiệp do “mua rẻ bán đắt mà ra”.Nhưng nếu xét kỷ hơn, chúng ta sẽ thấy ngay rằng đó là bề ngoài và lợi nhuậncủa thương nghiệp không phải được thực hiện bằng cách đó Theo C.Mác thì: sở dĩ tưbản thương nghiệp hoạt động có lợi là vì tư bản thương nghiệp đã nhường một phầngiá trị thặng dư mà nó bóc lột được cho tư bản thương nghiệp Do đó, tư bản thươngnghiệp có lợi nhuân

Nếu xem xét một cách máy móc việc riêu hình thì nhiều người sẽ vô cùng ngạcnhiên, bởi tại sao nhà tư bản công nghiệp lại có thể nhường một phần lợi nhuận của

Trang 8

mình cho tư bản thương nghiệp Nhưng nếu xem xét một cách kỹ càng thì đây là mộtviệc không lấy gì làm khó hiểu Vì:

Trước đây, TBCN là sản xuất kiêm luôn cả lưu thông, điều này dẫn đến tâm lý bịphân tán Nhờ tư bản thương nghiệp phụ trách phần lưu thông mà tư bản công nghiệprãnh tay tập trung vào sản xuất, đầu tư khoa học kỹ thuật, tay nghề … làm cho hànghoá được sản xuất ra nhiều hơn và giá trị thặng dư theo đó thu được cũng nhiều hơn

Do đó khi chia lợi nhuận với tư bản thương nghiệp thì tư bản công nghiệp cũng không

bị thiệt

Mặt khác, sau khi tư bản thương nghiệp tham gia đầu tư lưu thông thì tư bảncông nghiệp không phải bỏ tư bản vào lưu thông, mà chuyển tư bản đó vào đầu tư sảnxuất và điều dĩ nhiên là họ sẽ thu được càng nhiều giá trị thặng dư Nhà tư bản côngnghiệp sẽ nhường một phần lợi nhuận thu được cho nhà tư bản thương nghiệp

Ta có thể xét ví dụ sau để thấy rõ được điều đó:

Một nhà tư bản công nghiệp có số tư bản là 900, trong đó chia thành 720 c + 180

v Giả sử tỷ suất giá trị thặng dư là 100% thì giá trị của hàng hoá sẽ là 720 c + 180 V+ 180 m = 1080

Tỷ suất lợi nhuận công nghiệp

P’ CN = 180 100% = 20%

900

Nhưng khi có nhà tư bản thương nghiệp tham gia vào quá trình kinh doanh thìcông thức trên sẽ thay đổi Giả dụ nhà tư bản thương nghiệp ứng ra 100 tư bản để kinhdoanh Như vậy, tổng tư bản ứng ra là 900 + 100 = 1000, và tỷ suất lợi nhuận bìnhquân giảm xuống còn

Trang 9

Vậy, nhà tư bản công nghiệp sẽ bán hàng hoá cho thương nhân theo giá: 900 +

162 = 1062.

Còn nhà tư bản thương nghiệp sẽ bán hàng hoá cho người tiêu dùng đúng giá trịcủa hàng hoá là 1080 và thu được lợi nhuận 18, tức là 18% của tư bản thương nghiệpứng ra Như vậy, lợi nhuận thương nghiệp có được là do giá bán của thương nhân caohơn giá mua, nhưng không phải vì giá bán cao hơn giá trị mà là vì giá mua thấp hơngiá trị của hàng hoá Hay nói khác đi, nhà tư bản công nghiệp đã vui lòng “nhượng”bớt lợi nhuận cho nhà tư bản thương nghiệp

Như thế, rõ ràng lợi nhuận của nhà tư bản công nghiệp là số dư giá cả sản xuấtcủa hàng hóa trừ đi chi phí sản xuất của nó, khác với lợi nhuận công nghiệp, lợi nhuậnthương nghiệp bằng số dư của giá bán trừ đi giá cả sản xuất của hàng hoá; và cũng rất

rõ ràng là giá cả thực tế của hàng hoá bằng giá cả sản xuất của nó cộng với lợi nhuậnthương nghiệp Nếu tư bản công nghiệp chỉ thực hiện được lợi nhuận vì nó là giá trịthặng dư đã chứa đựng sẵn trong giá trị của hàng hóa thì tư bản thương nhân thực hiệnđược lợi nhuận cũng chỉ vì giá trị thặng dư, hay lợi nhuận, mà tư bản công nghiệp đãthực hiện được trong giá cả của hàng hóa vẫn chưa phải là toàn bộ giá trị thặng dư.Như vậy là tư bản thương nhân có tham gia vào việc san bằng giá trị thặng dưthành lợi nhuận trung bình, dù rằng nó không tham gia vào việc sản xuất ra giá trịthặng dư đó Vì vậy tỷ suất lợi nhuận chung đã bao hàm việc khấu trừ số giá trị thặng

dư mà tư bản thương nhân được hưởng, nghĩa là khấu trừ vào lợi nhuận của tư bảncông nghiệp Tất cả những cái đó cũng chẳng ảnh hưởng gì cả Đáng lẽ nhà tư bảncông nghiệp phải bỏ thêm nhiều thì giờ vào quá trình lưu thông thì ứng tư bản phụthêm cho việc lưu thông, thì thương nhân ứng ra số tư bản đó, hoặc nói một cách kháclà; đáng lẽ bộ phận tư bản công nghiệp lớn hơn phải thường xuyên nằm trong quá trìnhlưu thông, thì bây giờ chính tư bản của thương nhân hoàn toàn bị cột chặt vào trongquá trình đó; và đáng lẽ nhà tư bản công nghiệp sản xuất ra một lợi nhuận nhỏ hơn, thìanh ta phải nhường hẳn môt phần lợi nhuận của mình cho thương nhân

Nếu một nhà tư bản công nghiệp, tự đảm nhận lấy việc buôn bán của mình ngoài

số tư bản phụ thêm cần thiết để mua hàng hóa mới ra, trước khi sản phẩm của hắnđang nằm trong lưu thông chuyển hóa thành tiền, lại còn bỏ ra một số tư bản để thực

Trang 10

hiện giá trị của tư bản – hàng hóa của hắn, tức là ứng ra cho quá trình lưu thông (chiphí văn phòng và tiền công của công nhân thương nghiệp) thì mặc dù những chi phí đóđều là tư bản phụ thêm, nhưng chúng không tạo ra giá trị thặng dư Vì thế đối với cácnhà tư bản cá biệt cũng như đối với toàn bộ giai cấp các nhà tư bản công nghiệp, tỷsuất lợi nhuận giảm đi.

Vậy, thực chất mà nói lợi nhuận của thương nghiệp là “ăn theo” lợi nhuận của tưbản công nghiệp Và điều này cũng có nghĩa là quan điểm “phi thương bất phú” trong

xã hội TBCN là hoàn toàn bất sai lầm

Trang 11

mô hình kinh tế hợp tác xã (HTX) kiểu cũ thật sự khó khăn và lâm vào tình thế khủnghoảng phải giải thể hàng loạt Trong bối cảnh như thế, ngày 12/5/1989 - UBND Thànhphố Hồ Chí Minh có chủ trương chuyển đổi Ban Quản lý HTX Mua Bán Thành phốtrở thành Liên hiệp HTX Mua bán Thành phố Hồ Chí Minh - Saigon Co.op với 2 chứcnăng trực tiếp kinh doanh và tổ chức vận động phong trào HTX Saigon Co.op là tổchức kinh tế HTX theo nguyên tắc xác lập sở hữu tập thể, hoạt động sản xuất kinhdoanh tự chủ và tự chịu trách nhiệm.

Từ năm 1992 - 1997, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, các nguồnvốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam làm cho các Doanh nghiệp phải năng động vàsáng tạo để nắm bắt các cơ hội kinh doanh, học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các đối tácnước ngoài Saigon Co.op đã khởi đầu bằng việc liên doanh liên kết với các công tynước ngoài để gia tăng thêm nguồn lực cho hướng phát triển của mình Là một trong

số ít đơn vị có giấy phép xuất nhập khẩu (XNK) trực tiếp của Thành phố, hoạt độngXNK phát triển mạnh mẽ mang lại hiệu quả cao, góp phần xác lập uy tín, vị thế củaSaigon Co.op trên thị trường trong và ngoài nước

2.2 Sự phát triển của hệ thống của Sài Gòn Co.op

2.2.1 Hệ thống Co.opmart, Co.opXtra – chủ chốt ngành bán lẻ của Sài Gòn Co.op

Co.opmart – Bạn của mọi nhà: sự kiện nổi bật nhất là sự ra đời siêu thị đầu tiêncủa hệ thống siêu thị Co.opmart là Co.opmart Cống Quỳnh vào ngày 09/02/1996, với

sự giúp đỡ của các phong trào HTX quốc tế đến từ Nhật, Singapore và Thụy Điển Từ

Ngày đăng: 22/09/2021, 23:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Hữu Cung. (2019). Thị trường bản lẻ Việt Nam: Những xu hướng chuyển dịch mới. Tạp chí con số và sự kiện, 542 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Cung. (2019). Thị trường bản lẻ Việt Nam: Những xu hướng chuyểndịch mới. "Tạp chí con số và sự kiện
Tác giả: Nguyễn Hữu Cung
Năm: 2019
3. Vũ Yến. (07/12/2019). Saigon Co.op khai trương mô hình siêu thị cao cấp. Truy cập từ https://www.thesaigontimes.vn/297872/saigon-Co.op-khai-truong-mo-hinh-sieu-thi-cao-cap.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saigon Co.op khai trương mô hình siêu thị cao cấp
4. Thanh Tấn. (17/05/2018). Ra mắt cửa hàng tiện lợi Cheers. Truy cập từ https://www.sggp.org.vn/ra-mat-cua-hang-tien-loi-cheers-520485.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ra mắt cửa hàng tiện lợi Cheers
5. Thiên Di. (21/02/2020). Co.op mart ghi điểm bằng hàng nhãn riêng tăng sức đề kháng. Truy cập từ http://congan.com.vn/doi-song/thong-tin-tieu-dung/Co.op-mart-ghi-diem-bang-hang-nhan-rieng-tang-suc-de-khang_87816.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiên Di. (21/02/2020). "Co.op mart ghi điểm bằng hàng nhãn riêng tăng sức đềkháng
6. Hải Hà. (01/03/2020). Saigon Co.op phấn đấu vượt 1.000 điểm bán, doanh thu đạt 38.900 tỷ đồng. Truy cập từ https://www.sggp.org.vn/saigon-Co.op-phan-dau-vuot-1000-diem-ban-doanh-thu-dat-38900-ty-dong-648425.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Saigon Co.op phấn đấu vượt 1.000 điểm bán, doanh thu đạt38.900 tỷ đồng
7. Hạnh Nguyên. (30/09/2016). Uẩn khúc Saigon Co.op thua đại gia Thái vụ mua lại Big C. Truy cập từ https://vietnamnet.vn/vn/kinh-doanh/thi-truong/uan-khuc-saigon-co-op-thua-dai-gia-thai-vu-mua-lai-big-c-331571.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Uẩn khúc Saigon Co.op thua đại gia Thái vụ mua lạiBig C
8. Hải Đăng. (14/01/2017). Doanh thu 2 tỷ USD, Thế Giới Di Động vượt Co.op Mart thành số 1 Việt Nam. Truy cập từ https://ictnews.vietnamnet.vn/kinh-doanh/doanh- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Doanh thu 2 tỷ USD, Thế Giới Di Động vượt Co.op Martthành số 1 Việt Nam
1. Nguyễn Viết Thông, Phạm Văn Sinh, Phạm Quang Phan, Vũ Tình, Đoàn Đức Hiếu, Đào Phương Liên, Dương Văn Duyên, Trần Hùng, & Nguyễn Đăng Quang Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w