1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới

253 48 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Di Sản Văn Hóa Và Thiên Nhiên Thế Giới Ở Việt Nam Theo Công Ước Di Sản Thế Giới
Tác giả Nguyễn Viết Cường
Người hướng dẫn PGS.TS. Đặng Văn Bài, PGS.TS. Nguyễn Sỹ Toản
Trường học Trường Đại Học Văn Hóa Hà Nội
Chuyên ngành Quản Lý Văn Hóa
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 253
Dung lượng 4,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng từ sau thời điểm 1987, chúng ta đã có nhiều thay đổi về nhận thức, lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này, thể hiện qua hệ thống pháp luật về DSVH được xây dựng dần tiệm cận với ti

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

********

NGUYỄN VIẾT CƯỜNG

QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI

Ở VIỆT NAM THEO CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI

********

NGUYỄN VIẾT CƯỜNG

QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI

Ở VIỆT NAM THEO CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI

Chuyên ngành: Quản lý văn hóa

Mã số: 9319042

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA

Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Đặng Văn Bài

2 PGS.TS Nguyễn Sỹ Toản

HÀ NỘI, 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi thực hiện Các kết quả nghiên cứu và kết luận trong luận án này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu của ai khác Việc tham khảo các tài liệu đã được trích dẫn và ghi nguồn theo đúng quy định

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những cam đoan nói trên

Nghiên cứu sinh

Nguyễn Viết Cường

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ 3

MỞ ĐẦU 4

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI THEO CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.2 Cơ sở lý luận 19

1.3 Khái quát về các Di sản Thế giới ở Việt Nam 34

Tiểu kết 45

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM THEO CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI 47

2.1 Chủ thể quản lý và cơ chế quản lý 47

2.2 Các hoạt động quản lý 54

2.3 Đánh giá 89

Tiểu kết 106

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM PHÙ HỢP VỚI CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI 108

3.1 Những định hướng trong công tác quản lý Di sản Thế giới 108

3.2 Kinh nghiệm của một số quốc gia về quản lý Di sản Thế giới 111

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam 124

Tiểu kết 141

KẾT LUẬN 143

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 149

TÀI LIỆU THAM KHẢO 150

PHỤ LỤC 165

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ

sản văn hóa

Văn hóa và Thể thao

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Chín thành phần của một hệ thống quản lý di sản 23

Sơ đồ 2.1 Tổ chức bộ máy quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam 53

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Các khóa đào tạo, chương trình tập huấn huấn, bồi dưỡng cho nguồn nhân lực tại các Di sản Thế giới (giai đoạn 2011 - 2020) 58 Bảng 2.2 So sánh quy định của UNESCO và Việt Nam trong quản lý Di sản Thế giới 65 Bảng 2.3 Tình trạng xây dựng và thực thi Kế hoạch quản lý của các Di sản Thế giới ở Việt Nam 68 Bảng 2.4 Tình trạng thực thi Quy hoạch của các Di sản Thế giới ở Việt Nam 71 Bảng 2.5 Số lượng đề tài, chương trình, dự án nghiên cứu khoa học kỹ thuật tại các Di sản Thế giới ở Việt Nam (giai đoạn 2011 - 2020) 78 Bảng 2.6 Bảng đánh giá SWOT về hiệu quả quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam 95

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Số lượng phòng/ban chuyên môn, đơn vị trực thuộc của các Ban quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam 56 Biểu đồ 2.2 Nguồn nhân lực tại các Ban quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam 57 Biểu đồ 2.3 Nguồn nhân lực tại các Ban quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam theo trình độ đào tạo 58 Biểu đồ 2.4 Tần suất ban hành văn bản quy phạm pháp luật về di tích, danh thắng, Di sản Thế giới do Trung ương ban hành (từ năm 1945 đến nay) 61 Biểu đồ 2.5 Các văn bản pháp luật ở địa phương về Di sản Thế giới 64 Biểu đồ 2.6 Kinh phí sử dụng của các Di sản Thế giới ở Việt Nam giai đoạn

2016 - 2020 72 Biểu đồ 2.7 Tổng kinh phí sử dụng của các Di sản Thế giới ở Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 75 Biểu đồ 2.8 Các khuyến nghị của UNESCO và việc thực hiện của các Di sản Thế giới ở Việt Nam 86 Biểu đồ 2.9 Khách du lịch tại các Di sản Thế giới ở Việt Nam (giai đoạn 2016 - 2020) 101 Biểu đồ 2.10 Doanh thu từ bán vé tham quan, dịch vụ tại các Di sản Thế giới ở Việt Nam (giai đoạn 2016 - 2020) 102

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) được thành lập năm 1945 với một trong những lĩnh vực hoạt động trọng tâm là bảo vệ các DSVH và thiên nhiên trên thế giới Các DSTG được UNESCO công nhận đều mang trong mình “giá trị nổi bật toàn cầu”, những giá trị mà các quốc gia đều nhận thức, chia

sẻ và là một trong những nền tảng phát triển của nhân loại, con đường đưa các dân tộc

và quốc gia xích lại gần nhau hơn

Năm 1972, một văn bản quan trọng về DSVH được UNESCO thông qua, đó là Công ước về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới (Công ước Di sản Thế giới/Công ước) Đây là Công ước duy nhất kết hợp giữa việc bảo vệ DSVH và di sản thiên nhiên, có ảnh hưởng sâu rộng nhất, được các quốc gia thành viên nghiên cứu áp dụng trong việc bảo vệ và quản lý DSTG ở nước mình Từ khi ra đời cho đến nay, tuy nội dung Công ước không thay đổi nhưng Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới (Hướng dẫn thực hiện Công ước) lại thường xuyên được sửa đổi, bổ sung để cập nhật những quan điểm mới của UNESCO và chi tiết, cụ thể hóa những quan điểm đó, nhằm hỗ trợ các quốc gia thực hiện Công ước Đến năm 2020, đã có 194 quốc gia phê chuẩn và trở thành thành viên của Công ước này Việt Nam chính thức phê chuẩn tham gia Công ước năm 1987

Từ khi tham gia Công nước đến nay, Việt Nam đã có 08 DSVH, thiên nhiên và hỗn hợp được ghi vào Danh mục DSTG Cũng từ sau thời điểm 1987, chúng ta đã có nhiều thay đổi về nhận thức, lý luận và thực tiễn trong lĩnh vực này, thể hiện qua hệ thống pháp luật về DSVH được xây dựng dần tiệm cận với tinh thần của Công ước, như các quy định về DSVH, di sản thiên nhiên, cảnh quan văn hóa, tính toàn vẹn, tính xác thực của DSVH ; công tác quản lý DSTG của Việt Nam cũng đã chịu những tác động tích cực từ Công ước về chính sách, tổ chức bộ máy, nhân sự, nguồn lực đầu tư

để bảo vệ di sản Đặc biệt, từ sau khi di sản đầu tiên được ghi vào Danh mục DSTG (năm 1993), công tác bảo vệ, quản lý DSTG đã có nhiều chuyển biến tích cực: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dần được hoàn thiện, bộ máy quản lý DSTG từ trung ương đến địa phương đang được củng cố, các nguồn lực để bảo vệ DSTG được

ưu tiên, huy động tối đa so với các di sản khác Chúng ta cũng luôn tranh thủ sự hỗ trợ

Trang 8

quốc tế để bảo vệ DSTG Vì thế, tính toàn vẹn, tính xác thực tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu của các DSTG vẫn được bảo vệ; các giá trị của di sản đang được phát huy khá hiệu quả Tuy vậy, việc quản lý DSTG ở Việt Nam còn bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập ở các khía cạnh khác nhau cần phải khắc phục

Trong thời gian qua việc nghiên cứu về DSTG nói chung, quản lý DSTG ở Việt Nam nói riêng đã được nhiều học giả quan tâm và đã có một số công trình nghiên cứu

đề cập đến quản lý, bảo tồn những DSTG cụ thể Tuy nhiên, chưa có một công trình nào tiếp cận, nghiên cứu công tác quản lý DSTG ở Việt Nam theo quy định của Công ước một cách tổng thể Bởi vậy, việc nghiên cứu, nhận diện và bổ sung, chỉnh sửa để việc quản lý DSTG ở nước ta ngày một tốt hơn, theo tinh thần của Công ước, Hướng dẫn thực hiện Công ước và Chính sách về việc lồng ghép quan điểm PTBV vào các quy trình của Công ước Di sản Thế giới (UNESCO, 2015), (Chính sách về DSTG và PTBV của UNESCO) là việc làm cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Từ những lý do trên, NCS chọn đề tài “Quản lý Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới” làm đề tài luận án tiến sĩ

chuyên ngành Quản lý văn hóa

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có nhiệm vụ:

- Hệ thống hóa những vấn đề liên quan đến quản lý DSTG, Công ước, Hướng dẫn thực hiện Công ước, Chính sách về DSTG và PTBV của UNESCO để hình thành

cơ sở lý luận cho luận án

- Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý DSTG ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới

- Nghiên cứu định hướng của UNESCO và của Việt Nam, kinh nghiệm của một

số nước trên thế giới về quản lý DSTG

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý DSTG ở Việt Nam theo Công ước hướng tới mục tiêu PTBV của UNESCO trong thời gian tới

Trang 9

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu quản lý DSTG ở Việt Nam theo tinh thần của Công ước, Hướng dẫn thực hiện Công ước và Chính sách về DSTG và PTBV của UNESCO

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian:

Tập trung nghiên cứu tại 08 DSTG ở Việt Nam, gồm: Quần thể di tích Cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), Khu phố cổ Hội An và Khu đền tháp Mỹ Sơn (Quảng Nam), Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội (Hà Nội), Thành Nhà Hồ (Thanh Hóa), Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Quần thể danh thắng Tràng An (Ninh Bình) và cả các chủ thể ở trung ương, địa phương và các đơn vị phối hợp Ngoài ra luận án còn khảo sát, tìm hiểu về công tác quản lý DSTG ở các tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế liên quan

- Về thời gian:

Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng công tác quản lý DSTG ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới từ năm 1993 đến nay Năm 1993 là năm Việt Nam có DSVH đầu tiên được ghi vào Danh mục DSTG - Quần thể di tích Cố đô Huế Trong một vài trường hợp, để so sánh luận án có thể đề cập đến những hoạt động ở các mốc thời gian sớm hơn

4 Giả thuyết nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu

4.1 Giả thuyết nghiên cứu

- Quản lý DSTG ở Việt Nam thời gian qua chưa hoàn toàn đáp ứng các yêu cầu bảo vệ DSTG được nêu trong Công ước và Hướng dẫn thực hiện Công ước, nhất là theo quan điểm PTBV của UNESCO

- Chúng ta có cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý DSTG ở Việt Nam trong thời gian tới

4.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Các nội dung hoạt động quản lý DSTG ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới hiện nay như thế nào, đã đảm bảo chưa?

- Các hoạt động quản lý DSTG ở Việt Nam đã đóng góp vào PTBV theo quan điểm của UNESCO như thế nào?

- Giải pháp nào để cải thiện, nâng cao việc quản lý DSTG ở Việt Nam?

Trang 10

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận án đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này không chỉ được NCS sử

dụng để xử lý các nội dung của Công ước và Hướng dẫn thực hiện Công ước, Chính sách về DSTG và PTBV của UNESCO và quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý DSTG, mà còn dùng trong tổng hợp và phân tích các công trình nghiên cứu liên quan,

các số liệu thứ cấp cũng như trong suốt quá trình triển khai luận án

- Phương pháp so sánh: được sử dụng để so sánh nội dung quản lý DSTG theo

Công ước, Hướng dẫn thực hiện Công ước và quan điểm PTBV mà UNESCO đã đặt ra với những quy định của pháp luật về DSVH của Việt Nam, so sánh giữa các di sản với nhau, qua đó tìm hiểu những điểm giống và khác nhau để làm cơ sở bổ sung, hoàn thiện nhằm áp dụng vào thực tiễn quản lý DSTG ở Việt Nam trong thời gian tới

- Phương pháp khảo sát thực địa: NCS tiến hành nhiều đợt khảo sát thực địa tại

các DSTG ở Việt Nam thuộc địa bàn nghiên cứu Ở các địa bàn nghiên cứu, NCS thực hiện quan sát, ghi chép, chụp hình, điều tra nhằm tìm hiểu thực trạng công tác quản lý DSTG Bên cạnh đó, các tài liệu, văn bản khác có liên quan tại địa bàn nghiên cứu cũng được NCS chú trọng thu thập

- Phỏng vấn sâu: Trong quá trình thực hiện luận án, NCS đã tiến hành được

hàng chục cuộc phỏng vấn sâu với các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý trong nước và quốc tế về quản lý DSTG ở Việt Nam để tìm hiểu về những quy định của Công ước và việc áp dụng vào thực tiễn gắn với quan điểm PTBV của UNESCO ở các khu DSTG

- Phương pháp mô hình hóa: được sử dụng để nghiên cứu sơ đồ bộ máy quản lý

DSTG ở Việt Nam, qua đó xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý, các tổ chức, cá nhân có liên quan làm cơ sở đề xuất mô hình bộ máy quản lý DSTG phù hợp với thực tiễn

6 Đóng góp mới của Luận án

Về lý luận

Luận án cung cấp các quan điểm, nội dung quản lý DSTG của Công ước và so sánh với pháp luật về DSVH hiện hành, góp phần làm đầy đủ và phong phú hơn các quy định về bảo vệ, quản lý DSTG ở Việt Nam

Trang 11

Về thực tiễn

- Là công trình đầu tiên chỉ ra đầy đủ những bất cập, hạn chế trong quản lý

DSTG ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới

- Đưa ra các giải pháp cần thiết, phù hợp và khả thi để khắc phục những bất cập, hạn chế, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý DSTG hướng đến mục tiêu PTBV

- Là tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, nhà thực hành, hoạch định chính sách trong quá trình điều chỉnh chính sách, chiến lược quản lý DSTG ở Việt Nam tiếp sát với Công ước, Hướng dẫn thực hiện Công ước và quan điểm về PTBV của UNESCO trong quản lý DSTG

Chương 2 Thực trạng quản lý Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam phù hợp với Công ước Di sản Thế giới

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ

QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI

THEO CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI VÀ KHÁI QUÁT

VỀ CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về chính sách, nguyên tắc, định hướng quản lý Di sản Thế giới

Một trong những nội dung quan trọng của quản lý, nhất là quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực nói chung, lĩnh vực DSVH nói riêng là các văn bản pháp quy, hệ thống chính sách và nguyên tắc thực hiện Các văn bản này ít tồn tại dưới dạng công trình khoa học, công trình nghiên cứu của các cá nhân, mà là những văn bản quy phạm pháp luật, quy định, tài liệu hướng dẫn… của nhà nước, các tổ chức, đơn vị, cá nhân có chức năng, nhiệm vụ phù hợp Điểm lại những tài liệu liên quan, ta có thể thấy rõ điều đó:

Với nội dung trên, có thể kể đến những tài liệu nghiên cứu, định hướng về quản lý DSTG của các tổ chức quốc tế như UNESCO, WHC, ICOMOS, IUCN, ICCROM gồm:

“Quản lý Di sản Thiên nhiên Thế giới” [136], “Quản lý Di sản Văn hóa Thế giới” [103],

“Hướng dẫn đánh giá tác động di sản cho Di sản Văn hóa Thế giới” [104], “Tài liệu tư vấn Di sản Thế giới: Đánh giá môi trường” [106], “Quản lý rủi ro thiên tai cho Di sản Thế giới” [102], “Sổ tay hướng dẫn xây dựng Tuyên bố giá trị nổi bật toàn cầu đối với các Di sản Thế giới” [131], “Chuẩn bị các đề cử Di sản Thế giới” [105] Những nghiên

cứu, tài liệu trên đã thiết lập và hệ thống hóa các chính sách, nguyên tắc căn bản, định hướng hoặc đề xuất các thực hành để hỗ trợ các quốc gia thành viên quản lý DSTG theo Công ước, trong đó nhấn mạnh các nội dung liên quan đến: khuôn khổ pháp lý; kế hoạch quản lý; các nhân tố ảnh hưởng/mối đe dọa đến di sản; nguồn lực tài chính; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; các bên liên quan; sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích; hoạt động nghiên cứu, giám sát và báo cáo trong công tác quản lý DSTG

Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế nêu trên, còn có các công trình nghiên cứu của một số tổ chức và cá nhân tiêu biểu như sau:

Cuốn “Quản lý Du lịch tại các khu Di sản Thế giới: Sổ tay thực hành cho các

nhà quản lý Di sản Thế giới” [123] của tác giả Arthur Pederson xuất bản năm 2002 đã

đưa ra một số nội dung chính cho thấy du lịch có những lợi thế như: lệ phí du khách

Trang 13

vào thăm, tiền miễn giảm thuế và các khoản đóng góp cung cấp ngân quỹ cho các nỗ lực tu bổ và bảo vệ di sản nhưng du lịch cũng đưa lại nhiều vấn đề đòi hỏi phải được thường xuyên giám sát, đánh giá tác động của nó đối với môi trường cùng những thủ tục giảm thiểu những tác động đó

Bài tham luận “Nâng cấp hoạt động Giám sát để bảo tồn Di sản Thế giới” tại

Hội nghị “Giám sát Di sản Thế giới” [96] của tác giả Giovanni Boccardi đã đề cập đến cách thức giám sát DSTG trong khuôn khổ Công ước, nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt giữa giám sát trong bối cảnh của cơ quan trực tiếp quản lý di sản (được thực hiện bởi nhân viên ở địa phương một cách liên tục) với giám sát như là một phần của

“Báo cáo định kỳ” thực hiện theo Công ước Theo tác giả, hoạt động giám sát nên xem xét các thay đổi ở một DSTG trong một khoảng thời gian nhất định, dựa trên các chỉ số

cụ thể cho chúng ta biết mức độ di sản đã được bảo tồn những giá trị ban đầu của nó như thế nào

Bài viết “Quản lý Di sản Thế giới - Kinh nghiệm thế giới và kiến nghị đối với

Việt Nam” của Li Hong [53] cho thấy, bên cạnh các tổ chức do UNESCO trực tiếp

thành lập, hiện nay trên thế giới đang tồn tại 09 Trung tâm hạng hai của UNESCO do các quốc gia thành viên thành lập Đặc biệt, tác giả cũng chỉ ra các mối đe dọa chính có ảnh hưởng tới DSTG và trách nhiệm của những người quản lý di sản là cần đảm bảo giảm thiểu được những mối đe dọa đó để DSTG được bảo vệ bền vững

Công trình “Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa

chung” của Cục Di sản văn hóa [16] đưa ra tiêu chuẩn quy định thuật ngữ và định

nghĩa trong lĩnh vực DSVH và các vấn đề liên quan giúp cho công tác quản lý DSVH được thuận tiện và theo quy chuẩn

Trong bài viết “Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Nhìn từ góc độ

quản lý nhà nước” [3] tác giả Đặng Văn Bài đề cập tới việc với những giá trị nổi bật

toàn cầu mà Vịnh Hạ Long đạt được, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng thực hiện các quy định của Luật DSVH và Công ước trong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, sự phối hợp liên ngành trong quá trình giải quyết những vấn

đề liên quan tới bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long Tác giả Đặng Văn Bài còn

đề cập đến bản chất và những trách nhiệm mà các quốc gia thành viên có DSTG phải

thực hiện các quy định của Công ước trong bài viết “Bàn luận về danh hiệu Di sản Văn

hóa và Thiên nhiên Thế giới của UNESCO” [4] Tác giả Nguyễn Quốc Hùng bàn luận

Trang 14

đến các tiêu chí xác định giá trị nổi bật toàn cầu và sự thay đổi, điều chỉnh của các tiêu

chí xác định từ trước đến nay trong Công ước ở bài viết “Mấy vấn đề về giá trị tổi bật

toàn cầu của Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới” [36]

1.1.2 Nghiên cứu về bộ máy, nguồn nhân lực bảo vệ di sản

Luận án tiến sĩ “Quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam (qua trường hợp Cố đô Huế

và Đô thị cổ Hội An)” [14] của tác giả Trịnh Ngọc Chung đã đề cập đến thực trạng và

những bất cập trong công tác quản lý, cơ cấu tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và quá trình hoạt động của cơ quan quản lý Quần thể di tích Cố đô Huế và Khu phố cổ Hội An, đồng thời phác họa mô hình quản lý DSTG, định hướng cho việc kiện toàn, nâng cao hiệu quả quản lý DSTG ở Việt Nam thời gian tới

Luận án tiến sĩ “Quản lý khu di sản Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh

Hóa” [54] của tác giả Nguyễn Bá Linh đã đề cập đến thực trạng của công tác quản lý,

chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao công tác quản lý tại khu di sản Thành Nhà Hồ thời gian tới Đặc biệt, trong Luận án bàn luận sâu đến hai nội dung là hoạt động quản lý khu di sản tiếp cận từ quản lý nhà nước và quản lý khu di sản tiếp cận từ quản lý cộng đồng sau khi Thành Nhà Hồ được UNESCO công nhận là DSVHTG, việc quản lý phải tuân thủ nghiêm ngặt những hướng dẫn và khuyến nghị của UNESCO tại Công ước Di sản Thế giới và thực hiện công tác quản lý nhà nước về DSVH trên cơ sở văn bản pháp luật của Việt Nam

Trong bài “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa” [2]

tác giả Đặng Văn Bài cho rằng: Quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy (bao gồm các văn bản về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH); quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý Việc phân cấp quản lý di tích, hệ thống tổ chức ngành bảo tồn, bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý; và

bài “Quản lý vùng đệm khu Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long trong quá trình

đô thị hóa thành phố Hạ Long” [6] tác giả lưu ý rằng BQL Vịnh Hạ Long cần khắc

phục tình trạng thiếu vắng bộ phận nghiên cứu khoa học chuyên sâu, cũng như khắc phục vấn đề về thực quyền hay sức mạnh quản lý

Tác giả Lưu Trần Tiêu đã đặt ra vấn đề về tổ chức bộ máy quản lý di tích nói riêng, DSTG nói chung và đề nghị Nhà nước nâng cấp Cục Di sản văn hóa thành Tổng Cục Di sản văn hóa trực thuộc Bộ VHTTDL để đảm bảo việc thường xuyên giám sát,

Trang 15

kiểm tra, thanh tra các hoạt động bảo tồn di tích, kịp thời phát hiện và có giải pháp

khắc phục những sai phạm trong việc tu bổ, tôn tạo di tích trong bài “Mấy vấn đề về

nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa” [76]

Tác giả Lê Thị Thu Hiền nhấn mạnh trong xu thế toàn cầu hóa với những thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 hiện nay để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị DSVH dân tộc cần phải xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành DSVH

Để làm được điều đó, cần phải thực hiện các giải pháp như: Xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; Cập nhật khung kiến thức theo nhu cầu thực tế; Đa dạng hình thức chuyển giao kiến thức; Tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào

tạo trong bài “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực di sản văn hóa ở

Việt Nam” [33]

1.1.3 Nghiên cứu về thực trạng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Di sản Thế giới ở Việt Nam

Về nội dung này có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau: Bài “Mấy vấn đề về

hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa” [75] của tác giả Lưu Trần Tiêu cho

rằng hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở 3 mặt cụ thể là: Bảo vệ di tích về mặt pháp lý

và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vật chất, kỹ thuật; sử dụng di tích phục vụ nhu cầu

của xã hội Bài “Di sản văn hóa Hội An - Nhìn lại hơn một phần tư thế kỷ bảo tồn

trong phát triển đô thị” [50] của tác giả Hoàng Đạo Kính cho thấy từ năm 1982, Tiểu

ban Ba Lan - Việt Nam về trùng tu di tích kiến trúc Chăm đã tiến hành nghiên cứu sự hình thành và tiến hóa của đô thị - cảng Hội An Qua nhiều chục năm sau đó, các cơ quan và tổ chức khoa học khác từ trung ương đến địa phương đã dành nhiều công sức cho công cuộc nghiên cứu Hội An, đã nhất quán theo đuổi những định hướng cơ bản sau: bảo tồn địa bàn tự nhiên - sinh thái lịch sử - nhân văn của Hội An; bảo tồn các di tích, trùng tu các di tích đơn lẻ; giữ nguyên vẹn khu phố cổ như là một di tích phố thị; gắn liền bảo tồn di sản với quyền lợi của người dân, đảm bảo cho họ những điều kiện sống ngày càng cải thiện, để họ được hưởng thành quả từ khai thác du lịch; bảo tồn DSVH vật thể với bảo tồn DSVH phi vật thể; coi DSVH là tài nguyên đặc trưng, là

động lực phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hội An Bài“Bảo tồn di sản văn hoá

vật thể Thăng Long - Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận” [8] của tác giả Nguyễn

Chí Bền đề cập đến công cuộc bảo tồn DSVH vật thể của Thăng Long - Hà Nội những năm qua đã đạt được nhiều kết quả to lớn, nhưng cũng đặt ra nhiều vấn đề cần quan

Trang 16

tâm, qua đó đã đề xuất việc cần thiết phải tổng kiểm kê di tích, khai thác DSVH vật thể

để phát triển du lịch nhưng phải có chính sách tái đầu tư cho công tác bảo tồn, phân cấp

quản lý DSVH rõ ràng Bài “Bảo tồn toàn diện và bền vững di sản văn hóa Huế” [43]

của tác giả Nguyễn Thế Hùng nhấn mạnh những thành tựu đạt được trong 20 năm bảo tồn và phát huy giá trị DSVH Huế từ khi được UNESCO công nhận, đồng thời đề cập tới sự mong mỏi và kỳ vọng về việc Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế sẽ đóng một vai trò to lớn hơn ở khu vực miền Trung với tư cách là một trung tâm nghiên cứu khoa

học về bảo tồn Bài “Vài suy nghĩ về công cuộc bảo tồn di sản văn hóa Huế” [60] của

tác giả Phùng Phu đã đánh giá một cách tổng quan về công cuộc bảo tồn DSVH Huế kể

từ sau lời kêu gọi cứu vãn DSVH Huế của Ngài M’Bow - Tổng Giám đốc UNESCO lúc đó vào năm 1981 đến năm 2010 Thông qua các hoạt động cụ thể về bảo tồn di tích, bảo vệ DSVH phi vật thể, tôn tạo cảnh quan môi trường di sản, hợp tác quốc tế, phát huy giá trị di sản, để đúc rút ra những bài học kinh nghiệm thực tiễn áp dụng cho công

cuộc bảo tồn và phát huy giá trị DSTG Bài “Về công tác bảo tồn di sản văn hóa Huế”

[30] của tác giả Phan Thanh Hải cho thấy DSVH Huế sau hai cuộc chiến tranh kéo dài suốt 30 năm (1945 - 1975) đã bị tàn phá nghiêm trọng Những năm qua, các hoạt động

tu bổ, bảo tồn cảnh quan, môi trường di tích, DSVH phi vật thể, hợp tác quốc tế, ứng dụng thành tựu khoa học bảo tồn, đào tạo nguồn nhân lực, phát huy giá trị di sản… đã được triển khai mạnh mẽ, nhờ đó, DSVH Huế đã vượt qua giai đoạn cứu nguy khẩn

cấp và đang từng bước hồi sinh diện mạo ban đầu của một Cố đô lịch sử Bài “Thực

trạng và định hướng nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ góp phần bảo tồn di sản Cố đô Huế” [31] của tác giả Phan Thanh Hải cho thấy nghiên cứu khoa học và

công nghệ để tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý, bảo tồn DSVH một cách bền vững có

hệ thống được Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế áp dụng, góp phần quan trọng cho công tác bảo tàng, trưng bày triển lãm, tham quan du lịch văn hóa, giáo dục tại Khu di

tích Cố đô Huế Tác giả Trương Quốc Bình với bài “Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ

và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa ở Việt Nam” [9] cho thấy xã hội hóa các

hoạt động bảo tồn DSVH là vận động và tổ chức các tổ chức xã hội và nhân dân, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân với các cơ quan nhà nước, sự

mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong

xã hội tham gia vào sự nghiệp bảo vệ và phát huy DSVH

Những nghiên cứu về giá trị và đóng góp của di sản có thể kể đến các công trình

tiêu biểu sau: Tác giả Nguyễn Thế Hùng có 02 bài viết và đề tài: bài “Phát huy giá trị di

Trang 17

tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước” [42] đã chỉ ra vai trò

của hệ thống di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh có giá trị to lớn và là nguồn tài nguyên vô giá của đất nước, trên cơ sở đánh giá kết quả đạt được và những thiếu sót,

đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát huy giá trị di tích, danh

thắng Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2013 về “Bảo vệ di sản văn hóa trong

quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế” [44] do tác giả làm chủ nhiệm

đã đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm đẩy mạnh sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị DSVH như: tăng cường công tác quản lý nhà nước, củng cố hoàn thiện bộ máy ngành, tăng cường đầu tư, xã hội hóa, đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường hợp tác quốc tế…

Tác giả Nguyễn Quốc Hùng có 03 bài viết: bài “Vai trò của di sản văn hóa trong sự phát

triển ở nước ta hiện nay” [38] cho thấy DSVH đóng góp ngày càng tích cực vào sự

nghiệp phát triển của đất nước; bài “Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa và thiên

nhiên trong quá trình hội nhập” [40] cho rằng quá trình hội nhập và phát triển đã tạo

điều kiện cho DSVH và thiên nhiên của đất nước tăng thêm vị thế và có sức lan tỏa mạnh mẽ, để chúng ta có thêm nguồn lực bảo vệ và phát huy giá trị DSVH, cũng như

đóng góp hơn nữa vào sự phát triển và hội nhập của đất nước; bài “Bảo tồn, phát huy giá

trị các Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới phục vụ phát triển ở nước ta” [35] chỉ ra

rằng, kể từ khi các di sản trở thành DSTG đã nhận được sự quan tâm đầu tư nhiều hơn từ

cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và quốc tế trên nhiều mặt trong việc bảo tồn và phát huy giá trị, đồng thời DSTG cũng đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội, du lịch của đất nước Hai tác giả Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn trong công trình

“Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” [28] đã đưa ra

kinh nghiệm quản lý DSVH của một số nước trên thế giới làm bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trên cơ sở so sánh một số điểm tương đồng Tác giả Phạm Sanh Châu với

bài “Sức sống cho sự tồn tại của di sản Việt Nam” [11] cho thấy danh hiệu DSTG đã

góp phần khẳng định sự tồn tại, nâng cao ý thức bảo vệ, tạo nguồn lực để bảo tồn di sản

Những nghiên cứu về bảo tồn, phát huy gắn với phát triển du lịch tại các khu di sản, có các công trình tiêu biểu sau:

Luận án tiến sĩ “Khai thác hợp lý các Di sản Văn hóa Thế giới nhằm phát triển

du lịch miền Trung Việt Nam” [58] của tác giả Nguyễn Thị Thống Nhất chỉ ra rằng: để

khai thác hợp lý các DSVHTG cần phải khai thác đầy đủ giá trị di sản, việc khai thác phải luôn đi đôi với việc tu bổ, tôn tạo và bảo vệ di sản, bảo vệ môi trường và có vốn đầu

tư cho quá trình khai thác và bảo vệ DSVHTG

Trang 18

Theo hướng tiếp cận địa lý học trong việc phát triển du lịch dựa vào cộng đồng như một giải pháp quản lý và sử dụng tài nguyên bền vững tại DSTG ở Việt Nam, luận án tiến

sĩ “Cơ sở địa lý cho phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại các Di sản Thế giới ở Việt

Nam (nghiên cứu trường hợp Vịnh Hạ Long và Đô thị cổ Hội An) [47] của Chu Thành

Huy đã chỉ ra rằng: phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại các DSTG là giải pháp phù hợp nhằm cân bằng mục tiêu phát triển kinh tế, an sinh xã hội với bảo tồn di sản

Luận án Tiến sĩ “Quản lý di sản văn hóa và phát triển du lịch ở Đô thị cổ Hội An,

tỉnh Quảng Nam” [29] của Nguyễn Thị Thu Hà cho thấy tồn tại một mối quan hệ năng

động với 4 trạng thái khác nhau giữa quản lý di sản và phát triển du lịch ở Hội An, bao gồm: hợp tác, hợp tác khiên cưỡng, cùng tồn tại và chưa hài lòng, các trạng thái này chịu

sự tác động của 3 yếu tố ảnh hưởng gồm: tính đa dạng loại hình di sản, sự đa dạng của các bên liên quan, định hướng quản lý và phát triển của chính quyền địa phương

Nghiên cứu về quy hoạch phát triển du lịch, luận án tiến sĩ của Tạ Duy Thịnh với

đề tài “Mô hình tổ chức không gian quy hoạch kiến trúc vùng du lịch sinh thái biển (Lấy

ví dụ vùng Hạ Long - Quảng Ninh 2000 - 2010)” [63] đề xuất 6 tuyến du lịch mới với

nội dung chủ yếu: tuyến nghiên cứu khoa học thực vật cổ, tuyến du lịch sinh thái, tuyến

du lịch hoang dã, đồng thời tại các khu vực này hình thành các trung tâm, điểm du lịch chính trên vùng vịnh như công viên hang động, công viên văn hóa lịch sử

Tác giả Nguyễn Quốc Hùng có bài “Đôi điều về việc bảo tồn và phát triển du

lịch tại các di sản ở Việt Nam hiện nay” [37], nhấn mạnh cần phải quan tâm xây dựng

hoàn thiện quy hoạch bảo tồn gắn với phát triển du lịch Các quy hoạch phải hài hòa hỗ trợ cho nhau, không mâu thuẫn nhau, các dự án thành phần phải tuân thủ quy hoạch đã được phê duyệt

1.1.4 Nghiên cứu về bảo tồn di sản văn hóa gắn với phát triển bền vững

Tác giả Nguyễn Thế Hùng khi bàn về “Bảo tồn di sản văn hóa với sự phát triển

bền vững” [45] đã chỉ ra rằng, để bảo tồn DSVH, trong thời gian tới, cần tiếp tục tập

trung vào những nội dung sau: 1/ Hoàn thiện hệ thống pháp luật; 2/ Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về DSVH; 3/ Nhận thức việc bảo tồn DSVH và PTBV có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc lẫn nhau; 4/ Gắn bảo tồn với phát huy và khai thác thông qua phát triển du lịch bền vững; 5/ Chú trọng công tác đào tạo cán bộ quản lý văn hóa; 6/ Bảo vệ DSVH phải gắn liền với bảo vệ môi trường

Trang 19

Tác giả Nguyễn Quốc Hùng đã nêu lên vai trò quan trọng của DSVH nói chung, DSTG nói riêng ở Việt Nam đóng góp vào sự PTBV trên nhiều lĩnh vực khác nhau và là cầu nối vững chắc gắn kết ba cột trụ chính của sự PTBV (phát triển kinh tế, công bằng xã hội và cân bằng môi trường) và tương hỗ với các cột trụ đó Để có thể bảo vệ và phát huy các DSVH luôn phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của văn bản quy phạm pháp luật

về DSVH trong nước cũng như các điều ước, văn bản quốc tế mà Việt Nam đã tham gia,

trong đó có Công ước Di sản Thế giới qua bài “Di sản văn hóa, nhân tố quan trọng trong

phát triển bền vững” [41]

Tác giả Đặng Văn Bài khi bàn về “Huế với những nỗ lực thiết lập, duy trì sự hài

hòa/cân bằng động giữa bảo tồn và phát triển bền vững theo tinh thần Công ước của UNESCO” [5] đã đề cập một số quan điểm, nguyên tắc của UNESCO trong việc bảo

vệ những giá trị nổi bật toàn cầu, tính toàn vẹn, tính xác thực của DSTG, từ đó áp dụng vào việc thực thi để đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội liên quan đến di sản

Cuốn “Di sản Thế giới và phát triển bền vững - Định hướng mới trong quản lý

di sản thế giới” [117] do William Logan và Peter Bille Larsen chủ biên, tập hợp bài

viết của các nhà nghiên cứu tiếp cận từ Chính sách về DSTG và PTBV của UNESCO dưới các khía cạnh khác nhau Theo đó, các tác giả William Logan và Peter Bille Larsen [118], Boccardi và Scott [97], Labadi [110] bàn về bối cảnh lịch sử, lý thuyết và quá trình dẫn đến việc thông qua Chính sách lồng ghép quan điểm PTBV trong Công ước Di sản Thế giới Trong khi đó các tác giả Hosagrahar [101], Ost [122], Labadi [111], Disko và Ooft [99], Larsen [112], Logan [116], Osipova, Badman và Larsen [121] bàn về bốn khía cạnh chính sách PTBV về môi trường, phát triển xã hội bao trùm, phát triển kinh tế bao trùm và thúc đẩy hòa bình và an ninh Bên cạnh đó, các tác giả Marco, Denyer, Durighello và Ege Yildirim [120], Thompson và Wijesuriya [124] trình bày quan điểm của IUCN, ICOMOS và ICCROM về các nguyên tắc của Chính sách Ngoài ra, các tác giả Bakhoum [95], Londono và Silva [119], Juma [109], Jian [108] đưa ra bàn luận đến các “nghiên cứu điển hình” về ý nghĩa thực tiễn của Chính

sách về DSTG và PTBV của UNESCO, nổi bật trong đó có bài “Áp dụng cách tiếp cận

phát triển bền vững cho Di sản Thế giới “Thị trấn Bamberg (Cộng hòa liên bang Đức)” của Patricia Alberth [94] đã cung cấp một nghiên cứu trường hợp điển hình của

Châu Âu, có thể là bài học kinh nghiệm cho các DSTG tham khảo trong việc giải quyết

Trang 20

hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát huy giá trị di sản và việc lồng ghép mục tiêu PTBV của UNESCO, gắn với bốn nhóm yếu tố chủ yếu: sự bền vững về môi trường, phát triển xã hội bền vững, phát triển kinh tế bền vững, hòa bình và an ninh

Các tác giả Dương Bích Hạnh, Trần Thị Thu Thủy, Phạm Thị Thanh Hường và

Nguyễn Viết Cường trong bài “Di sản Thế giới và phát triển bền vững ở Việt Nam”

[100] cho thấy bên cạnh việc môi trường pháp lý và thể chế về bảo tồn DSTG ở Việt Nam đã tương đối đầy đủ, vẫn cần có những quy định cụ thể hơn nữa nhằm tăng cường thẩm quyền và năng lực cho các BQL DSTG trong việc xử lý những tình huống phức tạp diễn ra hàng ngày tại di sản; tăng cường sự tham gia của cộng đồng, doanh nghiệp

tư nhân trong các hoạt động khai thác, phát triển du lịch, dịch vụ dựa trên giá trị của các khu DSTG

Bài “Di sản Thế giới và phát triển bền vững: Nhìn từ khung chính sách quốc tế”

[115] của tác giả William Logan cho rằng việc thông qua Chính sách về DSTG và PTBV vào tháng 11 năm 2015 là một thành công và là bước tiến quan trọng đối với UNESCO và Chương trình DSTG trong việc thiết lập khung nguyên tắc chung và các mục tiêu khát vọng đối với các phương diện tiêu biểu của PTBV, nhưng một công việc mấu chốt trong thực thi Chính sách này là phải thông qua điều chỉnh Hướng dẫn thực hiện Công ước; đồng thời tác giả William Logan cũng cho rằng Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một thành viên trong nhóm các quốc gia tiên phong thực hiện Chính sách này William Logan còn nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng, nâng cao hiểu biết, nhận thức của giới trẻ, đặc biệt là thiếu nhi và thanh niên, những thế

hệ tiếp theo của nhân loại, về giá trị nổi bật của các DSVHTNTG, DSVH phi vật thể, qua đó tiếp tục duy trì, đẩy mạnh công tác bảo tồn, gìn giữ các di sản này, sau khi thế

hệ trẻ này trở thành những người trưởng thành trong xã hội qua tham luận “UNESCO,

di sản văn hóa, thiếu nhi và thanh niên” [114]

Các tác giả Larsen và Buckley cho rằng vấn đề quyền con người và các quá trình DSTG có sự liên hệ chặt chẽ, đã được các nhà khoa học quan tâm, tìm hiểu từ lâu Trên cơ sở tổng hợp một số nghiên cứu trước đây, phân tích tình huống tại một

số kỳ họp Ủy ban DSTG, các tác giả khẳng định, đồng thời kiến nghị các cộng đồng liên quan đến di sản, có quyền được tham vấn và tham gia trực tiếp vào quá trình bảo tồn, bảo vệ giá trị của di sản, có quyền được đảm bảo đời sống, sinh kế, phát triển trong các quá trình liên quan đến di sản, trong đó chú trọng đến các dân tộc thiểu số

Trang 21

và dân tộc ít người, trong bài “Tiếp cận về quyền con người tại Ủy ban Di sản Thế

giới: Nắm bắt qua các trao đổi, sự phức tạp và tích cực trong các quá trình Di sản Thế giới” [113]

Ngoài những công trình nghiên cứu trên, còn có nhiều bài viết tại các hội thảo, hội nghị, các bài viết trên các tạp chí, báo chí trong và ngoài nước với số lượng rất lớn

mà trong khuôn khổ luận án không thể đưa vào hết được Những công trình này là tài liệu tham khảo hữu ích cho NCS trong quá trình chắt lọc, lựa chọn những vấn đề liên quan tới đề tài nghiên cứu của mình

1.1.5 Nhận xét chung về tình hình nghiên cứu

Qua phần tổng thuật và tóm lược nội dung của các tài liệu nghiên cứu trong nước

và quốc tế liên quan đến đề tài luận án, NCS có một số nhận xét như sau:

- Các nghiên cứu của các tổ chức quốc tế: UNESCO, ICOMOS, IUCN, ICCROM và học giả quốc tế với một số tài liệu nghiên cứu liên quan đã đề cập đến cách thức quản lý DSTG nhằm cung cấp kiến thức và hỗ trợ chỉ dẫn có trọng tâm về việc thực hiện Công ước; đề xuất các chính sách về việc lồng ghép quan điểm PTBV của UNESCO vào các quy trình của Công ước Di sản Thế giới; kinh nghiệm về quản lý

du lịch, quản lý rủi ro, thiên tai tại các DSTG

- Các nghiên cứu về quản lý DSTG ở Việt Nam được công bố ở nhiều cấp độ và tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau: từ các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành, các đề tài, luận án, bàn về tầm quan trọng của DSVH nói chung, DSTG nói riêng; vấn đề bảo vệ

và PTBV các giá trị DSVH, khai thác hợp lý các giá trị của DSTG; mối quan hệ giữa quản lý DSVH và DSTG với phát triển du lịch, phát triển du lịch cộng đồng; định hướng cho việc kiện toàn, nâng cao hiệu quả quản lý, nâng cao vai trò của các BQL DSTG ở Việt Nam; hoàn thiện khung pháp lý và các công cụ quản lý DSVH, DSTG (Quy chế, Quy hoạch, Kế hoạch quản lý)

Tuy nhiên, các nghiên cứu trên còn chưa bao quát được một số vấn đề về thực

trạng quản lý DSTG của Việt Nam theo Công ước, thể hiện ở một số khía cạnh sau:

- Các công trình nghiên cứu ở trong nước và quốc tế chưa có sự so sánh, đối chiếu giữa quy định của Công ước và Hướng dẫn thực hiện Công ước với các quy định pháp luật về DSVH và pháp luật khác có liên quan của Việt Nam hiện hành để nhận diện mức độ tác động của Công ước đến hệ thống văn bản của Việt Nam Các nghiên

Trang 22

cứu trên cũng chưa có sự đánh giá việc áp dụng Công ước vào thực tiễn quản lý DSTG

ở Việt Nam nhằm cung cấp một hệ thống nghiên cứu đầy đủ về công tác quản lý DSTG

ở Việt Nam trên cơ sở tiếp cận với quy định của Công ước Do đó, cần phải có một công trình nghiên cứu chuyên sâu, đặt Công ước như một đối tượng nghiên cứu chính

để áp dụng vào thực tiễn quản lý DSTG ở Việt Nam

- Các công trình nghiên cứu ở trong nước chưa xem xét DSTG trong một quy trình quản lý tổng thể từ việc xây dựng và thực thi Kế hoạch quản lý và giám sát các hoạt động bảo vệ, phát huy giá trị DSTG; còn ít chú ý tới việc nhận diện các nguy cơ ảnh hưởng đến di sản để từ đó đưa ra cơ chế, chính sách, giải pháp, hành động cụ thể nhằm bảo vệ các yếu tố gốc tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu, tính toàn vẹn, tính xác thực của DSTG; còn chưa đưa ra đầy đủ nội dung quản lý DSTG ở Việt Nam theo quan điểm phát PTBV của UNESCO tại Chính sách về DSTG và PTBV năm 2015.

Có thể nói, những khoảng trống mà các nghiên cứu đi trước còn bỏ ngỏ sẽ là vấn đề đặt ra cho luận án này và NCS coi đó là nhiệm vụ, là cơ hội để tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu và bàn luận Và các công trình nghiên cứu đi trước là nguồn tư liệu quan trọng để NCS tham khảo, kế thừa phục vụ cho mục đích nghiên cứu của mình

1.2 Cơ sở lý luận

1.2.1 Một số khái niệm

- Di sản văn hóa

Trong Luật DSVH năm 2001 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) [61], DSVH

được quy định như sau:

DSVH bao gồm DSVH phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác (Điều 1)

DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan; có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng; không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác (Khoản 1, Điều 4)

Trang 23

DSVH vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia (Khoản 2, Điều 4)

Các nhóm công trình xây dựng: Các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên hoàn

mà do kiến trúc, tính đồng nhất hoặc vị trí của chúng trong cảnh quan có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học Các di chỉ: Các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, và các khu vực gồm có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hay nhân học

Tại Điều 2 của Công ước Di sản Thế giới [126] định nghĩa những đối tượng sau

đây được coi là di sản thiên nhiên:

Các đặc điểm thiên nhiên bao gồm các kiến tạo vật lý hoặc sinh học hay các nhóm kiến tạo như thế có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm

mỹ hoặc khoa học

Các kiến tạo địa chất và địa lý thiên nhiên và các khu vực được phân định rạch ròi là môi trường sống của các loài động vật và thực vật bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn

Các di chỉ thiên nhiên hoặc các khu vực thiên nhiên được phân định rạch ròi

có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học, bảo tồn hay vẻ đẹp thiên nhiên

Trang 24

Các di sản được xem là “DSVH và thiên nhiên hỗn hợp” nếu chúng đáp ứng một phần hay toàn bộ các định nghĩa của DSVH và thiên nhiên được đưa ra trong các Điều 1 và 2 của Công ước

Trong Nghị định số 109/2017/NĐ-CP (Nghị định quy định về bảo vệ và quản lý

Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam có hiệu lực từ ngày 10 tháng 11 năm 2017) [12] cũng quy định một số khái niệm về: DSVHTNTG; DSVHTG; DSTNTG; DSVHTNTG hỗn hợp Cụ thể là:

DSVHTNTG là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam có giá trị nổi bật toàn cầu về văn hóa và thiên nhiên, được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG (Khoản 1, Điều 3)

DSVHTG là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam có giá trị nổi bật toàn cầu về văn hóa được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG (Khoản 2, Điều 3)

DSTNTG là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam có giá trị nổi bật toàn cầu về thiên nhiên được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG (Khoản 3, Điều 3)

DSVHTNTG hỗn hợp là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh tiêu biểu của Việt Nam đáp ứng được tiêu chí của cả DSVHTG và DSTNTG, được UNESCO ghi vào Danh mục DSTG (Khoản 4, Điều 3)

- Giá trị nổi bật toàn cầu

Theo Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới [130], giá trị nổi bật toàn

cầu được hiểu là ý nghĩa văn hóa và/hoặc thiên nhiên đặc biệt đến mức vượt qua các biên giới quốc gia và có thể có tầm quan trọng chung cho các thế hệ hiện tại và tương lai của toàn nhân loại (Điều 49)

Theo Nghị định số 109/2017/NĐ-CP [12], giá trị nổi bật toàn cầu là sự biểu hiện

những ý nghĩa văn hóa và thiên nhiên đặc biệt của DSVHTNTG, có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế đối với các thế hệ hiện tại và tương lai (Khoản 5, Điều 3)

- Tính toàn vẹn

Theo Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới [130], tính toàn vẹn được

hiểu là:

Trang 25

Một thước đo của sự toàn thể và sự nguyên vẹn của DSVH và/hoặc thiên nhiên và các đặc tính của nó Việc đánh giá các điều kiện về tính toàn vẹn

do đó đòi hỏi việc xem xét mức độ mà di sản: a) bao gồm tất cả các yếu tố cần thiết để biểu đạt giá trị nổi bật toàn cầu của nó; b) có qui mô phù hợp để bảo đảm rằng các đặc điểm và các quá trình truyền tải ý nghĩa của di sản được đại diện một cách đầy đủ; c) chịu những tác động tiêu cực của sự phát triển và/hoặc thiếu quan tâm (Điều 88)

Theo Nghị định số 109/2017/NĐ-CP [12], tính toàn vẹn được hiểu là “sự biểu

hiện một cách đầy đủ các yếu tố gốc cấu thành giá trị nổi bật toàn cầu của DSTG” (Khoản 7, Điều 3)

Trong Nghị định số 109/2017/NĐ-CP [12] nêu rõ tính xác thực là “sự biểu hiện

một cách trung thực và đáng tin cậy của yếu tố gốc tạo nên giá trị nổi bật toàn cầu về văn hóa của DSTG, giúp nhận biết được bản chất, đặc tính, ý nghĩa và lịch sử của DSTG đó” (Khoản 8, Điều 3)

- Kế hoạch quản lý DSTG: Theo Nghị định số 109/2017/NĐ-CP [12], Kế hoạch

quản lý DSTG là “văn bản tổng hợp các biện pháp bảo tồn giá trị nổi bật toàn cầu của DSTG, bao gồm cả việc phân công trách nhiệm cụ thể đến mọi đối tượng liên quan tới việc thực hiện các biện pháp bảo tồn đó” (Khoản 12, Điều 3)

- Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích: Theo Nghị định số

166/2018/NĐ-CP [13], Quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích là “việc xác định

nội dung và biện pháp bảo quản, tu bổ, phục hồi các yếu tố gốc của di tích, định hướng

Trang 26

tổ chức không gian các hạng mục công trình xây dựng mới, hệ thống công trình hạ tầng

kỹ thuật và tạo lập môi trường cảnh quan thích hợp trong khu vực di tích” (Khoản 1

ba kết quả (kết quả, đầu ra và cải thiện hệ thống quản lý) Chín thành phần nêu trên cùng kết hợp để tạo thành một hệ thống quản lý di sản hoàn chỉnh và được thể hiện trong Sơ đồ 1.1

Sơ đồ 1.1 Chín thành phần của một hệ thống quản lý di sản

Nguồn [103, tr.114]

Tài liệu “Quản lý Di sản Thiên nhiên Thế giới” [136] đã xác định 6 giai đoạn

trong quy trình quản lý do IUCN phát triển cho công tác quản lý các khu bảo tồn, gồm:

Trang 27

(1) Hiểu rõ bối cảnh của di sản bằng cách xem xét các giá trị hiện hữu, các nguy cơ và các bên có liên quan, nhằm cung cấp một nền tảng cho việc (2) lập kế hoạch quản lý cho

di sản và (3) phân phối nguồn lực và các yếu tố đầu vào khác, tất cả tạo thành (4) một chuỗi các quy trình quản lý nhằm tạo ra (5) các đầu ra, ví dụ hàng hóa và dịch vụ tạo thành (6) tác động hoặc kết quả bảo tồn Qua đó cho thấy, lập kế hoạch tốt là nền tảng cho công tác quản lý hiệu quả

1.2.2 Quan điểm phát triển bền vững

Thuật ngữ Phát triển bền vững (Sustainable Development) lần đầu tiên được sử dụng trong bản “Chiến lược bảo tồn thế giới” do IUCN đề xuất năm 1980 Mục tiêu tổng thể của Chiến lược là “đạt được sự phát triển bền vững bằng cách bảo vệ các tài nguyên sinh vật” và thuật ngữ PTBV ở đây được đề cập tới với một nội dung hẹp, nhấn mạnh tính bền vững của sự phát triển về mặt sinh thái, nhằm kêu gọi việc bảo tồn các tài nguyên sinh vật

Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta”, Ủy ban quốc tế về Môi trường và Phát triển lần đầu tiên đã đưa ra một định nghĩa tương đối đầy đủ về PTBV là:

“Sự phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương khả năng của các thế hệ tương lai trong việc thỏa mãn các nhu cầu của chính họ” Nội hàm về PTBV được tái khẳng định ở Hội nghị Rio-92 và được bổ sung, hoàn chỉnh tại Hội nghị Johannesburg - 2002: “Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa ba mặt của sự phát triển Đó là: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” [34]

Hội nghị thượng đỉnh PTBV Liên hợp quốc diễn ra tại New York, Hoa Kỳ từ ngày 25 - 27 tháng 9 năm 2015 đã thông qua một Chương trình hành động PTBV mới

“Thay đổi thế giới của chúng ta: Chương trình hành động phát triển bền vững 2030” (gọi tắt là Chương trình nghị sự 2030) [148], bao gồm một bản tuyên bố với 17 mục tiêu chung và 169 mục tiêu cụ thể Các mục tiêu trong Chương trình nghị sự 2030 được xem như là định hướng mang tính toàn cầu và mỗi quốc gia cần phải đặt ra các mục tiêu phù hợp với bối cảnh của quốc gia để thực hiện Đồng thời, các quốc gia cũng sẽ phải quyết định cách thức thực hiện và lồng ghép những chỉ tiêu PTBV toàn cầu vào quá trình lập kế hoạch và xây dựng các chiến lược, chính sách của quốc gia

Trang 28

Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, PTBV là sự phát triển nhằm thỏa

mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thỏa mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai

Trong lĩnh vực di sản, việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVH và thiên nhiên hướng tới mục tiêu PTBV là hết sức cần thiết, bởi lẽ nếu được quản lý theo hướng PTBV, các di sản sẽ không chỉ được bảo vệ tốt, các giá trị của nó được phổ biến rộng rãi cho các thế hệ mà quan trọng hơn, nó sẽ tạo ra các cơ hội để con người hiểu biết thêm về di sản, được nhận các lợi ích từ di sản đem lại, có trách nhiệm với di sản, góp phần vào việc đảm bảo quyền con người

Chính vì vậy, trong nhiều văn bản của UNESCO đã đề cập đến PTBV, yêu cầu thực hiện vì mục tiêu này, trong đó có Chính sách về DSTG và PTBV của UNESCO [129]

Về lịch sử ra đời, Chính sách về DSTG và PTBV cũng trải qua một quá trình khá dài Mặc dù Công ước Di sản Thế giới không trực tiếp nêu về PTBV nhưng nội dung của Điều 4 và Điều 5 của Công ước đã mang tinh thần của quan điểm này, bằng việc thừa nhận rằng các quốc gia thành viên có nghĩa vụ “đảm bảo việc xác định, bảo

vệ, bảo tồn, trình bày và truyền lại cho các thế hệ tương lai DSVH và thiên nhiên”, cũng như “thực hiện một chính sách chung nhằm mục đích cung cấp cho DSVH và thiên nhiên một chức năng trong đời sống của cộng đồng và lồng ghép việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình kế hoạch toàn diện” Hơn nữa, trong các Điều khoản này, phạm vi hoạt động của Công ước dường như vượt ra ngoài các địa điểm được đưa vào Danh sách DSTG, để bao gồm các chính sách di sản quốc gia và các chiến lược phát triển rộng lớn hơn Đến năm 1994 thì khái niệm bền vững mới được đưa vào Hướng dẫn thực hiện Công ước việc “sử dụng bền vững” các cảnh quan văn hóa

Năm 2002, tại Kỳ họp lần thứ 26 Ủy ban DSTG đã nhấn mạnh việc đảm bảo thích hợp, cân bằng giữa bảo tồn bền vững và phát triển về DSTG có thể bảo vệ thích hợp, đóng góp cho phát triển kinh tế, xã hội và cuộc sống của cộng đồng Năm 2007,

Kỳ họp lần thứ 31 Ủy ban DSTG có bổ sung thuật ngữ “cộng đồng”, trong đó có đoạn “cần nâng cao vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện Công ước Di sản Thế giới” Năm 2011 tại Kỳ họp thứ 35 Ủy ban DSTG, các nội dung đề cập đến PTBV được sử dụng nhiều trong Hướng dẫn thực hiện Công ước (đặc biệt là trong các Điều

112, 119, 132, Phụ lục số 5 ở điểm 4.b và 5.e), nhấn mạnh bảo vệ giá trị nổi bật toàn

Trang 29

cầu và quản lý bền vững DSTG, trên cơ sở đó đề xuất việc nên lồng ghép các nguyên tắc về PTBV vào quá trình thực hiện Công ước, và trong “Kế hoạch hành động chiến lược để thực hiện Công ước, giai đoạn 2012-2022” cũng quan tâm đến việc lồng ghép PTBV, đóng góp cho cộng đồng, các nền văn hóa, nhấn mạnh bảo tồn, đặc biệt là thông qua kết nối giữa bảo tồn với cộng đồng Năm 2012, tại Kỳ họp thứ 36 Ủy ban DSTG đã xem xét việc lồng ghép PTBV vào các quy trình của Công ước cần được thúc đẩy thông qua một chính sách cụ thể Ủy ban DSTG đã yêu cầu WHC, với sự hỗ trợ của các Cơ quan tư vấn, triệu tập một nhóm chuyên gia để phát triển một chính sách để lồng ghép PTBV vào các quy trình của Công ước, để có thể đưa vào tài liệu hướng dẫn Chính sách trong tương lai

Vào ngày 19 tháng 11 năm 2015, Đại hội đồng lần thứ 20 của các quốc gia thành viên Công ước đã thông qua “Chính sách về việc lồng ghép quan điểm phát triển bền vững vào các quy trình của Công ước Di sản Thế giới” [129] Các thể chế, cộng đồng và mạng lưới, thông qua hướng dẫn thích hợp, để khai thác tiềm năng của các DSTG nói chung, để đóng góp vào PTBV và do đó tăng hiệu quả và tính phù hợp của Công ước trong khi vẫn tôn trọng mục đích chính và nhiệm vụ bảo vệ các giá trị nổi bật toàn cầu của DSTG, phù hợp với “Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững” của Liên hợp quốc “UNESCO là một cơ quan của hệ thống tổ chức Liên hợp quốc và Ủy ban DSTG đã nhất trí về trách nhiệm thúc đẩy Chương trình nghị sự Liên hợp quốc về PTBV nhằm đảm bảo rằng mọi chương trình hoạt động của UNESCO gắn liền và phù hợp với các nguyên tắc về PTBV” [115, tr.74] Chính sách về DSTG và PTBV của UNESCO nhằm đưa hệ thống DSTG gắn kết với Chương trình Nghị sự về PTBV của Liên hợp quốc

Chính sách gồm có 33 Đoạn, chia làm 3 phần: phần thứ nhất là nhu cầu của Chính sách; phần thứ hai là các điều khoản chung; phần thứ 3 là những khía cạnh của PTBV Việc đạt được PTBV được nhìn nhận phụ thuộc vào 3 nguyên tắc bao trùm và bốn nhóm yếu tố cơ bản đó là: Các nguyên tắc bao trùm về quyền con người, sự bình đẳng và bền vững trong dài hạn; Bốn nhóm yếu tố cơ bản về bền vững môi trường, phát triển xã hội cho mọi người, tăng trưởng kinh tế cho mọi người và thúc đẩy hòa bình và an ninh Cụ thể:

Trang 30

* Các nguyên tắc bao trùm:

- Nguyên tắc Quyền con người

Chính sách ghi nhận rằng các quyền con người được ghi trong Hiến chương Liên hợp quốc và các văn kiện về nhân quyền đã được phê chuẩn, phản ánh “các giá trị

cơ bản thúc đẩy tính tiềm năng và nhân phẩm, hòa bình và phát triển bền vững” Chính sách đòi hòi các quốc gia thành viên “tôn trọng, bảo vệ và phát huy các quyền văn hóa, kinh tế, xã hội và môi trường của con người” trong việc thực hiện Công ước Di sản Thế giới Các quốc gia thành viên cần: “Đảm bảo rằng toàn bộ chu trình của các quy trình

di sản từ đề cử tới quản lý phải tương thích và ủng hộ quyền con người; Thông qua phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở quyền con người, thúc đẩy các DSTG trở thành những hình mẫu của việc áp dụng những tiêu chuẩn cao nhất về tôn trọng và hiện thực hóa quyền con người…”

- Nguyên tắc công bằng

Chính sách nhìn nhận việc “Giảm bất bình đẳng trong mọi xã hội là vô cùng cần thiết cho một tầm nhìn về phát triển bền vững toàn diện Do đó, việc bảo tồn và quản lý các DSTG cần đóng góp vào việc giảm thiểu bất bình bẳng, cũng như những nguyên nhân có tính cấu trúc dẫn tới việc phân biệt đối xử và loại trừ khỏi phát triển”

- Tính bền vững trong dài hạn

Theo tinh thần của văn bản này, tính bền vững phải “được coi là một nguyên tắc căn bản của tất cả các khía cạnh của phát triển và của tất cả các xã hội Trong khuôn khổ Công ước Di sản Thế giới, tính bền vững đồng nghĩa với việc áp dụng một cách nhìn dài hạn trong tất cả các quy trình ra quyết định đối với các DSTG, nhằm mục đích tăng cường sự bình đẳng, công bằng và xây dựng một thế giới mà cả thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai cùng được hưởng lợi”

Trang 31

Việc quan tâm đến tính bền vững của môi trường còn được thể hiện ở những DSVH và hỗn hợp của thế giới, bao gồm cả cảnh quan văn hóa Vì thế, Chính sách cũng nêu rõ “các quốc gia thành viên phải củng cố sự bền vững của môi trường ở tất cả các khu DSTG để đảm bảo sự nhất quán về Chính sách và sự tương hỗ lẫn nhau giữa Chính sách với những hiệp định đa phương khác về môi trường…”

- Phát triển xã hội

Chính sách nhìn nhận sự phát triển xã hội như là trọng tâm của việc thực hiện Điều 5 của Công ước Di sản Thế giới Đó là việc các quốc gia thành viên “trao cho DSVH và thiên nhiên chức năng trong đời sống của cộng đồng”, tức là việc tôn trọng và công bằng đối với tất cả các bên liên quan, bao gồm các cộng đồng địa phương và bản địa có liên quan tới di sản, cùng với cam kết về đảm bảo bình đẳng giới như là điều kiện

cơ bản cho sự phát triển bao trùm của xã hội, với tinh thần “phát triển cho mọi người phải được củng cố trong các biện pháp quản trị toàn diện”, với các yêu cầu cụ thể như: xây dựng chính sách và có các can thiệp bảo tồn phù hợp, nhằm thúc đẩy sự cân bằng, giảm thiểu các bất bình đẳng về kinh tế và xã hội và giảm thiểu sự loại trừ đối với tất cả mọi người, không phân biệt tuổi tác, giới tính, khuyết tật, dân tộc, nguồn gốc, tôn giáo, điều kiện kinh tế hoặc những điều kiện khác

- Phát triển kinh tế

Chính sách nhìn nhận việc xóa đói nghèo là “một yêu cầu tất yếu cho sự PTBV và

sự phồn vinh của các thế hệ hôm nay và mai sau” Và vì thế, một chính sách về kinh tế bao trùm cần đảm bảo “Công tác quản lý và bảo tồn các DSTG phải góp phần thúc đẩy

sự phát triển kinh tế toàn diện của địa phương và cải thiện sinh kế”, thúc đẩy “đầu tư kinh tế và du lịch có chất lượng”, tăng cường “xây dựng năng lực, đổi mới và năng lực kinh doanh địa phương” Để làm được điều đó, cần “phát triển các chương trình giáo dục

và xây dựng năng lực dựa vào đổi mới và tinh thần kinh doanh địa phương, đặc biệt hướng đến các cấp quy mô nhỏ, vừa và siêu nhỏ…”

- Hòa bình và an ninh

Kể từ khi Công ước Di sản Thế giới trở thành một trong những sứ mệnh cơ bản của UNESCO trong việc tạo dựng cầu nối hướng tới hòa bình và an ninh, Công ước này đòi hỏi Ủy ban DSTG và các quốc gia thành viên cần đảm bảo các quy trình thiết lập

Trang 32

dưới Công ước được sử dụng để thúc đẩy việc đạt được và duy trì hòa bình và an ninh, trong nội bộ các quốc gia và giữa các quốc gia thành viên Trong số rất nhiều hàm ý, điều này có nghĩa rằng: Công nhận rằng việc thúc đẩy hòa bình và an ninh đòi hỏi “tôn trọng các quyền con người, các hệ thống tư pháp hiệu quả, các quy trình chính sách toàn diện và hệ thống phù hợp để ngăn ngừa xung đột, cũng như giải quyết và phục hồi sau xung đột”; Cân nhắc Danh sách đề cử dự kiến và ghi danh DSTG phải “có tiềm năng tạo

ra đối thoại giữa các quốc gia thành viên và giữa các cộng đồng có văn hóa khác biệt…; Thông qua các cách tiếp cận nhạy cảm văn hóa đối với việc diễn giải các DSTG…; Cân nhắc các đề cử di sản xuyên biên giới/xuyên quốc gia với tiềm năng thúc đẩy đối thoại

Có thể thấy, việc UNESCO thông qua Chính sách về DSTG và PTBV thể hiện một sự thay đổi đáng kể trong việc thực hiện Công ước Di sản Thế giới và “là một bước tiến quan trọng đối với UNESCO và Chương trình Di sản Thế giới trong việc thiết lập một khung nguyên tắc chung và các mục tiêu khát vọng đối với các phương diện tiêu biểu của phát triển bền vững” [115, tr.78] Và luận án sẽ sử dụng 4 nhóm yếu

tố chủ yếu mà UNESCO đưa ra nói trên để đánh giá hiệu quả quản lý các DSTG ở Việt Nam, coi đó là thước đo của việc thực hiện mục tiêu PTBV

1.2.3 Nội dung quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam

Để đưa ra nội dung quản lý DSTG ở Việt Nam, luận án căn cứ vào các điều khoản của Công ước Di sản Thế giới và các hướng dẫn cụ thể thực hiện Công ước

* Công ước Di sản Thế giới

Công ước Di sản Thế giới [126] có nguồn gốc từ ý tưởng tạo ra một cuộc vận động quốc tế bảo vệ di sản xuất hiện sau Chiến tranh thế giới I, năm 1972 Công ước được phát triển từ việc hợp nhất hai cuộc vận động riêng rẽ, một cuộc vận động bảo tồn các địa điểm văn hóa và một cuộc vận động bảo tồn thiên nhiên

Về bảo tồn DSVH, từ sự kiện xây dựng đập Aswan ở Ai Cập, nước sẽ ngập thung lũng có các đền Abu Simbel kho báu của nền văn minh cổ Ai Cập, năm 1959, sau lời kêu gọi của Chính phủ Ai Cập và Xu-đăng, UNESCO phát động một chiến dịch bảo vệ mang tầm quốc tế Các nghiên cứu khảo cổ trong khu vực bị ngập nước được tiến hành, các đền Abu Simbel và Philae được tháo dỡ đưa lên vùng đất khô

và lắp ráp lại Chiến dịch tiêu tốn 80 triệu Đô la Mỹ, với sự đóng góp của khoảng 50

Trang 33

quốc gia, chỉ ra tầm quan trọng của sự đoàn kết và việc chia sẻ trách nhiệm của các quốc gia trong việc bảo tồn các địa điểm văn hóa nổi bật Sau đó có các chiến dịch khác như cứu vãn Venice (Italia), di tích Moenjodaro (Pakistan), tu bổ đền Borobodur (Indonesia) Từ các kết quả đó UNESCO với sự giúp đỡ của ICOMOS chuẩn bị dự thảo Công ước về Bảo vệ DSVH, dự thảo mang nhiều ảnh hưởng của Hiến chương Venice do ICOMOS ban hành năm 1964 như môi trường di tích, tính xác thực/nguyên gốc của di tích

Về bảo vệ di sản thiên nhiên, ý tưởng gắn kết bảo tồn địa điểm văn hóa với các địa điểm thiên nhiên xuất phát từ một hội thảo tại Whasington, D.C năm 1965 kêu gọi

“Quỹ ủy thác Di sản Thế giới” với sự hợp tác quốc tế nhằm bảo vệ các khu thắng cảnh

và thiên nhiên và các địa điểm lịch sử nổi bật cho hiện tại và tương lai của toàn thể nhân dân thế giới Năm 1968, IUCN phát triển các đề nghị tương tự đến các thành viên Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên Những đề nghị này được trình bày tại Hội thảo về môi trường con người tại Stockhom Cuối cùng một nội dung riêng được tất cả các thành viên liên quan thông qua Công ước Di sản Thế giới được thông qua tại Phiên họp lần thứ 17 của Đại hội đồng UNESCO tại Paris vào ngày 16 tháng 11 năm 1972 Cũng trong phiên họp toàn thể đó thông qua bản khuyến nghị về bảo vệ ở cấp độ quốc gia về DSVH và thiên nhiên

Đây là Công ước quốc tế đầu tiên gắn khái niệm bảo vệ thiên nhiên với bảo vệ DSVH, mang đến một cách tiếp cận mới với những cơ sở pháp lý cần thiết, đảm bảo mối quan hệ cân bằng, hài hòa giữa con người với thiên nhiên, giữa quá khứ, hiện tại

và tương lai Công ước giúp các nước thành viên gắn kết việc bảo vệ di sản với chiến lược quy hoạch, phát triển địa phương; bảo vệ bền vững không chỉ DSVH mà còn bảo

vệ các DSVH của mỗi quốc gia

Mục đích chính của Công ước nhằm xác định các địa điểm văn hóa và thiên nhiên trên thế giới được coi là di sản chung của nhân loại mà nếu mất đi sẽ là một tổn thất không thể bù đắp được Công ước đã xây dựng một danh sách các DSVH và thiên nhiên có giá trị toàn cầu nổi bật UNESCO đã mô tả di sản “là những gì chúng ta kế thừa từ quá khứ, những gì đang hiện hữu trong đời sống của chúng ta và là những gì chúng ta truyền lại cho thế hệ mai sau”

Trang 34

Từ khi ra đời năm 1972 cho đến nay, Công ước không thay đổi với 08 Chương,

38 Điều, đề cập đến nhiều vấn đề quan trọng về DSTG: Công ước xác định các loại địa điểm tự nhiên hoặc văn hóa có thể được xem xét để ghi vào Danh sách DSTG Công ước đặt ra nhiệm vụ của các quốc gia thành viên trong việc xác định các địa điểm tiềm năng và vai trò của họ trong việc bảo vệ và giữ gìn các di sản Mỗi quốc gia cam kết bảo tồn không chỉ các DSTG nằm trên lãnh thổ của mình mà còn bảo vệ các di sản khác của quốc gia mình Các quốc gia thành viên được khuyến khích lồng ghép việc bảo vệ di sản vào các chương trình quy hoạch khu vực, thiết lập đội ngũ nhân viên và dịch vụ tại địa điểm của họ, thực hiện nghiên cứu khoa học và kỹ thuật và áp dụng các biện pháp giúp di sản có chức năng trong cuộc sống hằng ngày của cộng đồng Công ước giải thích cách thức sử dụng và quản lý “Quỹ Di sản Thế giới” và trong những điều kiện nào có thể cung cấp hỗ trợ tài chính quốc tế Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên phải báo cáo thường xuyên cho Ủy ban DSTG về tình trạng bảo tồn các DSTG của họ Các báo cáo này rất quan trọng đối với công việc của Ủy ban vì chúng cho phép Ủy ban đánh giá các điều kiện của di sản, quyết định các nhu cầu cụ thể của chương trình và giải quyết các vấn đề thường xuyên Công ước cũng khuyến khích các quốc gia thành viên tăng cường đánh giá cao của công chúng đối với các DSTG và tăng cường bảo vệ chúng thông qua các chương trình giáo dục và thông tin

Dù không trực tiếp đề cập đến quản lý DSTG, song trong một số Điều của Công ước, như Điều 4, 5, 7, 27 và 29 có đề cập tới những công việc mà mỗi quốc gia phải thực hiện Có thể tóm lược nội dung cơ bản của các Điều này như sau:

Điều 4: Mỗi quốc gia thành viên có trách nhiệm đảm bảo việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và truyền lại cho các thế hệ tương lai DSVH và thiên nhiên nằm trên lãnh thổ của mình Cần sử dụng tối đa các nguồn lực của chính mình và, nếu phù hợp, với sự hỗ trợ và hợp tác quốc tế có thể huy động đặc biệt là về tài chính, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật vì mục tiêu này

Điều 5: Các quốc gia thành viên sẽ nỗ lực hết sức và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, trong việc:

a) Thực hiện một chính sách chung nhằm trao cho DSVH và thiên nhiên một chức năng trong đời sống của cộng đồng và đưa việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình quy hoạch toàn diện

Trang 35

b) Thiết lập một hoặc nhiều cơ quan bảo vệ, bảo tồn và giới thiệu DSVH và thiên nhiên với một đội ngũ nhân viên phù hợp và các phương tiện để giúp họ hoàn thành nhiệm vụ

c) Tiến hành các nghiên cứu khoa học kỹ thuật và xác lập các phương pháp hoạt động để quốc gia đó có thể đối phó với những hiểm họa đe dọa DSVH và thiên nhiên của mình

d) Tiến hành những biện pháp thích hợp về luật pháp, khoa học, kỹ thuật, hành chính và tài chính cần thiết cho việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, giới thiệu và phục hồi di sản đó

e) Khuyến khích thiết lập hoặc phát triển các trung tâm đào tạo tầm quốc gia hoặc khu vực về bảo vệ, bảo tồn và giới thiệu DSVH và thiên nhiên, và khuyến khích nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực này

Điều 7: Thiết lập một hệ thống hợp tác và hỗ trợ quốc tế nhằm giúp các quốc gia thành viên của Công ước trong các nỗ lực của họ để bảo tồn và xác định di sản

Như vậy, nhìn từ góc độ quản lý, ta có thể thấy Công ước tập trung vào các vấn đề: 1/ Xây dựng bộ máy và nguồn nhân lực quản lý DSTG

2/ Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý DSTG

3/ Tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật

4/ Xây dựng kế hoạch quản lý, quy hoạch và đầu tư nguồn lực kinh phí

5/ Hợp tác quốc tế

Trang 36

6/ Giám sát DSTG

* Hướng dẫn thực hiện Công ước Di sản Thế giới

Như đã đề cập, nội dung của Công ước Di sản Thế giới vẫn được giữ nguyên từ khi ra đời cho đến nay, nhưng Hướng dẫn thực hiện Công ước thường xuyên được sửa đổi, bổ sung để cập nhật những quyết định mới của Ủy ban DSTG và chi tiết, cụ thể hóa những quyết định đó, nhằm hỗ trợ các quốc gia thành viên thực hiện Công ước

Hướng dẫn thực hiện Công ước lần đầu tiên được thông qua vào ngày 30 tháng 6 năm 1977 và đến nay đã bổ sung, thay đổi 26 lần Các điều khoản của Hướng dẫn thực hiện Công ước cũng thay đổi theo xu hướng tăng lên, từ 28 điều vào năm 1977 lên thành

290 điều trong bản sửa đổi, bổ sung năm 2019 [Phụ lục 2]

Các nội dung liên quan đến quản lý DSTG được quy định cụ thể hơn trong Hướng dẫn thực hiện Công ước tại các Điều từ 96 - 118bis, 132 và Phụ lục số 5 của Hướng dẫn thực hiện Công ước [130], gồm:

1/ Các quốc gia có trách nhiệm và sử dụng tối đa các nguồn lực để bảo vệ di sản

2/ Trao cho DSVH và thiên nhiên một chức năng trong đời sống của cộng đồng

3/ Thiết lập cơ quan với đội ngũ nhân viên phù hợp và các phương tiện để thực hiện việc bảo vệ, bảo tồn và giới thiệu di sản

4/ Tiến hành các nghiên cứu khoa học kỹ thuật

5/ Xây dựng hệ thống luật pháp phù hợp

6/ Thiết lập các trung tâm đào tạo tầm cỡ quốc tế hoặc khu vực

7/ Thực hiện việc báo cáo

8/ Xây dựng kế hoạch quản lý phù hợp

9/ Xác định các mối đe dọa, biện pháp bảo tồn và giám sát đối với di sản

Từ những nội dung trên, luận án xác định quản lý DSTG ở Việt Nam gồm:

1 Xây dựng bộ máy và nguồn nhân lực quản lý DSTG

2 Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý DSTG

3 Xây dựng Kế hoạch quản lý, Quy hoạch và đầu tư nguồn lực kinh phí cho DSTG

Trang 37

4 Hoạt động nghiên cứu khoa học kỹ thuật

1.3 Khái quát về các Di sản Thế giới ở Việt Nam

1.3.1 Quần thể di tích Cố đô Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế)

Kinh thành Huế được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ VHTTDL) xếp hạng

di tích quốc gia từ năm 1997 Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Quần thể di tích Cố đô Huế là di tích quốc gia đặc biệt Tại Kỳ họp lần thứ 17 Ủy ban DSTG ngày

11 tháng 12 năm 1993, Quần thể di tích Cố đô Huế được UNESCO ghi danh là DSVHTG, bao gồm 16 điểm di tích, với diện tích vùng lõi là 315,47ha và vùng đệm của Kinh thành Huế là 71,93ha thuộc địa bàn 4 huyện, thị xã, thành phố: thành phố Huế, thị xã Hương Trà, thị xã Hương Thủy và huyện Phú Vang Bên cạnh đó, Huế còn

là nơi tồn tại các DSVH phi vật thể, di sản tư liệu hết sức phong phú và đa dạng, với các loại hình khác nhau được UNESCO vinh danh, gồm: Nhã nhạc - âm nhạc cung đình Việt Nam (2003 - di sản phi vật thể), Mộc bản triều Nguyễn (2009 - di sản tư liệu); Châu bản triều Nguyễn (2014 - di sản tư liệu) và Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016 - di sản tư liệu)

Với tư cách là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất vào năm 1802, Huế không chỉ là trung tâm chính trị mà còn là trung tâm văn hóa và tôn giáo của Việt Nam dưới triều Nguyễn, vương triều cuối cùng của lịch sử Việt Nam từ năm 1802 đến năm 1945 Quy hoạch của Kinh đô Huế phù hợp với triết lý cổ phương Đông và tôn trọng những điều kiện tự nhiên Núi Ngự Bình (được biết đến với vai trò là “tiền án”) và sông Hương chảy qua giữa lòng thành phố, là những yếu tố tự nhiên đem lại cho Kinh đô Huế vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời cũng như sự thể hiện rõ nét tầm quan trọng về tính biểu tượng của di sản Những di tích đã được lựa chọn với sự kết hợp của các đặc điểm

tự nhiên - những ngọn đồi biểu thị cho bình phong che chắn trước các di tích, hoặc giữ

Trang 38

vai trò “tả Thanh Long”, “hữu Bạch Hổ” trong nguyên lý phong thủy góp phần bảo vệ cổng chính và lối ra vào của các kiến trúc cung đình Huế Những đặc điểm chính của quy hoạch thành phố đã được hình thành trong môi trường cảnh quan thiên nhiên ấy

Vị trí của những di tích thuộc Quần thể di tích Cố đô Huế được lựa chọn kỹ lưỡng

trong mối quan hệ với cảnh quan thiên nhiên tương ứng về mặt vũ trụ với ngũ phương (trung tâm, tây, đông, bắc, nam), ngũ hành (thổ, kim, mộc, thủy, hỏa) và ngũ sắc (vàng,

trắng, xanh, đen, đỏ)

Cụm di tích quan trọng nhất tập trung ở khu vực Kinh thành Huế Bên trong Kinh thành không chỉ có các công trình mang chức năng hành chính và quân sự của vương triều mà còn có Hoàng thành, Tử cấm thành và các cung điện hoàng gia có liên quan Trấn Bình Đài là công trình phòng vệ nằm ở phía Đông Bắc của Kinh thành để kiểm soát sự ra vào trên sông Một pháo đài khác, Trấn Hải thành được xây dựng sau

đó để bảo vệ kinh đô chống lại các cuộc tấn công từ phía biển Bên ngoài Kinh thành còn có nhiều di tích quan trọng khác có liên quan Ở những khu vực xa trung tâm có các di tích tín ngưỡng quan trọng phục vụ đời sống nghi lễ của triều đại, như: Văn Miếu, đàn Nam Giao, Hổ Quyền, điện Voi Ré và chùa Thiên Mụ Xa hơn về phía thượng nguồn, dọc theo dòng sông Hương là những lăng tẩm của các vị vua

Quần thể di tích Cố đô Huế được ghi danh theo tiêu chí iv: Là ví dụ nổi bật về một kinh đô phong kiến phương Đông [140]

1.3.2 Khu phố cổ Hội An (tỉnh Quảng Nam)

Bắt đầu từ thập niên 1980, những giá trị kiến trúc và văn hóa của Khu phố cổ Hội

An dần được giới học giả và cả du khách chú ý Năm 1985, Khu phố cổ Hội An được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích quốc gia và năm 2009 được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt Tại Kỳ họp lần thứ 23 Ủy ban DSTG, ngày 01 tháng

12 năm 1999, Khu phố cổ Hội An được UNESCO ghi danh là DSVHTG, với diện tích vùng lõi là 30ha thuộc phường Minh An và vùng đệm là 280ha thuộc các phường Minh

An, Sơn Phong và Cẩm Phô của thành phố Hội An Bên cạnh đó, Hội An hiện còn tồn tại khá đậm nét các loại hình DSVH phi vật thể phản ánh bề dày lịch sử văn hóa và quá trình giao lưu tiếp biến giữa các nền văn hóa phương Đông và phương Tây, trong đó có Nghệ thuật Bài Chòi Trung Bộ Việt Nam đã được UNESCO đưa vào Danh mục DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại, một số loại hình DSVH phi vật thể tiêu biểu đã được

Trang 39

Bộ VHTTDL ghi vào Danh mục DSVH phi vật thể quốc gia như nghề yến Thanh Châu,

nghề mộc Kim Bồng và nghề gốm Thanh Hà

Khu phố cổ Hội An là một mẫu điển hình của một thương cảng cổ quy mô nhỏ được bảo tồn tốt, có niên đại từ thế kỷ XV - XIX, có mối quan hệ giao thương rộng lớn với các vùng Đông Nam Á, Đông Á và các vùng còn lại trên thế giới Sự suy tàn của một đô thị thương cảng vào cuối thế kỷ XIX lại giúp cho khu di sản lưu giữ hầu như nguyên vẹn hình thái đô thị truyền thống của nó Khu phố cổ đã phản ánh sự tổng hòa của các nền văn hóa bản địa với văn hóa nước ngoài (ban đầu là ảnh hưởng của Trung Hoa, Nhật Bản, sau đó là các nước Châu Âu) để tạo thành khu di sản độc đáo này

Khu phố cổ Hội An là một quần thể gồm 1.107 công trình kiến trúc gỗ với tường bằng gạch hoặc gỗ bao bọc xung quanh được bảo tồn nguyên vẹn, trong đó có các công trình kiến trúc, các kết cấu nhà ở, cửa hiệu cùng với các loại hình chợ, bến sông, các công trình tôn giáo, tín ngưỡng như chùa, nhà thờ tộc Các ngôi nhà lợp ngói, bên trong là các cấu kiện gỗ được chạm trổ với những mô tuýp trang trí truyền thống Các kết cấu kiến trúc bằng gỗ và bố cục đường phố hiện đều còn nguyên vẹn, cùng thể hiện cảnh quan của một khu phố truyền thống thế kỷ XVII, XVIII và mang tính độc đáo trong khu vực Hiện nay, trong khu di sản người dân vẫn đang sinh sống, đảm bảo giữ nguyên chức năng của một cảng thị, của một trung tâm thương mại Di sản được ghi danh với 02 tiêu chí:

- Tiêu chí (ii): là một biểu hiện vật thể nổi bật của sự kết hợp các nền văn hóa

qua các thời kỳ trong một thương cảng quốc tế

- Tiêu chí (v): là một điển hình tiêu biểu về một cảng thị Châu Á truyền thống

được bảo tồn một cách hoàn hảo [141]

1.3.3 Khu đền tháp Mỹ Sơn (tỉnh Quảng Nam)

Khu đền tháp Mỹ Sơn được Bộ Văn hóa (nay là Bộ VHTTDL) xếp hạng di tích quốc gia năm 1979 Năm 2009, Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Khu đền tháp Mỹ Sơn

là di tích quốc gia đặc biệt Ngày 01 tháng 12 năm 1999, tại Kỳ họp lần thứ 23 Ủy ban DSTG, Khu đền tháp Mỹ Sơn được UNESCO ghi danh là DSVHTG, với diện tích vùng lõi là 142ha và vùng đệm là 920ha thuộc địa bàn các xã Duy Phú, Duy Hòa, Duy Sơn, Duy Tân và Duy Thu, huyện Duy Xuyên Tại Mỹ Sơn còn tồn tại một số loại hình

Trang 40

DSVH phi vật thể, trong đó nổi bật là văn nghệ dân gian Chăm được phục dựng và biểu diễn tại khu di tích, Lễ hội bà Thu Bồn được tổ chức hằng năm vào ngày 11 và 12 tháng Hai âm lịch tại làng Thu Bồn

Mỹ Sơn được xây dựng chủ yếu từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIII sau Công nguyên Khu đền tháp được bao bọc bởi những dãy núi thuộc huyện Duy Xuyên và nằm giữa cảnh quan thung lũng núi, nơi khởi nguồn của dòng nước chảy vào sông Thu Bồn Dòng sông Thu Bồn bắt nguồn từ đây và chảy qua khu di tích và vùng đồng bằng, khu vực cố đô lịch sử của Vương quốc Chămpa cổ và đổ ra biển Đông tại vùng cửa biển gần với Khu phố cổ Hội An

Khu đền tháp Mỹ Sơn được xem như tiêu biểu cho kiến trúc tôn giáo Chămpa Các đền tháp nơi đây có nhiều kiến trúc phong phú, song nhìn chung đều có tư thế vút lên cao, biểu trưng cho sự vĩ đại và thanh khiết của ngọn núi Meru, ngọn núi thiêng trung tâm của vũ trụ và là nơi trú ngụ của các vị thần trong Ấn Độ giáo

Tất cả các đền tháp và các công trình phụ đều được xây bằng gạch với một kỹ thuật tinh tế mà đến nay còn là điều bí ẩn Các mô típ trang trí hoa văn trên các trụ đá cùng với những tượng tròn và phù điêu sa thạch được chạm khắc dựa theo các thần thoại Ấn Độ… Sự kết hợp hài hòa với những mô típ chạm trổ tinh xảo trên các mảng tường gạch ngoài tháp đã tạo cho Khu đền tháp Mỹ Sơn vẻ đẹp mỹ miều sinh động, mang những nét đặc trưng nhất của phong cách nghệ thuật Chămpa với nét kiến trúc độc đáo duy nhất tại khu vực Đông Nam Á Di sản được ghi danh với 02 tiêu chí:

- Tiêu chí (ii): là điển hình nổi bật về sự giao lưu, hội nhập vào văn hóa bản địa những ảnh hưởng văn hóa từ bên ngoài, đặc biệt là nghệ thuật và kiến trúc Ấn Độ, từ tiểu lục địa Ấn Độ

- Tiêu chí (iii): phản ánh sinh động vai trò của vương quốc Chămpa trong lịch sử văn hóa khu vực Đông Nam Á [137]

1.3.4 Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội (Hà Nội)

Quá trình nghiên cứu về Khu Trung tâm Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội là một bước tiến lớn kể từ tháng 3 năm 2002, khi đó khu 18 Hoàng Diệu (48.000m2) là khu tập thể quân đội nằm trong quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt,

di dời để thực hiện Dự án xây dựng Nhà Quốc hội và Hội trường Ba Đình (mới)

Ngày đăng: 22/09/2021, 18:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Việt Anh (2020), “Những thành tựu của Hoàng Thành Thăng Long sau 10 năm được UNESCO vinh danh Di sản văn hóa thế giới (2010-2020)”, Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế 10 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản thế giới Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội, tr 14-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những thành tựu của Hoàng Thành Thăng Long sau 10 năm được UNESCO vinh danh Di sản văn hóa thế giới (2010-2020)”, "Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế 10 năm nghiên cứu, bảo tồn và phát huy giá trị Di sản thế giới Hoàng Thành Thăng Long - Hà Nội
Tác giả: Trần Việt Anh
Năm: 2020
2. Đặng Văn Bài (2001), “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 4, tr 11-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2001
3. Đặng Văn Bài (2008), “Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 1 (22), tr 24 -28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2008
4. Đặng Văn Bài (2013), “Bàn luận về danh hiệu di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 1 (42), tr 26-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn luận về danh hiệu di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của UNESCO”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2013
5. Đặng Văn Bài (2016), “Huế với những nỗ lực thiết lập, duy trì sự hài hòa/cân bằng động giữa bảo tồn và phát triển bền vững theo tinh thần Công ước của UNESCO”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4 (57), tr 3-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huế với những nỗ lực thiết lập, duy trì sự hài hòa/cân bằng động giữa bảo tồn và phát triển bền vững theo tinh thần Công ước của UNESCO”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2016
6. Đặng Văn Bài (2019), “Quản lý vùng đệm khu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long trong quá trình đô thị hóa thành phố Hạ Long”, Hội thảo "Tham vấn kết quả đánh giá hiệu quả quản lý Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý vùng đệm khu di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long trong quá trình đô thị hóa thành phố Hạ Long”, Hội thảo
Tác giả: Đặng Văn Bài
Năm: 2019
7. Đặng Văn Bài và Nguyễn Viết Cường (2012), “Một số vấn đề cần đặt ra trong kế hoạch quản lý di sản Quần thể Danh thắng Tràng An”, Hội thảo Xác định giá trị nổi bật toàn cầu của Quần thể Danh thắng Tràng An, tr 83-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cần đặt ra trong kế hoạch quản lý di sản Quần thể Danh thắng Tràng An”, "Hội thảo Xác định giá trị nổi bật toàn cầu của Quần thể Danh thắng Tràng An
Tác giả: Đặng Văn Bài và Nguyễn Viết Cường
Năm: 2012
8. Nguyễn Chí Bền (2005), “Bảo tồn di sản văn hoá vật thể Thăng Long - Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4 (13), tr 31-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn di sản văn hoá vật thể Thăng Long - Hà Nội, những vấn đề phương pháp luận”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Năm: 2005
9. Trương Quốc Bình (2008), “Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa ở Việt Nam”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4 (25), tr 9-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội hóa các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị kho tàng di sản văn hóa ở Việt Nam”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Trương Quốc Bình
Năm: 2008
11. Phạm Sanh Châu (2011), “Sức sống cho sự tồn tại của di sản Việt Nam”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 1 (34), tr 9-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức sống cho sự tồn tại của di sản Việt Nam”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Phạm Sanh Châu
Năm: 2011
14. Trịnh Ngọc Chung (2016), Quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam (qua trường hợp Cố đô Huế và Đô thị cổ Hội An), Luận án tiến sĩ Văn hóa học, chuyên ngành Quản lý văn hóa, Viện Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam (qua trường hợp Cố đô Huế và Đô thị cổ Hội An)
Tác giả: Trịnh Ngọc Chung
Năm: 2016
15. Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam (2020), “Bảo tồn, phát huy giá trị đô thị di sản Hội An”. Truy cập lần cuối ngày 08/9/2021 từ: https://quangnam.gov.vn 16. Cục Di sản văn hóa (2014), Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữvà định nghĩa chung, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn, phát huy giá trị đô thị di sản Hội An”. Truy cập lần cuối ngày 08/9/2021 từ: "https://quangnam.gov.vn " 16. Cục Di sản văn hóa (2014), "Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ "và định nghĩa chung
Tác giả: Cổng thông tin điện tử tỉnh Quảng Nam (2020), “Bảo tồn, phát huy giá trị đô thị di sản Hội An”. Truy cập lần cuối ngày 08/9/2021 từ: https://quangnam.gov.vn 16. Cục Di sản văn hóa
Năm: 2014
17. Nguyễn Viết Cường (2013), “Kinh nghiệm và thực tiễn qua xây dựng hồ sơ Quần thể danh thắng Tràng An đệ trình UNESCO công nhận Di sản Thế giới”, Tạp chí Thế giới Di sản, số 3 - 2013 (78), tr 18-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm và thực tiễn qua xây dựng hồ sơ Quần thể danh thắng Tràng An đệ trình UNESCO công nhận Di sản Thế giới”, "Tạp chí Thế giới Di sản
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2013
18. Nguyễn Viết Cường (2013), “Thực tiễn công tác quản lý, bảo tồn Di sản Thế giới ở Việt Nam - Quy trình lập hồ sơ đề cử Di sản Thế giới”, Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Công ước và Hướng dẫn thực hiện Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới, Hạ Long ngày 15/7/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn công tác quản lý, bảo tồn Di sản Thế giới ở Việt Nam - Quy trình lập hồ sơ đề cử Di sản Thế giới”, "Hội nghị tuyên truyền, phổ biến Công ước và Hướng dẫn thực hiện Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2013
19. Nguyễn Viết Cường (2014), “Vấn đề nghiên cứu, áp dụng quy định quốc tế trong thực tiễn bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở nước ta”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 1 (46), tr. 20-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nghiên cứu, áp dụng quy định quốc tế trong thực tiễn bảo vệ và phát huy giá trị di tích ở nước ta”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2014
20. Nguyễn Viết Cường (2014), “Quản lý bền vững các khu Di sản Thế giới ở Việt Nam - Định hướng và kế hoạch hành động”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4 (49), tr 24-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý bền vững các khu Di sản Thế giới ở Việt Nam - Định hướng và kế hoạch hành động”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2014
21. Nguyễn Viết Cường (2014), “Việt Nam, Thành viên mới của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO”, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 355, tháng 01/2014, tr 4-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam, Thành viên mới của Ủy ban Di sản Thế giới UNESCO”, "Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2014
22. Nguyễn Viết Cường (2015), “Về Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử”, Tạp chí Di sản văn hóa, số 4 (53), tr. 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Khu di tích và danh thắng Tây Yên Tử”, "Tạp chí Di sản văn hóa
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2015
23. Nguyễn Viết Cường (2019), “Bảo tồn Di sản Thế giới ở Việt Nam gắn với phát triển bền vững”, Hội nghị quốc tế về các khu Di sản thế giới, Chương trình và Con người khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, ngày 06 - 11 tháng 12 năm 2019, Colombo, SriLanca Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn Di sản Thế giới ở Việt Nam gắn với phát triển bền vững”, "Hội nghị quốc tế về các khu Di sản thế giới, Chương trình và Con người khu vực Châu Á - Thái Bình Dương
Tác giả: Nguyễn Viết Cường
Năm: 2019
91. Văn phòng Chính phủ (2015), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm UNESCO. Truy cập lần cuối ngày 08/9/2021 từ: http://vpcp.chinhphu.vn/Home/Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung-tham-UNESCO/201512/17637.vgp Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm