LỜI CẢM ƠN Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay luận văn thạc sĩ kỹ thuật với đề tài “Nghiên cứu điều khiển kế hoạch tiến độ thi công xây dựng theo chỉ t
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay
luận văn thạc sĩ kỹ thuật với đề tài “Nghiên cứu điều khiển kế hoạch tiến độ thi công xây dựng theo chỉ tiêu hợp lý về thời gian và chi phí, áp dụng cho công trình Nhà làm việc Huyện ủy Việt Yên - tỉnh Bắc Giang” đã hoàn
thành đúng thời hạn và đảm bảo đầy đủ các yêu cầu đặt ra trong bản đề cương
đã được phê duyệt
Với tất cả sự kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng biết
ơn chân thành của mình tới thầy giáo GS.TS Vũ Thanh Te và thầy giáo TS
Đỗ Hồng Hải đã dành nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn và giúp đỡ tận tình tôi để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Ban giám hiệu trường Đại học Thủy Lợi; các thầy cô giáo trong Khoa Công Trình, Bộ môn Công nghệ và Quản lý xây dựng đã tận tình chỉ bảo, dạy dỗ tôi trong suốt quá trình học tập tại nhà trường và đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, thực hiện và hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này, chắc chắn khó tránh khỏi những sai xót Tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý, chỉ bảo
chân thành của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Học viên
Hoàng Mạnh Cường
Mang l■i tr■ nghi■m m■i m■ cho ng■■i dùng, công ngh■ hi■n th■ hi■ ■■ ■n online không khác gì so v■i b■n g■c B■n có th■ phóng to, thu nh■ tùy ý.
Trang 2BẢN CAM KẾT
Đề tài luận văn thạc sĩ kỹ thuật “Nghiên cứu điều khiển kế hoạch tiến
độ thi công xây dựng theo chỉ tiêu hợp lý về thời gian và chi phí, áp dụng cho công trình Nhà làm việc huyện ủy Việt Yên- tỉnh Bắc Giang” của học
viên đã được Nhà trường giao nghiên cứu theo quyết định số 2278/QĐ-ĐHTL ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Hiệu trưởng trường Đại học Thủy Lợi
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu trên là của riêng tôi Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây
Hà Nội, ngày tháng 5 năm 2014
Học viên
Hoàng Mạnh Cường
Trang 3M ỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
BẢN CAM KẾT ii
M ỤC LỤC iii
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 3
1.1 Đôi nét về thi công xây dựng công trình [8] 3
1.1.1 Thực chất của thi công xây dựng công trình 3
1.1.2 Những yếu tố chi phối quá trình thi công xây dựng công trình và hiệu quả của nó 3
1.2 Kế hoạch tiến độ trong xây dựng 5
1.2.1 Khái niệm [4] 5
1.2.2 Mục đích của việc lập tiến độ trong xây dựng [4] 7
1.2.3 Vai trò của việc lập kế hoạch tiến độ thi công [8] 8
1.2.4 Đặc điểm kế hoạch tiến độ thi công 9
1.2.5 Các căn cứ để lập kế hoạch tiến độ thi công xây dựng 10
1.2.6 Các bước lập tiến độ [4] 11
1.3 Các phương pháp sử dụng để lập kế hoạch tiến độ xây dựng 17
1.3.1 Nguyên tắc lập kế hoạch tiến độ thi công [4] 17
1.3.2 Các phương pháp sử dụng để lập kế hoạch tiến độ [7] 22
1.4 Các phương pháp tổ chức xây dựng được sử dụng trong lập kế hoạch tiến độ [7] 26
1.4.1 Tổ chức thi công theo phương pháp tuần tự 27
1.4.2 Tổ chức thi công theo phương pháp song song 28
Trang 41.4.3 Tổ chức thi công theo phương pháp dây chuyền 30
1.5 Các phương pháp kiểm tra tiến độ [4] 32
1.5.1 Phương pháp đường phân tích dùng để kiểm tra từng công việc 33
1.5.2 Phương pháp đường phần trăm 34
1.5.3 Phương pháp biểu đồ nhật ký 35
1.6 Đánh giá hiện trạng công tác lập kế hoạch tiến độ thi công hiện nay 35
KẾT LUẬN CHƯƠNG I 38
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN TRONG ĐIỀU KHIỂN KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 39
2.1 Thực trạng về điều khiển kế hoạch tiến độ trong giai đoạn hiện nay 39
2.1.1 Tiến độ các dự án trong giai đoạn hiện nay 39
2.1.2 Đánh giá tiến độ các dự án 43
2.1.3 Giải pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án 44
2.2 Giới thiệu một số bài toán trong điều khiển kế hoạch tiến độ [4] 45
2.2.1 Phương pháp lập kế hoạch tiến độ theo sơ đồ mạng 45
2.2.2 Một số bài toán tối ưu sơ đồ mạng 52
2.3 Lựa chọn bài toán hợp lý 66
2.3.1 Đặt vấn đề 66
2.3.2 Lựa chọn bài toán tối ưu 67
2.4 Lập kế hoạch tiến độ theo phần mềm Microsoft Project 2010 68
2.4.1 Giới thiệu về Microsoft Project 68
2.4.2 Nội dung của Microsoft Project 2010 69
2.4.3 Trình tự lập kế hoạch tiến độ cho một dự án 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 76
CHƯƠNG 3: ÁP DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀO ĐIỀU KHIỂN KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ XÂY DỰNG CHO CÔNG TRÌNH NHÀ LÀM VIỆC HUYỆN ỦY VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG 77
Trang 53.1 Giới thiệu khái quát về Dự án Nhà làm việc Huyện ủy Việt Yên, tỉnh
Bắc Giang 77
3.1.1 Mục đích xây dựng 77
3.1.2 Tổng quan về quy hoạch 78
3.1.3 Giới thiệu về dự án [6] 79
3.2 Lập kế hoạch tiến độ thi công theo Sơ đồ mạng cho dự án 83
3.2.1 Khối lượng và trình tự thi công các hạng mục chính của dự án [6] 83
3.2.2 Lập biểu đồ tiến độ thi công dự án theo sơ đồ mạng bằng phần mềm Microsoft Project 2010 85
3.3 Điều khiển kế hoạch tiến độ thi công dự án sao cho hợp lý theo chỉ tiêu về thời gian và chi phí 91
3.4 Đánh giá kết quả 93
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 100
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101 PHỤ LỤC TÍNH TOÁN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1- 1 Các bước lập tiến độ 13
Hình 1- 2 : Đặc tính biểu đồ nhân lực 21
Hình 1- 3: Hình thức đầu tư vào công trình 22
Hình 1- 4 Cấu trúc mô hình kế hoạch tiến độ ngang 23
Hình 1- 5 Cấu trúc mô hình kế hoạch tiến độ xiên 25
Hình 1- 6 Biểu đồ chu trình phương pháp thi công tuần tự 28
Hình 1- 7: Biểu đồ chu trình phương pháp thi công song song 30
Hình 1- 8: Biểu đồ chu trình phương pháp thi công dây chuyền 32
Hình 1- 9: Kiểm tra tiến độ bằng đường phân tích 33
Hình 1- 10: Kiểm tra tiến độ bằng đường phần trăm 34
Hình 1- 11: Biểu đồ nhật ký công việc 35
Hình 2- 1: Số lượng dự án phải điều chỉnh đầu tư [9] 40
Hình 2- 2: Hiện trạng nền mặt đường sau khi được đưa vào sử dụng [9] 42
Hình 2- 3 : Các bước lập sơ đồ mạng 51
Hình 2- 4 : Mối quan hệ giữa chi phí và thời gian thi công 57
Hình 2-5 : Mối quan hệ giữa cung và tiêu thụ tài nguyên 63
Hình 3- 1: Nhà làm việc Huyện ủy Việt Yên (hiện tại) 77
Hình 3- 2: Phối cảnh tổng thể 79
Hình 3- 3: Phối cảnh góc 79
Hình 3- 4: Kế hoạch tiến độ thi công dự án theo sơ đồ mạng (Phương án I) 86
Hình 3- 5: Kế hoạch tiến độ thi công dự án theo sơ đồ ngang (Phương án I) 87
Hình 3- 6: Biểu tích lũy vốn đầu tư xây dựng công trình theo thời gian (Phương án I) 88
Hình 3- 7: Biểu đồ vốn đầu tư xây dựng công trình theo thời gian (Phương án I) 89
Hình 3- 8: Hình thức đưa vốn đầu tư vào công trình tăng dần theo thời gian 90
Hình 3- 9: Kế hoạch tiến độ thi công dự án theo sơ đồ mạng (Phương án II) 93
Hình 3- 10: Kế hoạch tiến độ thi công dự án theo sơ đồ ngang (Phương án II) 94
Hình 3- 11: Biểu tích lũy vốn đầu tư xây dựng công trình theo thời gian (Phương án II) 95 Hình 3- 12: Biểu đồ vốn đầu tư xây dựng công trình theo thời gian (Phương án II) 96
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3-1: Khối lượng thi công các công việc chính của công trình 83 Bảng 3-4: Tính toán thiệt hại do ứ đọng vốn đầu tư cho phương án I 98 Bảng 3-5: Tính toán thiệt hại do ứ đọng vốn đầu tư cho phương án II 99
Trang 8MỞ ĐẦU
Gần ba mươi năm qua, đặc biệt là từ sau năm 1986 khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, thay đổi mọi mặt đời sống của người dân, như: kinh tế tăng trưởng ở mức tương đối cao, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, tình hình chính trị và xã hội ổn định, quan hệ đối ngoại được mở rộng
và vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế Có thể nói rằng tất cả các thành phần trong nền kinh tế thị trường đã bước đầu phát triển đáp ứng được nhu cầu của xã hội Một trong số đó phải kể đến lĩnh vực đầu tư xây dựng Lĩnh vực này đã phát triển cực kỳ mạnh mẽ kể từ khi mở cửa cải cách và thành tựu đạt được là vô cùng to lớn
Xây dựng là một ngành sản xuất cơ bản trong nền kinh tế quốc dân Ngành xây dựng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất,
kỹ thuật cho toàn xã hội Đặc biệt khi Việt Nam bắt đầu xây dựng nền kinh tế phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì ngành xây dựng càng có vị trí đặc biệt quan trọng Sản phẩm xây dựng gắn liền với tất cả các ngành sản xuất với tất cả các lĩnh vực kinh tế, nhất là trong giai đoạn phát triển ban đầu Xây dựng không chỉ có vai trò quan trọng trong việc phục vụ cho sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, mà nó còn tạo điều kiện để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các hoạt động xã hội, dân sinh, quốc phòng thông qua việc đầu tư xây dựng các công trình xã hội, dịch vụ cơ sở hạ tầng ngày càng đạt trình độ cao
Từ đó có thể thấy rằng, ngành xây dựng đã góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người dân trong xã hội, tạo điều kiện xóa bỏ dần cách biệt giữa thành thị - nông thôn, miền ngược - miền xuôi Nó giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, quyết định quy mô và trình độ kỹ thuật
Trang 9của xã hội, của đất nước nói chung và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn hiện nay nói riêng Có thể nói rằng xây dựng là biểu hiện
sự phát triển của xã hội Chính vì lẽ đó Nhà nước ta coi xây dựng là một trong những ngành công nghiệp nặng - ngành xây dựng cơ bản Gọi là xây dựng cơ bản là vì sản phẩm của nó là tài sản của xã hội góp phần làm ra những sản phẩm khác
Chúng ta đã biết công tác xây dựng là tập hợp nhiều quá trình sản xuất phức tạp liên quan đến nhiều ngành sản xuất khác nhau Việc đảm bảo sự phối hợp giữa các quá trình một cách nhịp nhàng, đạt hiệu quả là một bài toán phức tạp đòi hỏi người kỹ sư xây dựng phải biết lý thuyết hệ thống khoa học
và phương pháp kế hoạch tổ chức xây dựng Nghĩa là vận dụng kiến thức khoa học tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra mà không cần đầu tư thêm vật chất kỹ thuật hay tài nguyên
Có thể thấy rằng tổ chức xây dựng là hoàn thiện hệ thống quản lý, xác định các phương pháp tổ chức, chỉ đạo xây dựng một cách khoa học đảm bảo hiệu quả kinh tế kỹ thuật tối ưu khi xây dựng một công trình cũng như một hệ thống các công trình
Nhiệm vụ của những người trong ngành xây dựng là phải sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư để đạt được mục đích đề ra trong thời gian ngắn nhất Để đạt được mục đích trên người ta phải vận dụng sáng tạo những thành quả của khoa học, kỹ thuật, công nghệ, khai thác tiềm năng tự nhiên và cơ sở vật chất
kỹ thuật của các đơn vị sản xuất Tất cả điều đó phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất xây dựng của người điều hành trong quá trình xây dựng công trình
Trang 10CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KẾ HOẠCH TIẾN ĐỘ TRONG XÂY
DỰNG CÔNG TRÌNH
Thi công là quá trình qua đó nhà thầu với năng lực và điều kiện tương xứng, tổ chức kiến tạo công trình theo đúng bản vẽ thiết kế đã được duyệt, đúng tiêu chuẩn quy chuẩn trong xây dựng và những cam kết trong hợp đồng A-B Thi công tạo nên chất lượng tổng hợp và hiệu quả đích thực của các công trình xây dựng Thi công được biểu hiện trên 2 phương diện đó là:
phương diện kỹ thuật thực hiện và phương diện tổ chức thực hiện
+ Phương diện kỹ thuật thực hiện: Chỉ ra những giải pháp kỹ thuật nào
cụ thể sử dụng để thi công công trình đạt được chất lượng theo quy định
+ Phương diện tổ chức thực hiện: Chỉ ra việc bằng những phương án tổ chức thực hiện nào thì công trình được tạo ra vừa đảm bảo chất lượng quy
định, vừa rút ngắn thời gian thi công và giảm chi phí xây lắp
và hiệu quả của nó
Có nhiều vấn đề ảnh hưởng đến quá trình thi công xây dựng công trình, trong phạm vi luận văn này tác giả chỉ đề cập đến các yếu tố quan trọng ảnh
hưởng tới tổ chức thi công xây dựng công trình
Những đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến việc lập và quản lý tiến độ trong ngành xây dựng Sản phẩm xây dựng với tư cách
là các công trình hoàn chỉnh thường có các đặc điểm sau:
- Sản phẩm xây dựng là những công trình, nhà cửa được xây dựng và
sử dụng tại chỗ và phân bố tản mạn tại nhiều nơi trên lãnh thổ Đặc điểm này
làm cho sản xuất xây dựng có tính lưu động cao và thiếu tính ổn định
Trang 11- Sản phẩm xây dựng phụ thuộc chặt chẽ vào điều kiện địa phương nơi đặt công trình Do đó nó có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, cấu tạo
và cách chế tạo
- Sản phẩm xây dựng thường có kích thước và chi phí lớn, có thời gian kiến tạo và sử dụng lâu dài Do đó những sai lầm về xây dựng có thể gây nên những lãng phí lớn, tồn tại lâu dài và khó sửa chữa Kích thước sản phẩm xây dựng đồ sộ, thời gian thi công kéo dài, vốn sản xuất bị ứ đọng dẫn đến phải tính toán xem xét nhiều yếu tố, nguồn lực liên quan đến dự án
- Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện
sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra
- Sản phẩm xây dựng có liên quan nhiều đến cảnh quan và môi trường xung quanh do đó liên quan nhiều đến lợi ích cộng đồng, nhất là dân cư nơi đặt công trình
- Sản phẩm xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa và quốc phòng
Đây có thể nói là một trong những yếu tố khách quan, nên cần có cái nhìn đúng đắn để có giải pháp tổ chức thi công thích hợp Sản suất xây dựng công trình có 3 đặc điểm chính là:
- Sản xuất xây lắp là quá trình phải di chuyển thường xuyên để kiến tạo công trình Sự di chuyển và thay đổi này thể hiện ở chỗ: địa điểm thi công thay đổi, mặt bằng sản xuất thay đổi, máy móc - công cụ thi công thay đổi, bố trí lao động cũng có thể thay đổi Việc này làm cho chất lượng thi công không đồng nhất, thời gian thi công và chi phí sản xuất cũng khác nhau đáng kể
- Sản xuất xây dựng chỉ tạo ra một sản phẩm cá biệt - đơn chiếc Do công trình được xây dựng đơn chiếc đòi hỏi Nhà thầu và Chủ đầu tư phải xem xét toàn
Trang 12diện mọi khía cạnh và giải quyết thật tốt các vấn đề trong thiết kế tổ chức thi công và lập tiến độ thi công để công trình được thi công trong tầm kiểm soát của các bên liên quan với chất lượng, thời gian và chi phí hợp lý nhất
- Sản phẩm xây dựng phải thực hiện trong môi trường lộ thiên, chịu ảnh hưởng rất nặng nề do tác động của thời tiết, khí hậu và yếu tố mùa màng
Có thể nói rằng, do những đặc điểm của sản phẩm xây dựng và sản xuất xây dựng như trên, làm cho chất lượng của công trình, thời gian thi công và chi phí xây dựng luôn biến động và rất khó khống chế; cũng do những đặc điểm này làm cho thị trường xây dựng cũng có những đặc điểm riêng đòi hỏi phải hiểu rõ trong hoạt động quản lý và kinh doanh trong lĩnh vực xây dựng
Yếu tố thị trường thường tác động rất mạnh mẽ đến chế tạo và lưu thông các loại sản phẩm hàng hóa trong xây dựng, thị trường xây dựng có các đặc điểm sau đây:
- Quá trình sản xuất và trao đổi diễn ra đồng thời
- Đòi hỏi phải thực hiện đúng quy định về phương thức trao đổi: tạm ứng, tạm chi, thanh toán theo khối lượng thực hiện sau từng giai đoạn và thanh quyết toán hoàn thành gói thầu theo hợp đồng xây dựng
- Giá xây dựng được hình thành đúng dần; chi phí phát sinh là hiện tượng khó có thể tránh khỏi
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh tế trong thi công, giải pháp quan trọng hàng đầu trong sản suất xây dựng là phải làm tốt thiết kế tổ chức thi công xây dựng công trình và chỉ đạo thi công theo đúng tiến độ được duyệt
Ngành xây dựng nói chung cũng như các ngành sản xuất khác muốn đạt được những mục đích đề ra phải có một kế hoạch sản xuất cụ thể Một kế
Trang 13hoạch sản xuất được gắn liền với một trục thời gian người ta gọi đó là kế hoạch lịch hay tiến độ Như vậy tiến độ là một kế hoạch được gắn liền với niên lịch Mọi thành phần của tiến độ được gắn trên một trục thời gian xác định
Công trường xây dựng được tổ chức bởi nhiều tổ chức xây lắp với sự tham gia của nhà thầu, người thiết kế, doanh nghiệp cung ứng vật tư máy móc thiết bị và các loại tài nguyên Như vậy xây dựng một công trình là một hệ điều khiển phức tạp, rộng lớn Vì trong hệ có rất nhiều các thành phần và mối quan hệ giữa chúng rất phức tạp Sự phức tạp cả về số lượng các thành phần và trạng thái của nó biến động và ngẫu nhiên Vì vậy trong xây dựng công trình không thể điều khiển chính xác mà có tính xác suất Để xây dựng một công trình phải có một mô hình khoa học điều khiển các quá trình - tổ chức và chỉ đạo việc xây dựng Mô hình đó chính là kế hoạch tiến độ thi công Đó là một biểu kế hoạch trong đó quy định trình tự và thời gian thực hiện các công việc, các quá trình hoặc hạng mục công trình cùng những yêu cầu về các nguồn tài nguyên và thứ tự dùng chúng để thực hiện các nhiệm vụ kế hoạch đề ra
Như vậy tiến độ xây dựng là kế hoạch sản xuất xây dựng thể hiện bằng
biểu đồ, nội dung bao gồm các số liệu tính toán, các giải pháp được áp dụng trong thi công gồm: công nghệ, thời gian, địa điểm, vị trí và khối lượng các công việc xây lắp cùng với điều kiện thực hiện chúng
Tiến độ là bộ phận không thể tách rời của thiết kế tổ chức xây dựng và thiết kế tổ chức thi công, trong đó:
+ Tiến độ trong thiết kế tổ chức xây dựng gọi tắt là tiến độ tổ chức xây dựng do cơ quan tư vấn thiết kế lập bao gồm kế hoạch thực hiện các công việc: Thiết kế, chuẩn bị, thi công, hợp đồng cung cấp máy móc, thiết bị, cung cấp hồ sơ tài liệu phục vụ thi công và đưa công trình vào hoạt động Biểu đồ tiến độ nếu là công trình nhỏ thì thể hiện bằng sơ đồ ngang, nếu công trình lớn phức tạp thì thể hiện bằng sơ đồ mạng Trong tiến độ các công việc thể
Trang 14hiện dưới dạng tổng quát, nhiều công việc của công trình đơn vị được nhóm lại thể hiện bằng một công việc tổng hợp Trong tiến độ phải chỉ ra được những thời điểm chủ chốt như giai đoạn xây dựng, ngày hoàn thành của các hạng mục xây dựng, thời điểm cung cấp máy móc thiết bị cho công trình và ngày hoàn thành toàn bộ
+ Tiến độ trong thiết kế tổ chức thi công xây dựng gọi là tiến độ thi công do đơn vị nhà thầu (B) lập với sự tham gia của các nhà thầu phụ (B’) Trong đó thể hiện các công việc chuẩn bị, xây dựng tạm, xây dựng chính và thời gian đưa từng hạng mục công trình vào hoạt động Tiến độ thi công có thể thể hiện bằng sơ đồ ngang hay sơ đồ mạng Tổng tiến độ lập dựa vào tiến
độ của các công trình đơn vị Các công trình đơn vị khi liên kết với nhau dựa trên sự kết hợp công nghệ và sử dụng tài nguyên Trong tiến độ đơn vị các công việc xây lắp được xác định chi tiết từng chủng loại, khối lượng theo tính toán của thiết kế thi công Thời hạn hoàn thành các hạng mục công trình và toàn bộ công trường phải đúng với tiến độ tổ chức xây dựng
Ta thấy rằng nếu các dự án xây dựng không có kế hoạch tiến độ thì không xác định được thời gian hoàn thành dự án Các công việc không được thực hiện theo một trình tự kỹ thuật và không tuân thủ nghiêm ngặt về thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc thì không kiểm soát được công việc Việc chậm trễ trong quá trình thi công ảnh hưởng rất nhiều đến chi phí đầu tư xây dựng dự án, hầu hết các dự án bị chậm tiến độ đều làm cho chi phí tăng lên từ 20% - 30% tổng giá trị Bên cạnh đó, việc chậm bàn giao công trình vào sử dụng còn làm chậm quay vòng vốn đầu tư, Nhà thầu bị ứ đọng vốn Vì vậy để
dự án đảm bảo về mặt thời gian nhanh nhất, chất lượng tốt nhất và chi phí hợp
lý, để tránh sự ách tắc, cản trở trong quá trình thi công thì cần phải có một kế hoạch tiến độ thi công tối ưu và khoa học
Trang 15Khi xây dựng một công trình phải thực hiện rất nhiều các quá trình xây lắp liên quan chặt chẽ với nhau trong một không gian và thời gian xác định với tài nguyên có giới hạn Như vậy mục đích của việc lập tiến độ là thành lập một mô hình xây dựng, trong đó sắp xếp các công việc sao cho bảo đảm xây dựng công trình trong thời gian ngắn, giá thành hạ, chất lượng cao
Mục đích này có thể cụ thể như sau:
- Kết thúc và đưa các hạng mục công trình từng phần cũng như tổng thể vào hoạt động đúng thời hạn định trước
- Sử dụng hợp lý máy móc thiết bị
- Giảm thiểu thời gian ứ đọng tài nguyên chưa sử dụng
- Lập kế hoạch sử dụng tối ưu về cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ xây dựng
- Cung cấp kịp thời các giải pháp có hiệu quả để tiến hành thi công công trình
Kế hoạch tiến độ là tài liệu thể hiện rõ các căn cứ, các thông tin cần thiết
để nhà thầu tổ chức và quản lý tốt mọi hoạt động xây lắp trên toàn công trường
Trong kế hoạch tiến độ thường thể hiện rõ:
+ Danh mục công việc, tính chất công việc, khối lượng công việc theo từng danh mục
+ Phương pháp thực hiện (phương pháp công nghệ và cách tổ chức thực hiện) nhu cầu lao động, xe cộ, máy móc và thiết bị thi công và thời gian cần thiết để thực hiện từng đầu việc
+ Thời điểm bắt đầu và kết thúc của từng đầu việc và mối quan hệ trước sau về không gian, thời gian, công nghệ và cách thức tổ chức sản xuất của các công việc
+ Thể hiện tổng hợp những đòi hỏi về chất lượng sản xuất, an toàn thi công và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đã có trên công trường
Trang 16Kế hoạch tiến độ còn là căn cứ để lập các kế hoạch phụ trợ khác như:
kế hoạch lao động - tiền lương, kế hoạch sử dụng xe máy, kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch đảm bảo tài chính cho thi công …
Việc thiết kế tổ chức thi công mà điều quan trọng là thiết kế phương thức, cách thức tiến hành từng công trình, hạng mục hay tổ hợp công trình…, có một vai trò rất lớn trong việc đưa ra công trình thực từ hồ sơ thiết
kế kỹ thuật ban đầu và các điều kiện về các nguồn tài nguyên Nó là tài liệu chủ yếu chuẩn bị về mặt tổ chức và công nghệ, là công cụ để người chỉ huy điều hành sản xuất, trong đó người thiết kế đưa vào các giải pháp hợp lý hóa sản xuất để tiết kiệm vật liệu, lao động, công suất thiết bị, giảm thời gian xây dựng và hợp lý về mặt giá thành
1.2.4 Đặc điểm kế hoạch tiến độ thi công
Kế hoạch tiến độ thi công xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm của từng công trình như: điều kiện tự nhiên, đặc điểm địa chất thủy văn nơi xây dựng công trình, cơ sở hạ tầng (giao thông, điện, nước…), địa hình, mức
độ phức tạp về kỹ thuật và điều kiện tổ chức thi công Quá trình sản xuất xây dựng là một quá trình động và luôn chịu ảnh hưởng của các yếu tố ngẫu nhiên đến tiến độ thi công Tiến độ xây dựng chịu ảnh hưởng của các đặc điểm của sản xuất xây dựng và sản phẩm xây dựng vì vậy trong quá trình lập kế hoạch tiến độ thi công cần phải có dự trữ sản xuất Nguồn dự trữ này đảm bảo quá trình xây dựng được liên tục và đề phòng những rủi ro
Khi thiết kế kế hoạch tiến độ thi công trong giai đoạn này cần chú ý tới các yêu cầu sau:
- Kế hoạch tiến độ này phải được thiết lập trên cơ sở giải pháp tác nghiệp xây lắp dự định cho các hạng mục và công tác chủ yếu
- Danh mục đầu việc được phân chia chi tiết hơn, phù hợp với các giải pháp công nghệ đã chọn: khối lượng công việc được xác định phù hợp phương án kỹ thuật và tổ chức thi công được áp dụng
Trang 17- Độ dài thời gian thực hiện các đầu việc, các hạng mục không được ấn định theo định mức chung mà được tính toán trên cơ sở năng suất thực tế của phương tiện thi công và lực lượng lao động đã chọn, chính vì vậy độ chính xác được cao hơn
- Thứ tự thực hiện các đầu việc được ấn định thông qua tính toán các quan hệ về công nghệ và tổ chức để có nhiều quá trình xây lắp được triển khai liên tục, nhịp nhàng, tận dụng triệt để năng lực thi công và mặt bằng sản xuất
- Phải xác định các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật phù hợp với tiến độ đã lập và
có thể phải tiến hành tối ưu hóa kế hoạch tiến độ theo những yêu cầu nhất định
- Tiến độ lập ra ban đầu chỉ là dạng tĩnh trên cơ sở tính toán và giả thiết theo sự mong muốn của người lập, từ đó có thể dự kiến tính toán được khả năng tiêu thụ tài nguyên của công trình Tuy nhiên trong thi công thường có những thay đổi vì vậy yêu cầu tiến độ lập ra ban đầu phải có sự mềm dẻo thể hiện qua những yếu tố như:
+ Các công việc thường có dự trữ để có thể thay đổi thời gian bắt đầu, kết thúc của công việc
+ Tiến độ có khả năng điều chỉnh linh hoạt trong quá trình thi công Điều đó được thực hiện dễ dàng trong sơ đồ ngang hay trong phương pháp sơ
đồ mạng
1.2.5 Các căn cứ để lập kế hoạch tiến độ thi công xây dựng
Khi lập kế hoạch tiến độ thi công xây dựng công trình cần căn cứ vào các điều kiện và tài liệu sau:
- Bản vẽ thiết kế kiến trúc và kết cấu, bản vẽ thi công công trình
- Các quy định về thời gian khởi công và hoàn thành công trình, thời gian đưa công trình vào sử dụng từng phần (nếu có)
- Các số liệu về điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương nơi xây dựng công trình
- Dự toán thi công xây dựng công trình và giá hợp đồng
Trang 18- Định mức lao động (định mức sản xuất hoặc định mức chung)
- Các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm có liên quan
- Phương án thi công, phương án công nghệ của các công tác chủ yếu
- Điều kiện tài nguyên sử dụng cho thi công công trình
- Sự phối hợp giữa các bên liên quan
- Hợp đồng thi công giữa các bên A và bên B
Việc phân tích công nghệ thi công được bắt đầu ngay sau khi có thiết
kế công trình do cơ quan tư vấn thiết kế chủ trì lập có sự bàn bạc với người thực hiện xây dựng, đôi khi phải có ý kiến của các bên liên quan như: người cấp vốn, đơn vị chịu trách nhiệm cung cấp vật tư, máy móc, thiết bị phục vụ cho việc thi công xây dựng công trình Sự hợp tác đầy đủ sẽ tạo điều kiện để những quyết định lựa chọn về công nghệ thi công trở thành hiện thực Sau khi lựa chọn được công nghệ thi công ta tiến hành phân tích công nghệ đó
Phân tích công nghệ xây lắp để lập tiến độ thi công do cơ quan xây
Trang 19dựng công trình thực hiện có sự tham gia của các đơn vị dưới quyền Sự phân tích đặc điểm sản xuất để nắm vững công nghệ xây lắp làm cho các đơn vị thực hiện hiểu tường tận công việc và sẽ có biện pháp kỹ thuật phù hợp Những biện pháp áp dụng chỉ được phép hoàn thiện thêm công nghệ đã được lựa chọn, mọi vật tư thay thế không được làm giảm chất lượng công trình… quan trọng hơn tất cả là không kéo dài thời gian thi công
Việc lập danh mục công việc xây lắp dựa vào sự phân tích công nghệ sản xuất và những tính toán trong thiết kế Tất cả các công việc trong danh mục sẽ được trình bày ở tiến độ, vì vậy việc phân chia các quá trình thành những công việc phải thỏa mãn những điều kiện sau:
- Tên công việc trùng với mã số trong định mức sử dụng
- Công việc có thể tiến hành thi công độc lập về không gian cũng như thời gian, không bị và cũng không gây cản trở cho những công việc khác
- Một công việc phải đủ khối lượng cho một đơn vị (tổ, đội) làm việc trong một thời gian nhất định
- Trong khả năng có thể nên phân chia mỗi việc cho một đơn vị chuyên môn hóa đảm nhiệm, trong các trường hợp không thể mới bố trí tổ đa năng hay hỗn hợp thực hiện
- Tại thời điểm kết thúc các giai đoạn xây dựng công trình các công việc liên quan cũng kết thúc tại thời điểm đó
- Những công việc không thực hiện tại hiện trường nhưng nằm trong quy trình xây lắp cũng phải đưa vào danh mục
- Những công việc lớn có thể chia ra làm nhiều công việc nhỏ để có thể kết hợp thi công song song với các công việc khác để có thể rút ngắn thời gian thi công
- Nhiều công việc nhỏ, khối lượng ít có thể gộp lại thành một công việc dưới một tên chung để đơn giản khi thể hiện biểu đồ
Trang 20Hình 1-1 Các bước lập tiến độ
Trang 211.2.6.3 Xác định khối lượng công việc
Khối lượng công việc luôn được đi kèm với bản danh mục được tính toán xác định theo bản vẽ thi công và thuyết minh của thiết kế Đơn vị của khối lượng thường dùng là các đơn vị đo lường (m, m2
, m3, t, cái, chiếc…) cũng có thể dùng đơn vị tiền tệ tương đương trong định mức, đơn giá sử dụng Xác định đúng đối tượng là cơ sở chọn phương tiện, phương án thi công hợp lý Từ đó xác định chính xác nhân lực, máy móc và thời gian thi công để lập tiến độ
Trên cơ sở khối lượng công việc và điều kiện làm việc ta chọn biện pháp thi công Trong quá trình chọn biện pháp thi công ưu tiên sử dụng cơ giới sẽ rút ngắn thời gian thi công cùng tăng năng suất lao động giảm giá thành Chọn máy móc nên tuân theo quy tắc “máy móc hóa đồng bộ” Trong một kíp máy chọn máy cho công việc chủ đạo hay công việc có khối lượng lớn trước sau đó chọn các máy còn lại Trường hợp có nhiều phương án khả thi trong lựa chọn máy móc phải tiến hành so sánh các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật Sử dụng biện pháp thi công thủ công chỉ trong trường hợp điều kiện thi công không cho phép cơ giới hóa, khối lượng quá nhỏ hay chi phí tốn kém nếu dùng cơ giới
Khi chọn máy ngoài tính năng kỹ thuật phải phù hợp ta cần chú ý đến năng suất và sự ảnh hưởng của biện pháp thi công đến môi trường xung quanh
Tiến độ phụ thuộc ba loại thông số cơ bản đó là công nghệ, không gian
và thời gian: Thông số công nghệ bao gồm số tổ đội (dây chuyền) làm việc độc lập, khối lượng công việc, thành phần tổ đội (biên chế), năng suất của tổ đội Thông số không gian gồm vị trí làm việc, tuyến công tác và phân đoạn, đợt thi công Thông số thời gian gồm thời gian thi công công việc và thời gian đưa từng hay toàn bộ công trình vào hoạt động
Trang 22Các thông số tiến độ liên quan chặt chẽ với nhau theo quy luật chặt chẽ
Sự thay đổi mỗi thông số sẽ làm các thông số khác thay đổi theo và làm thay đổi tiến độ thi công Việc chọn các thông số trước tiên phải phù hợp với công nghệ thi công sau đó là hợp lý về mặt tổ chức Tùy theo phương pháp tổ chức người ta chọn các thông số theo những nguyên tắc riêng
- Phân khu, phân đoạn phải phù hợp với kết cấu, kiến trúc để các phần việc thi công độc lập, đảm bảo chất lượng công trình
- Khối lượng của các công việc đủ lớn để sử dụng hiệu quả năng suất máy móc, năng lực tổ đội
- Số loại công việc (trong danh mục công việc) chọn tùy theo mức độ chuyên môn hóa của tổ đội Công việc phân càng nhỏ sẽ tăng mức độ chuyên môn hóa song làm cho số công việc tăng lên thường kéo dài thời hạn thi công
và tổ chức thực hiện càng phức tạp
- Nếu công việc vừa thi công cơ giới vừa thi công thủ công thì phải chọn thông số máy trước, thông số người chọn tùy theo máy
Thời gian thi công công việc phụ thuộc vào khối lượng, tuyến công tác, mức độ sử dụng tài nguyên và thời hạn xây dựng công trình Để đẩy nhanh tốc độ xây dựng, nâng cao hiệu quả cơ giới hóa phải chú trọng đến chế độ làm việc hai ca, ba ca, những công việc chính được cơ giới hóa đồng bộ Tuy nhiên làm tăng ca sẽ làm tăng phụ phí như chiếu sáng, chi phí bảo hộ làm ca hai, ba ca, tăng lực lượng cán bộ kỹ thuật, quản lý Những quá trình thi công thủ công chỉ áp dụng làm tăng ca khi khối lượng lớn nhưng tuyến công tác hẹp không triển khai thêm nhân công được
Khi thời gian thi công không xác định đủ chính xác, người ta dùng giá trị tin cậy, đó là trường hợp quá trình thực hiện công việc gặp nhiều yếu tố ngẫu nhiên không lường được, thời gian hoàn thành công việc phải ước đoán
Trang 23với độ tin cậy nhất định từ kinh nghiệm sản xuất còn ít hoặc điều kiện sản xuất phụ thuộc quá nhiều yếu tố ngẫu nhiên Áp dụng giá trị tin cậy về thời gian thi công dựa trên phương pháp thống kê toán học
Sau khi chọn biện pháp thi công và xác định các thông số tổ chức, ta tiến hành lập tiến độ ban đầu Lập tiến độ bao gồm xác định phương pháp thể hiện tiến độ và thứ tự công việc hợp lý triển khai công việc
Tiến độ có thể thể hiện bằng sơ đồ ngang, sơ đồ xiên hay sơ đồ mạng Chọn cách nào thì tùy thuộc vào quy mô, tính phức tạp của công trình Sơ đồ ngang thường biểu diễn tiến độ công trình nhỏ và công nghệ đơn giản Sơ đồ xiên dùng để biểu diễn tiến độ thi công đòi hỏi sự chặt chẽ về thời gian và không gian Biểu đồ xiên chỉ thích hợp với công trình có số lượng công việc ít Sơ đồ mạng dùng để thể hiện tiến độ thi công những công trình lớn và phức tạp
Thứ tự triển khai công việc luôn gắn liền với thứ tự thi công Bên cạnh chú ý đến công nghệ, luôn khai thác khả năng triển khai công việc đồng thời song song rút ngắn thời gian thi công Mặt khác triển khai công việc đồng thời cần chú ý đến vấn đề sử dụng tài nguyên và đảm bảo tổ đội chuyên môn hoạt động theo dây chuyền
Sau khi tiến độ ban đầu được lập, người ta tiến hành tính toán các chỉ
số của nó và so sánh với các tiêu chí đề ra Các tiêu chí đó chỉ thường là thời gian thi công (đúng giai đoạn và tiến độ), mức sử dụng tài nguyên, độ ổn định điều hòa tiền vốn, nhân lực, giá thành phương án Nếu các tiêu chí đạt tiến độ ban đầu sẽ tiến hành tối ưu theo quan điểm người xây dựng để nâng cao chỉ tiêu kinh tế, kỹ thuật
Trong trường hợp có vài tiêu chí không đạt, ta phải điều chỉnh lại tiến
độ ban đầu Việc điều chỉnh sẽ được tiến hành theo nhiều vòng
Trang 24- Vòng 1: Điều chỉnh bước lập tiến độ ban đầu (sắp xếp lại công việc) nếu chưa đạt tiến hành điều chỉnh vòng tiếp
- Vòng 2: Điều chỉnh các thông số tổ chức tăng giảm số công nhân, máy móc Đây là bước tổ chức lại đơn vị sản xuất nếu chưa đạt ta tiến hành tiếp vòng sau
- Vòng 3: Điều chỉnh biện pháp thi công Đây là vòng điều chỉnh phương án kỹ thuật thi công (thay đổi loại máy móc, chọn phương pháp thi công khác…) nếu chưa đạt ta tiến hành điều chỉnh tiếp vòng cuối cùng
- Vòng 4: Đây là vòng điều chỉnh công nghệ sản xuất Vì các biện pháp
tổ chức và kỹ thuật đều không đạt ta phải thay đổi công nghệ xây dựng
Tuy nhiên mỗi vòng có thể tiến hành một vài lần khi không đạt mới chuyển sang vòng tiếp theo Việc điều chỉnh tiến độ thường khó khăn với công trình lớn phức tạp khi đó người ta cần sự trợ giúp của máy tính điện tử
Để tiến độ lập ra gần sát với thực tế và yêu cầu của công trình, làm cho việc xây dựng công trình đạt hiệu quả kinh tế kỹ thuật, chúng ta cần định hướng theo những nguyên tắc cơ bản sau:
công xây dựng chính
Công tác xây dựng công trình tiến hành thuận lợi hay không phụ thuộc rất nhiều vào công tác chuẩn bị Thông thường xây dựng một công trình người ta chia ra làm 2 phần:
+ Phần công tác chuẩn bị: bao gồm chuẩn bị mặt bằng và xây dựng lán trại, đường xá tạm thời phục vụ cho việc thi công
+ Phần xây dựng chính: bao gồm việc xây dựng công trình và đưa công trình vào hoạt động
Trang 25Kinh nghiệm chỉ ra rằng công tác chuẩn bị tốt sẽ làm công tác xây dựng chính tiến hành nhanh và đạt hiệu quả cao Tuy nhiên không phải tất cả các công việc chuẩn bị trên tiến độ đều phải hoàn thành trước khi khởi công xây dựng Khi lập tiến độ người ta chỉ xác định được những việc phải làm trước, những việc phải làm cùng với những công việc chính Việc lựa chọn trước sau dựa trên nguyên tắc là tạo điều kiện tốt nhất để làm công tác thi công chính nhưng phải kết hợp sử dụng tài nguyên, năng lực sản xuất một cách hợp lý, tiết kiệm
Để giảm phần xây dựng tạm khi lập tiến độ phải xác định được sự kết hợp sử dụng công trình vĩnh cửu vào mục đích sử dụng tạm, đặc biệt là phần xây dựng đường xá, mạng lưới kỹ thuật, nhà công ích
Khi xây dựng những công trình lớn, phức tạp có nhiều hạng mục công trình liên quan với nhau qua chức năng, công nghệ, điều kiện thi công nên việc lựa chọn thứ tự thi công phải hợp lý Có những thứ tự phải được xác lập ngay khi thiết kế tổ chức xây dựng Khi chọn thứ tự triển khai công việc ta cần chú ý tới những vấn đề sau:
- Những công việc thi công tuần tự phải theo công nghệ sản xuất, nó sẽ đóng vai trò đưa từng phần hay toàn bộ công trình vào hoạt động và quyết định thời hạn thi công Nếu thứ tự không bảo đảm thì sẽ làm kéo dài thời hạn thi công hoặc làm giảm hiệu quả kinh tế của dự án
- Vấn đề tập trung nhân lực, máy móc vào từng việc trọng điểm cũng
vô cùng quan trọng Nên tập trung lực lượng vào dứt điểm những phần việc cần xong sớm có tính chủ đạo Không nên phân tán lực lượng ra diện rộng dễ làm kéo theo thời hạn thi công và ứ đọng vốn
- Cần quan tâm đến những hạng mục công trình quyết định kết thúc thời hạn thi công, đặc biệt quan tâm đến những tuyến thi công dài nhưng lại hẹp hoặc thuộc tuyến kín Những hạng mục công trình thuộc loại này như cầu, hầm, nhà công nghiệp rất khó khắc phục khi muốn đẩy nhanh tiến độ
Trang 26- Những cụm, hạng mục công trình trong một dây chuyền sản xuất cũng nên ưu tiên triển khai đồng bộ, để đưa công trình vào hoạt động thì các công trình phụ trợ cũng sẵn sàng
- Trong từng công trình các công việc triển khai theo thứ tự công nghệ hợp lý nhất, cố gắng đảm bảo tính liên tục cho các tổ đội chính Thông thường theo công nghệ người ta triển khai công việc như sau: thi công từ trong ra ngoài, phần kết cấu thi công dưới lên, từ hệ chính sang hệ phụ, từ hệ chịu lực sang hệ không chịu lực, từ hệ ổn định sang hệ không ổn định, phần hoàn thiện thi công từ trên xuống, từ trong ra ngoài, từ đầu nguồn xuống cuối nguồn Tuy nhiên thứ tự đó không phải lúc nào cũng thế, nó phải tùy theo điều kiện
cụ thể của từng công trình và tính chất công nghệ mà ta sử dụng
- Triển khai công việc cũng chú ý đến tình hình thời tiết để loại trừ gián đoạn do chúng gây ra
- Việc tập trung nhân lực phải chú ý đến những giới hạn về tài nguyên
và đảm bảo nguyên tắc điều hòa trong tổ chức
- Những công việc thi công khó phải bố trí những biện pháp hỗ trợ khi cần thiết để giữ được ý đồ khi lập tiến độ
Một trong những mục đích quan trọng của thiết kế tổ chức xây dựng là đảm bảo thời hạn thi công pháp lệnh Thời hạn pháp lệnh do Nghị định của Chính phủ về quản lý xây dựng quy định nếu công trình do Nhà nước quản lý, nếu công trình Chủ đầu tư là doanh nghiệp thì do doanh nghiệp quy định Dù Chủ đầu tư là thành phần kinh tế nào thời hạn xây dựng công trình chỉ được gọi là pháp lệnh khi được ghi trong hợp đồng giao thầu Thời hạn hoàn thành đưa công trình vào hoạt động vô cùng quan trọng Đôi khi nó quyết định thắng bại của một dự án, vì vậy mọi sự thay đổi thời hạn thi công đều phải xử
lý theo các điều khoản ghi trong hợp đồng (thưởng khi rút ngắn, phạt khi kéo dài hoặc đình chỉ thi công)
Trang 27Thời hạn xây dựng được hiểu là thời hạn thực hiện công tác xây lắp và đưa công trình vào hoạt động (ngày hội đồng nghiệm thu ký biên bản bàn giao) Để đưa công trình hoàn thành đúng thời hạn pháp lệnh, tiến độ ban đầu lập phải tuân theo các điều kiện này Trong khi lập tiến độ, thời hạn xây dựng công trình phụ thuộc vào thời hạn thi công của từng công việc và sự sắp xếp chúng theo thời gian Vì vậy người lập tiến độ phải làm chủ được các công việc và nắm được quy trình công nghệ thi công toàn công trình
Biểu đồ nhân lực điều hòa khi số nhân công tăng từ từ trong thời gian dài và giảm dần khi công trường kết thúc không có tăng giảm đột biến Nếu
số công nhân sử dụng không đều sẽ có lúc quân số tập trung quá cao, có lúc xuống thấp làm cho các phụ phí tăng theo và lãng phí tài nguyên Các phụ phí
đó chi vào việc tuyển dụng, xây dựng nhà cửa, lán trại và các công việc dịch
vụ đời sống hàng ngày Tập trung nhiều người trong thời gian ngắn gây lãng phí, những cơ sở phục vụ cũng như máy móc vì sử dụng ít không kịp khấu hao Vậy một biểu đồ nhân lực hợp lý (tăng từ từ ở đoạn đầu và giảm dần ở cuối, số người ổn định càng gần mức trung bình càng tốt) là một tiêu chuẩn đánh giá tiến độ thi công
Trên biểu đồ nhân lực tính điều hòa thể hiện bằng đường cong nuột tăng giảm từ từ không có biến động
Trang 28Hình 1-2 : Đặc tính biểu đồ nhân lực a) Điều hòa; b) Không điều hòa; c) Điều hòa lý thuyết
Vốn đầu tư là lượng tiền bỏ vào công trình Tiền vốn là loại tài nguyên
sử dụng một lần, nó chỉ sinh lợi khi công trình hoạt động Vì vậy việc đưa tiền vào công trình là một chỉ tiêu quan trọng của một tiến độ Khi thiết kế tổ chức xây dựng người ta thường xem xét biểu đồ cung cấp vốn xây dựng cơ bản Đối với người xây dựng vốn thường vay ngân hàng phải chịu một lãi suất Người xây dựng chỉ trả được khi bên A tạm ứng hoặc thanh toán hợp đồng, trường hợp bên A không thanh toán kịp thời thì bên chủ thầu phải chịu lãi ngân hàng Vì vậy tiền đưa vào công trình càng sớm thì càng dễ bị ứ đọng gây nên thua thiệt cho người xây dựng Người ta phải tìm ra một cách đưa tiền vốn vào công trình sao cho ứ đọng thấp nhất
Hình thức đưa tiền vốn vào công trình có 3 dạng cơ bản:
+ Đưa tiền vào công trình đều đặn, từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc lượng vốn đầu tư trong khoảng thời gian như nhau là bằng nhau (hình 1-3a)
Trang 29+ Đưa tiền vào công trình tăng dần, lúc đầu chi phí ít sau tăng dần lên, lúc kết thúc đưa tiền vào công trình là cao nhất (hình 1-3b)
+ Đưa tiền vào công trình giảm dần, lúc đầu lớn sau giảm dần, lúc kết thúc lượng tiền đưa vào công trình là ít nhất (hình 1-3c)
o + t
Hình 1-3: Hình thức đầu tư vào công trình a) Đầu tư đều; b) Đầu tư tăng dần; c) Đầu tư giảm dần
Tùy theo tính chất của các công trình và yêu cầu của công nghệ có 3 phương pháp được sử dụng để lập kế hoạch tiến độ như sau:
a Khái niệm
Mô hình kế hoạch tiến độ ngang (phương pháp này do nhà khoa học Gantt đề xướng từ năm 1917) là những đoạn thẳng nằm ngang có độ dài nhất định chỉ thời điểm bắt đầu, thời điểm thực hiện, thời điểm kết thúc việc thi công các công việc theo trình tự công nghệ nhất định
Cấu trúc gồm:
- Phần 1: Danh mục các công việc được sắp xếp theo thứ tự công nghệ
và tổ chức thi công, kèm theo là khối lượng công việc, nhu cầu nhân lực, máy thi công, thời gian thực hiện, vốn…của từng công việc
Trang 30- Phần 3: Tổng hợp cỏc nhu cầu tài nguyờn, vật tư, nhõn lực, tài chớnh Trỡnh bày cụ thể về số lượng, quy cỏch vật tư, thiết bị, cỏc loại thợ…cỏc tiến
độ đảm bảo cung ứng cho xõy dựng
4 2
1 2 5 6 7 8 9 10 11 12 T(ngày)
P(người)
Hỡnh 1-4 Cấu trỳc mụ hỡnh kế hoạch tiến độ ngang
- Ưu điểm: Diễn tả một phương phỏp tổ chức sản xuất, một kế hoạch xõy dựng tương đối đơn giản, rừ ràng
Trang 31- Nhược điểm:
+ Phương pháp này không thể hiện rõ và chặt chẽ mối quan hệ về công nghệ và tổ chức giữa các công việc mà nó phải thể hiện Sự phụ thuộc giữa các công việc chỉ thực hiện một lần duy nhất trước khi thực hiện kế hoạch do
đó các giải pháp về công nghệ, tổ chức mất đi giá trị thực tiễn là vai trò điều hành khi kế hoạch được thực hiện
+ Khó nghiên cứu sâu nhiều phương án, hạn chế về khả năng dự kiến diễn biến của công việc, không áp dụng được các tính toán sơ đồ một cách nhanh chóng khoa học
+ Không chỉ ra được những công việc quan trọng quyết định sự hoàn thành đúng thời gian của tiến độ đã đề ra
+ Không bao quát được quá trình thi công những công trình phức tạp + Dễ bỏ sót công việc khi quy mô công trình lớn
+ Khó dự đoán được sự ảnh hưởng của tiến độ thực hiện từng công việc đến tiến độ chung
+ Trong thời gian thi công nếu tiến độ có trục trặc thì khó tìm được nguyên nhân và giải pháp khắc phục
- Phạm vi áp dụng: Tất cả các nhược điểm trên làm giảm hiệu quả của quá trình điều khiển khi sử dụng sơ đồ ngang, hay nói cách khác mô hình kế hoạch tiến độ ngang chỉ sử dụng hiệu quả đối với các công việc đơn giản, số lượng đầu việc không nhiều, mối liên hệ qua lại giữa các công việc ít phức tạp
Về cơ bản mô hình kế hoạch tiến độ xiên chỉ khác mô hình kế hoạch tiến
độ ngang ở chỗ thay vì biểu diễn các công việc bằng các đoạn thẳng nằm ngang người ta dùng các đường thẳng xiên để chỉ sự phát triển của các quá trình thi công theo cả thời gian (trục hoành) và không gian (trục tung) Mô hình kế
Trang 32hoạch tiến độ xiên, còn gọi là sơ đồ xiên hay sơ đồ chu trình (Xyklogram)
Trục không gian mô tả các bộ phận phân nhỏ của đối tượng xây lắp (khu vực, đợt, phân đoạn công tác…), trục hoành là thời gian, mỗi công việc được biểu diễn bằng một đường xiên riêng biệt
Hình dạng các đường xiên có thể khác nhau, phụ thuộc vào tính chất công việc và sơ đồ tổ chức thi công, sự khác nhau này gây ra bởi phương_chiều_nhịp độ của quá trình Về nguyên tắc các đường xiên này không được phép cắt nhau trừ trường hợp đó là những công việc độc lập với nhau về công nghệ
Hình 1-5 Cấu trúc mô hình kế hoạch tiến độ xiên
- Ưu điểm: Mô hình kế hoạch tiến độ xiên thể hiện được diễn biến công việc cả trong không gian và thời gian nên có tính trực quan cao
- Nhược điểm: Là loại mô hình điều hành tĩnh, nếu số lượng công việc nhiều và tốc độ thi công không đều thì mô hình trở nên rối và mất đi tính trực quan, không thích hợp với những công trình phức tạp
- Phạm vi áp dụng: Mô hình kế hoạch tiến độ xiên thích hợp với các công trình có nhiều hạng mục giống nhau, mức độ lặp lại của các công việc cao Đặc biệt thích hợp với các công tác có thể tổ chức thi công dưới dạng dây chuyền
Mô hình kế hoạch tiến độ theo sơ đồ mạng là một đồ thị có hướng biểu diễn trình tự thực hiện tất cả các công việc, mối quan hệ và sự phụ thuộc giữa
t Đợt
Trang 33chúng, nó phản ánh tính quy luật của công nghệ sản xuất và các giải pháp được sử dụng để thực hiện chương trình nhằm với mục tiêu đề ra
+ Cho thấy mối quan hệ chặt chẽ về công nghệ, tổ chức giữa các công việc + Chỉ ra được những công việc quan trọng, quyết định đến thời hạn hoàn thành công trình (các công việc này như sau này gọi là công việc
“găng”) Do đó người quản lý biết tập trung chỉ đạo có trọng điểm
+ Loại trừ được những khuyết điểm của sơ đồ ngang
+ Giảm thời gian tính toán do sử dụng được máy tính điện tử vào lập, tính, quản lý và điều hành tiến độ
+ Cho phép tối ưu hóa kế hoạch, tiến độ thi công theo chỉ tiêu thời gian, giá thành xây dựng và nhu cầu tài nguyên cho thi công Đồng thời còn thuận tiện cho việc tự động hóa tính toán và điều khiển thi công
+ Phải liệt kê toàn bộ các hoạt động trong dự án nên phức tạp và cầu kỳ + Phương pháp sơ đồ mạng chỉ thực sự có hiệu quả trên cơ sở có sự quản lý sát sao của cán bộ kỹ thuật, các bộ quản lý và sự đảm bảo về cung ứng vật tư – kỹ thuật, lao động đầy đủ theo yêu cầu đã lập ra trong mạng
+ Phương pháp sơ đồ mạng dùng để lập kế hoạch và điều khiển tất cả các loại dự án, từ dự án xây dựng một công trình đến dự án sản xuất kinh doanh hay dự án giải quyết bất kỳ một nhiệm vụ phức tạp nào trong khoa học
kỹ thuật, kinh tế, quân sự … đều có thể sử dụng sơ đồ mạng
hoạch tiến độ [7]
Để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất người thực hiện công việc xây lắp phải tập hợp đủ vật tư, máy móc, thiết bị và đặc biệt là con người để tiến hành
Trang 34công việc Việc tiến hành công việc sản xuất có thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau ta gọi đó là phương pháp tổ chức xây dựng
Dù cho sử dụng phương pháp nào thì cũng phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của tổ chức xây dựng đó là: Tuân thủ công nghệ sản xuất để đảm bảo chất lượng công trình; bảo đảm thời hạn thi công; hạ giá thành sản phẩm
Cho đến nay, người ta có thể chia phương pháp tổ chức xây dựng thành 3 phương pháp chính là: phương pháp tuần tự, phương pháp song song và phương pháp dây chuyền Mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm riêng, tùy theo các điều kiện cụ thể các phương pháp đó được áp dụng triệt để hay từng phần hoặc kết hợp, đều với một mục đích là đưa lại hiệu quả sản xuất cao nhất
Tổ chức thi công tuần tự là bố trí một đơn vị thi công làm toàn bộ các quá trình từ a1→ an làm xong khu vực này tiến hành chuyển sang khu vực khác cho đến khi hoàn thành toàn bộ công trình Mọi công tác từ chuẩn bị cho đến khi hoàn thành đều do 1 đơn vị thi công thực hiện
- Thời gian thi công: m j
j
T =∑T nếu Tj= const thì T=m.Tj
- Cường độ tiêu hao tài nguyên q= Q/T hoặc q= Q/ m.Tj
Trong đó: + Tj: Thời gian thực hiện toàn bộ quá trình trên đoạn j
+ T: Thời gian thực hiện toàn bộ công trình
+ Q: Lượng tiêu hao tài nguyên toàn bộ công trình
+ q: Lượng tiêu hao tài nguyên trên một đơn vị thời gian Quá trình thi công được tiến hành lần lượt từ đối tượng này sang đối tượng khác theo một trật tự đã được quy định Ttt=m.t1
Trang 35Hình 1-6 Biểu đồ chu trình phương pháp thi công tuần tự
- Lực lượng thi công không cần lớn
- Việc chỉ đạo thi công tập trung, không căng thẳng
- Thời gian thi công kéo dài, chậm đưa công trình vào sử dụng
- Không chuyên môn hóa dẫn đến năng suất thấp, chất lượng kém, nếu không chuyên môn hóa thì dẫn đến lãng phí
- Máy móc phải trang bị đầy đủ nên dẫn đến lãng phí vì không sử dụng hết công suất máy
- Đơn vị thi công phải lưu động nhiều
Thường áp dụng cho những công trình nhỏ yêu cầu kỹ thuật không cao Thời gian thi công công trình không hạn chế, mặt bằng thi công bị giới hạn Công trình có nhu cầu đưa ngay từng hạng mục vào sử dụng, không cần những đội chuyên môn hóa
Trang 36hiện hết n quá trình trên khu vực mình đảm nhiệm, các đơn vị thi công này hoàn toàn độc lập với nhau
- Thời gian thi công: T= max Tj , nếu T≠ const
T= Tj , nếu T= const
- Cường độ tiêu hao tài nguyên q=Q/T hoặc q= Q/ Tmin
Khi tổ chức thi công song song thì việc chia đoạn ra để thi công phải dựa vào các yêu cầu sau đây:
- Bảo đảm khối lượng công tác trên từng đoạn tuyến gần bằng nhau
- Đường biên giới các khu vực phải gần với các khu cung cấp vật liệu, các cấu kiện, thành phẩm
- Chú ý đến vấn đề khí hậu để tránh một đoạn rơi vào mùa bất lợi trong năm
- Cần chú ý xem diện tích thi công có đủ cho máy móc hoạt động không Để giảm bớt thời gian chờ việc cần điều phối qua lại các bộ phận gần nhau để tăng năng suất
- Thời gian thi công ngắn, sớm đưa công trình vào sử dụng nhưng tài nguyên huy động là tối đa
- Đơn vị thi công không phải lưu động nhiều
- Lực lượng thi công lớn gây khó khăn về cung ứng, bảo quản, sửa chữa
- Việc chỉ đạo thi công trên diện rộng, trong thời gian ngắn, lực lượng thi công lớn nên rất căng thẳng trong quá trình điều hành
- Không chuyên môn hóa nên không khai thác hết các khả năng của người, thiết bị, máy móc
- Khối lượng dở dang nhiều nên dễ gây lãng phí và không đưa từng phần của công trình vào sử dụng được
Trang 37Hai phương pháp trên có ưu và nhược điểm trái ngược nhau về thời gian thi công và mức huy động tài nguyên Nhưng đều có chung một nhược điểm là ít quan tâm đến sự làm việc của các tổ thợ về phương diện chuyên môn hóa và tính liên tục Để khắc phục những nhược điểm và phát huy những
ưu điểm, các nhà tổ chức sản xuất đã đưa ra phương pháp tổ chức sản xuất dây chuyền Phương pháp tổ chức sản xuất dây chuyền là sự kết hợp một cách logic phương pháp tuần tự và song song Nhằm khắc phục những nhược điểm
và phát huy ưu điểm của 2 phương pháp trên người ta đưa ra phương pháp xây dựng dây chuyền
Trang 381.4.3.2 Đặc điểm
Để thi công theo phương pháp xây dựng dây chuyền, ta chia quá trình
kỹ thuật thi công một sản phẩm xây dựng thành n quá trình thành phần và quy định thời hạn tiến hành các quá trình đó cho một sản phẩm là như nhau, đồng thời phối hợp các quá trình này một cách nhịp nhàng về thời gian và không gian theo nguyên tắc:
- Thực hiện tuần tự các quá trình thành phần cùng loại từ sản phẩm này sang sản phẩm khác
- Thực hiện song song các quá trình thành phần khác loại trên các sản phẩm khác nhau
Sản xuất dây chuyền trong xây dựng có 2 đặc diểm cơ bản:
- Do sản phẩm xây dựng gắn liền với đất đai và có kích thước lớn nên
để thực hiện các công việc theo một trình tự công nghệ phải di chuyển các tổ thợ với các trang thiết bị kèm theo trong không gian công trình từ bộ phận này sang bộ phận khác, từ công trình này sang công trình khác Điều này khác với dây chuyền công nghiệp: người công nhân và công cụ đứng yên còn sản phẩm
di động, do đó tổ chức dây chuyền trong xây dựng khó hơn
- Do tính chất đơn chiếc và đa dạng của sản phẩm xây dựng nên các dây chuyền sản xuất hầu hết ngắn hạn, thời gian ổn định ít hoặc không ổn định, nghĩa là sau một khoảng thời gian không dài lắm người ta phải tổ chức lại để xây dựng công trình khác
Đối tượng của phương pháp dây chuyền có thể là một quá trình phức hợp, một hạng mục hay toàn bộ công trình Biểu đồ chu trình như hình 1-8:
Tss<Tdch<Ttt
Trang 39Hình 1-8: Biểu đồ chu trình phương pháp thi công dây chuyền
Sản xuất dây chuyền nói chung là một phương pháp tổ chức tiên tiến nhất có được do kết quả của sự phân công lao động hợp lý, chuyên môn hóa các thao tác và hợp tác hóa trong sản xuất Đặc trưng của nó là sự chuyên môn hóa cao các khu vực và vị trí công tác, hạn chế các danh mục sản phẩm cần chế tạo, sự cân đối của năng lực sản xuất và tính nhịp nhàng sông song liên tục của các quá trình Kết quả là cùng một năng lực sản xuất như nhau, người ta sản xuất nhanh hơn, sản phẩm nhiều hơn, chi phí lao động và giá thành thấp hơn, nhu cầu về nguyên vật liệu và lao động điều hòa liên tục
Để công trình xây dựng đúng kế hoạch các công việc trong tiến độ phải thực hiện đúng lịch Mỗi lịch sai lệch trong quá trình thi công cũng có thể dẫn đến những kết quả ngoài ý muốn Để đánh giá kịp thời và có biện pháp xử lý đúng người ta phải tiến hành hệ thống kiểm tra thực hiện tiến độ toàn phần hay một số công việc Có thể kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất
Đối với tiến độ thi công theo biểu đồ ngang, ta có thể tiến hành kiểm tra theo ba phương pháp: Phương pháp đường tích phân; phương pháp đường phần trăm và phương pháp biểu đồ nhật ký
(m−1)×k
n×k+∑t cn
2 m-1
Trang 401.5 1 Phương pháp đường phân tích dùng để kiểm tra từng công việc
Theo phương pháp này thì trục tung thể hiện khối lượng công việc, trục hoành thể hiện thời gian Sau mỗi khoảng thời gian khối lượng công việc đã thực hiện đến thời điểm đó được đưa lên trục tọa độ Đường thể hiện công việc thực hiện đến các thời điểm xét là đường tích phân Để so sánh với tiến
độ ta dùng đường tích phân kế hoạch công việc tương ứng So sánh hai đường
ta biết được tình hình thực hiện tiến độ
độ hoàn thành sớm, nếu là (4) thì tiến độ hoàn thành chậm kế hoạch
Nếu muốn biết tốc độ thực hiện ta dùng lát cắt (v) (song song với trục thời gian t), đường (2), cắt trước đường kế hoạch (1) thực hiện nhanh (+∆t), đường (4) cắt sau thực hiện chậm (-∆t)
Phương pháp đường tích phân có ưu điểm cho ta biết tình hình thực hiện tiến độ hàng ngày song có nhược điểm là khối lượng công việc phải thu thập thường xuyên và mỗi loại công việc phải vẽ một đường tích phân Vì vậy
nó phù hợp với việc theo dõi thường xuyên việc thực hiện tiến độ Người ta thường áp dụng cho những công tác chủ yếu, cần theo dõi chặt chẽ