1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Phát triển chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

14 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 634,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết dựa trên các nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập được sẽ giải quyết các vấn đề cơ bản: (1) Khái quát về mô hình chuỗi giá trị mở rộng của ngành lúa gạo Việt Nam, và (2) đánh giá những thời cơ và thách thức trong phát triển chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo nước ta trong bối cảnh hội nhập mới. Cuối cùng, bài viết đã đưa ra một số định hướng phát triển chuỗi giá trị mở rộng của ngành lúa gạo Việt Nam trong giai đoạn tới.

Trang 1

PHÁT TRIỂN CHUỖI GIÁ TRỊ MỞ RỘNG NGÀNH LÚA GẠO VIỆT NAM

TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP

DEVELOPING THE EXPANDING VALUE CHAIN OF VIETNAM'S RICE SECTOR

IN THE CONTEXT OF INTEGRATION

ThS Lưu Thị Thùy Dương - ThS Đào Lê Đức

Trường Đại học Thương mại

Tóm tắt

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia có mức độ hội nhập kinh tế quốc tế cao trong khu vực với việc tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế thương mại khu vực và thế giới như: WTO, TPP, AEC… Bên cạnh những thuận lợi, việc hội nhập cũng sẽ mang lại không ít những thách thức cho nền kinh tế Việt Nam, trong đó có các ngành công nghiệp trong chuỗi giá trị lúa gạo mở rộng Bài viết dựa trên các nguồn dữ liệu thứ cấp thu thập được sẽ giải quyết các vấn đề cơ bản: (1) Khái quát về mô hình chuỗi giá trị mở rộng của ngành lúa gạo Việt Nam, và (2) đánh giá những thời cơ và thách thức trong phát triển chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo nước ta trong bổi cảnh hội nhập mới Cuối cùng, bài viết đã đưa ra một số định hướng phát triển chuỗi giá trị mở rộng của ngành lúa gạo Việt Nam trong giai đoạn tới

Keywords: chuỗi giá trị mở rộng, lúa gạo, hội nhập, TPP, AEC…

Abstract

Vietnam is considered to be one of the countries having high level of international economic integration in the region with the participation in numerous regional and global trade and economic organizations such as the WTO, the TPP, or AEC In addition to advantages, the integration will also bring many challenges for Vietnam's economy, including industries in the expanding rice value chain The paper is based on collected secondary data to resolve basic issues: (1) an overview of the expanding value chain model of Vietnam's rice industry, and (2) assess opportunities and challenges in the development of the expanding value chains

of the rice sector in Vietnam in the new context of integration Finally, the article presents a number of development-orientation for the expanding value chain of Vietnam's rice sector in the coming period

Key words: expending value chain, rice, integration, the TPP, the AEC

Trang 2

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Lúa gạo vẫn được coi là một trong những mũi nhọn của nền kinh tế Việt Nam khi hàng năm ngành này không những đáp ứng đủ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà sản lượng xuất khẩu gạo của Việt Nam còn luôn có mặt trong top 3 của thế giới Tuy vậy, so với các quốc gia xuất khẩu mạnh khác về lúa gạo như Thái Lan, Ấn Độ,… gạo Việt Nam mới chỉ tương đương về sản lượng nhưng giá trị và thương hiệu không được đánh giá cao bằng Không những vậy, ngành lúa gạo nước ta hầu như mới chỉ tập trung vào sản phẩm gạo thành phẩm mà vẫn chưa tạo ra được giá trị gia tăng từ những phụ phẩm của lúa gạo như: rơm rạ, cám gạo, gạo tấm… Nói cách khác, ngành lúa gạo Việt Nam mới chỉ chú ý đến chuỗi giá trị lúa gạo truyền thống mà chưa quan tâm phát triển chuỗi giá trị mở rộng của ngành này khi coi các phụ phẩm của lúa gạo như là những nguyên liệu đầu vào của nhiều ngành sản xuất kinh doanh mang lại giá trị thặng dư cao Trong khi đó, các quốc gia như Thái Lan, Ấn Độ… đang phát triển khá mạnh các ngành công nghiệp chế biến sau lúa gạo như dầu ăn, khô dầu chiết xuất từ cám gạo để gia tăng giá trị sản phẩm, phục vụ cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu sang các quốc gia có nhu cầu lớn về các sản phẩm này như: Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc… Bản thân các quốc gia này mặc dù không có thế mạnh về lúa gạo nhưng cũng đã phát triển rất mạnh các ngành công nghiệp chế biến dầu gạo, sáp cám gạo… nhằm phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu

Do đó, trước bối cảnh nước ta hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế quốc tế, đặc biệt khi tham gia khối Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC), việc phát triển chuỗi giá trị mở rộng của ngành lúa gạo Việt Nam được coi là vấn đề cấp thiết Muốn vậy, trước tiên các doanh nghiệp Việt Nam cần có những nhận thức đúng đắn về chuỗi giá trị mở rộng cũng như các thời cơ và thách thức sẽ gặp phải khi quyết định tham gia vào phát triển chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo trong bối cảnh mới

2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính với các dữ liệu thứ cấp thu thập được về chuỗi giá trị nói chung và chuỗi giá trị ngành lúa gạo nói riêng trên thế giới và tại Việt Nam Cụ thể:

Về xây dựng mô hình chuỗi giá trị và chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo: bài viết sử dụng cách tiếp cận lý thuyết chuỗi giá trị của Micheal E.Porter (1985), Raphael Kaplinesky và Mike Morris (2000) làm cơ sở nền tảng chính để hình thành nên mô hình chuỗi giá trị hiện đại của một ngành kinh doanh Bài viết cũng sử dụng mô hình chuỗi giá trị lúa gạo truyền thống

của Võ Thị Thanh Lộc & Nguyễn Phú Sơn (2011) và mô hình chuỗi giá trị mở rộng sau lúa gạo của Trần Khắc Điền (2015) làm mô hình chuỗi giá trị chính để nghiên cứu

Các số liệu được thu thập trong bài viết bao gồm:

- Số liệu về giá trị sản phẩm của các ngành mở rộng sau lúa gạo từ website: www.thesaigontimes.vn

- Mức tiêu thụ dầu thực vật bình quân đầu người, sản lượng sản xuất dầu thực vật tinh luyện và biểu đồ nhập khẩu sầu thực vật tinh luyện tại Việt Nam lấy từ Báo cáo năm 2014 về

Trang 3

“hạt có dầu và các sản phẩm tại Việt Nam” của Liên minh toàn cầu về cải thiện dinh dưỡng (GAIN)

- Thống kê phân bổ diện tích và sản lượng lúa gạo cả nước giai đoạn 2000-2013 của Tổng cục Thống kê Việt Nam

- Các số liệu, dữ liệu thống kê từ một số website khác

3 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ VÀ CHUỖI GIÁ TRỊ MỞ RỘNG

Lý thuyết về chuỗi giá trị lần được nghiên cứu bởi M.Porter (1985) Ông đã xây dựng

mô hình và mô tả các hoạt động trong một chuỗi giá trị điển hình và gồm hai nhóm hoạt động: (1) nhóm hoạt động cơ bản và (2) nhóm hoạt động bổ trợ

Kaplinsky & Morris (2000) hướng tới việc xây dựng và phân tích mô hình chuỗi giá

trị đơn giản hơn so với mô hình của M.Porter và gọi đây là phân tích chuỗi giá trị hiện đại Theo đó, có bốn mắt xích chính trong một chuỗi giá trị đơn giản bao gồm: thiết kế và phát

triển sản phẩm, sản xuất, tiếp thị, tiêu thụ/tái chế Tuy vậy, Kaplinsky & Morris cũng cho

rằng: trong thực tế, chuỗi giá trị phức tạp hơn rất nhiều bởi trong chuỗi thường có xu hướng

có nhiều mắt xích hơn Mặt khác, ngoài các mắt xích nhiều mặt trong một chuỗi giá trị, thông thường các nhà sản xuất trung gian trong một chuỗi giá trị có thể tham gia vào một số chuỗi giá trị khác nhau và gọi đây là chuỗi giá trị mở rộng Trong một số trường hợp, các chuỗi giá trị khác nhau này có thể chỉ hấp thu một phần nhỏ sản lượng của một vài mắt xích trong chuỗi giá trị chính; trong những trường hợp khác có thể có sự trải đều khách hàng của các mắt xích khác nhau trong chuỗi giá trị

Võ Thị Thanh Lộc & Nguyễn Phú Sơn (2011) khái quát hóa mô hình và phân tích

chuỗi giá trị lúa gạo của vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và ngành lúa gạo Việt Nam nói chung Theo đó, chuỗi giá trị điển hình ngành lúa gạo Việt Nam bao gồm chuỗi giá trị lúa gạo nội địa và xuất khẩu có chức năng và kênh thị trường chuỗi tương đối giống nhau Những chức năng cụ thể bao gồm khâu đầu vào (giống, phân bón, thuốc trừ sâu…), khâu sản xuất (nông dân, câu lạc bộ nông dân,…), khâu thu gom (thương lái/hàng xáo), khâu chế biến (nhà máy xay xát, lau bóng và công ty), khâu thương mại (công ty bán sỉ/lẻ) và tiêu dùng (nội địa và xuất khẩu)

Trần Khắc Điền (2015) cho rằng chuỗi giá trị của ngành lúa gạo thế giới ngày nay

không còn bị giới hạn trong phạm vi từ hạt giống, phân bón, thuốc trừ sâu đến những hạt gạo trắng trên bàn ăn của các gia đình Các thành phần còn lại sau thu hoạch - vốn là phụ phẩm của ngành này cũng không còn bị đánh giá thấp nữa mà đã có sự mở rộng, phát triển và liên kết sâu với các ngành công nghiệp khác để hình thành những ngành công nghiệp mới sau lúa gạo có giá trị gia tăng rất cao (Hình 1)

Trang 4

Hình 1 Chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo

(Nguồn: Trần Khắc Điền, 2015)

Các phụ phẩm của cây lúa và sau xay xát của lúa gạo bao gồm: rơm rạ, vỏ trấu, gạo tấm, cám tươi, cám khô dầu, dầu cám gạo thô, dầu ăn tinh luyện, và sáp cám gạo Các phụ phẩm này có thể được sử dụng như là nguyên liệu trong các ngành công nghiệp mang lại giá trị kinh tế cao Cụ thể:

Rơm, rạ: được sử dụng làm nguyên liệu cấy nấm rơm mang lại giá trị dinh dưỡng cao,

sử dụng làm thành phần của thức ăn chăn nuôi gia súc, phân bón hữu cơ, làm ván lót, sợi xơ…

Vỏ trấu: có thể được sử dụng làm chất đốt, củi trấu, làm vật liệu lọc nước, sản phẩm

mỹ nghệ, vật liệu cách nhiệt, làm nguyên liệu xây dựng sạch,…

Gạo tấm: bên cạnh một lượng gạo tấm nhất định có thể phối trộn với gạo trắng để trở thành gạo thành phẩm có các mức chất lượng khác nhau, lượng gạo tấm còn lại có thể được

sử dụng trong các ngành thực phẩm chế biến để trở thành các sản phẩm như: bún gạo, sữa gạo, bánh gạo, thức uống dinh dưỡng…

Cám tươi: trong quy trình xay xát và chế biến gạo, sau khi thu được sản phẩm chính là gạo thì còn có một sản phẩm phụ có giá trị sử dụng và hàm lượng dinh dưỡng khá cao và có giá thành rất thấp là cám gạo Các sản phẩm chính từ cám gạo bao gồm: cám khô dầu (được dùng làm nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, thủy sản) và dầu cám gạo thô Trong đó, cám gạo thô rất nhiều dưỡng chất (nhiều vitamin, các chất chống oxy hóa…), sau khi được tinh luyện sẽ cho ra hai sản phẩm: dầu ăn tinh luyện (dầu cám gạo tinh luyện) và sáp cám gạo (được sử dụng nhiều trong ngành thực phẩm bánh kẹo, làm vật liệu cách điện, chất chống thấm,…)

Xét về giá trị kinh tế, một số sản phẩm được chế biến từ các phụ phẩm của lúa gạo còn

có giá trị kinh tế cao hơn so với gạo thành phẩm trên thị trường thế giới Do đó, rất nhiều quốc gia có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới ngày càng chú trọng vào phát triển chuỗi giá trị lúa gạo mở rộng để thu được nhiều giá trị gia tăng hơn

Trang 5

Hình 2 Bảng thống kê giá trị của các sản phẩm chuỗi giá trị mở rộng sau lúa gạo

(Nguồn: www.thesaigontimes.vn)

4 Các thời cơ và thách thức phát triển chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập

4.1 Các thời cơ

4.1.1 Những thuận lợi khi Việt Nam là thành viên của TPP

Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia hội nhập sâu rộng với nền kinh

tế thế giới khi cùng lúc tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Khu vực hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), và cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Điều này có nghĩa, các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo nói riêng hoàn toàn

có thể hướng tới một thị trường rộng lớn hơn với 90 triệu người Việt Nam, 600 triệu người trong AEC và 800 triệu người trong TPP

Nước ta có thuận lợi lớn để phát triển các ngành công nghiệp chế biến sau lúa gạo bởi các công ty xuất khẩu công nghệ hàng đầu thế giới trong lĩnh vực chế biến phụ phẩm từ lúa gạo đều nằm trong các nước tham gia TPP như Mỹ, Nhật Bản Mặt khác, chính các quốc gia này lại có nhu cầu lớn về các sản phẩm chế biến từ gạo như: dầu gạo, cám khô dầu… trong khi các quốc gia sản xuất, cung ứng các sản phẩm chế biến và phụ phẩm từ gạo lớn trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan… không phải là thành viên của TPP Do đó, khi TPP có hiệu lực và dưới sự ảnh hưởng của lộ trình cắt giảm thuế nhập khẩu, các doanh nghiệp chế biến sau lúa gạo của Việt Nam hoàn toàn có cơ hội chiếm lĩnh thị trường trong khối TPP so với các các quốc gia trên

4.1.2 Nguồn cung lúa gạo và phụ phẩm trong nước hàng năm lớn

Từ năm 2001 đến nay, mặc dù tổng diện tích trồng lúa của cả nước có sự biến động nhẹ nhưng nhìn chung vẫn giữ ở mức ổn định hơn 7.000 ha/năm Bên cạnh đó, tổng sản lượng lúa gạo trong 15 năm qua có sự cải thiện không ngừng, từ 32,108 (triệu tấn) năm 2001 lên đến 45,2 (triệu tấn) năm 2015

Trang 6

Bảng 1 Thống kê phân bố diện tích và sản lượng lúa gạo cả nước từ 2000 – 2015 Năm Tổng diện tích (nghìn ha) Tổng sản lượng (nghìn tấn) Năng suất (tấn/ha)

(Nguồn: Tổng Cục thống kê Việt Nam 2013 và sưu tầm của tác giả, 2015) Theo S.Kahlon (2006), 100kg lúa sau khi xay xát cho ra từ 56 – 58 kg gạo trắng, 10 –

12 kg tấm, 18 – 20 kg vỏ trấu, từ 10 – 12 kg cám gạo và từ 1,5 – 1,8 kg dầu ăn Như vậy nếu tính theo sản lượng lúa hàng năm của Việt Nam và giá trị của các sản phẩm từ phụ phẩm sau gạo, với 45 triệu tấn lúa sản xuất mỗi năm sẽ cho ra 4.5 - 5,4 triệu tấn cám gạo, 8,1 - 9 triệu tấn vỏ trấu, 5,4 triệu tấn gạo tấm và 81.000 - 97.000 tấn dầu ăn (nếu tính công suất sản xuất 100%) Con số này đủ cho một ngành công nghiệp chế biến dầu ăn cao cấp của nước ta phát triển so với mức 50.000 tấn của Trung Quốc, 60.000 tấn của Thái Lan và 70.000 tấn của Nhật Bản

Trong khi đó, với sản lượng gạo khoảng 103.04 triệu tấn niên vụ 2014-2015, Ấn Độ

đã tập trung phát triển các ngành sản xuất sau lúa gạo mang lại giá trị gia tăng cao như sản xuất cám gạo Mỗi năm, quốc gia này sản xuất khoảng 900.000 tấn dầu cám gạo, trong khi sản lượng sản xuất toàn cầu chỉ vào khoảng 1,2 triệu tấn dầu/năm, góp phần đưa Ấn Độ trở thành nhà sản xuất dầu cám gạo lớn nhất thế giới Trong số 900.000 tấn được sản xuất của Ấn

Độ thì chỉ có khoảng 300.000 tấn được sử dụng làm dầu ăn, số còn lại làm nguyên liệu sản xuất cho các ngành công nghiệp khác, mang lại nguồn doanh thu lớn cho quốc gia hàng năm

Mặt khác, theo số liệu thống kê, cứ mỗi tấn lúa tạo ra khoảng 180 - 200 kg vỏ trấu (vỏ trấu chiếm khoảng 18% - 20% khối lượng thóc) Như vậy, trung bình hàng năm thế giới tạo ra khoảng 150 triệu tấn vỏ trấu, lượng trấu của Việt Nam khoảng 8,94 triệu tấn chiếm khoảng 5,96% lượng trấu thế giới Hiện nay, lượng trấu này vẫn chưa được tận dụng một cách hợp lý nhất là ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Phần lớn vỏ trấu được đốt hoặc

đổ thẳng ra hệ thống kênh mương gây ô nhiễm môi trường

Trang 7

4.1.3 Nhu cầu thị trường về các sản phẩm chế biến từ phụ phẩm lúa gạo

Xét ngay trên thị trường nước nhà, nhu cầu về các sản phẩm trong các ngành công nghiệp chế biến có liên quan hoặc sử dụng phụ phẩm của lúa gạo làm nguyên liệu còn rất lớn

Cụ thể trong một số ngành như sau:

(1) Ngành công nghiệp chế biến dầu thực vật: đây là ngành công nghiệp được đánh giá

là có giá trị kinh tế cao nhất trong số các ngành công nghiệp chế biến sử dụng phụ phẩm từ lúa gạo Thị trường dầu thực vật Việt Nam được đánh giá có quy mô 870.000 tấn dầu thực vật (tương đương 30.000 tỷ đồng) và có xu hướng ngày càng tăng với mức tiêu thụ bình quân đạt khoảng 9,6 kg/người/năm (năm 2014) Theo ước tính đến năm 2020, mức tiêu thụ này sẽ lên đến 16,2 kg/người/năm và 18,5 kg/người/năm vào năm 2025

Tương quan so sánh giữa tổng mức tiêu thụ dầu thực vật với tổng sản lượng sản xuất trong nước có thể thấy hiện tại nguồn cung từ sản xuất vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu thị trường nội địa Hàng năm, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một số lượng lớn dầu thực vật tinh luyện và dầu thực vật thô phục vụ cho sản xuất, dẫn đến chi phí nhập khẩu các loại dầu thực vật thô (dầu cọ, dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu hạt cải…) lớn và phụ thuộc vào sự biến động của thị trường cũng như tỷ giá hối đoái giữa đồng VND và đồng đô la Mỹ (Bảng 2)

Bảng 2 Tiêu thụ và sản lượng sản xuất dầu thực vật trên thị trường Việt Nam

Đơn vị tính 2013 2014 2015

(dự báo)

2020 (dự báo)

2015 (dự báo)

Tổng tiêu thụ dầu thực

vật trong nước

1.000 tấn 780 870 920 1.570 1.890

Sản lượng sản xuất dầu

thực vật trong nước

1.000 tấn 733 738 812 1.587 1.929

Tiêu thụ dầu thực vật

trung bình người

Kg/người/năm 8,7 9,6 10 16,2 18,5

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, ước tính của các nhà sản xuất và USDA Post)

Trong danh mục nhập khẩu dầu thực vật (bao gồm cả dầu thô và dầu tinh luyện) của Việt Nam chiếm chủ yếu là dầu cọ (chiếm gần 81% so với tổng mức nhập khẩu dầu thực vật năm 2013), sau đó là dầu đậu tương và một số dầu thực vật khác (Hình 6) Như vậy, nếu biết tận dụng nguồn cung về các phụ phẩm lúa gạo hàng năm của nước ta sẽ làm giảm gánh nặng chi phí cho các nhà sản xuất dầu ăn trong nước, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm dầu thực vật nội địa so với các sản phẩm cùng loại nhập khẩu

Trang 8

Hình 6 Biểu đồ nhập khẩu dầu thực vật của Việt Nam 2009-2013 1

(Nguồn: Tổng cục Thống kê, ước tính của các nhà sản xuất và USDA Post)

(2) Nhu cầu về cám gạo phục vụ cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi: cám gạo trích

ly là một trong những nguyên liệu cần thiết để sản xuất thức ăn chăn nuôi với chi phí thấp hơn

so với cám từ lúa mì và ngô Hiện tại cám nguyên liệu, đặc biệt là cám gạo, tuy không phải là mặt hàng chính trong cơ cấu nhập khẩu các loại thức ăn chăn nuôi truyền thống của Việt Nam, bởi chỉ chiếm gần 1% tổng kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này trong năm 2009 Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đã tăng đột biến trong vài năm qua Theo số liệu của Tổng cục hải quan, trong tháng 7/2015, Việt Nam đã nhập khẩu 23,95 nghìn tấn cám gạo, tăng 123,83% so với cùng kỳ năm 2014 (Hình 7), trong khi với sản lượng 45 triệu tấn lúa hàng năm, các nhà sản xuất có thể cho ra 4.5 - 5,4 triệu tấn cám gạo/năm Con số này đủ để cung ứng toàn bộ nhu cầu nguyên liệu cám gạo cho ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc Việt Nam và hướng tới xuất khẩu, thậm chí hoàn toàn có thể trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu cám gạo hàng đầu thế giới, mang lại lợi nhuận lớn cho các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị lúa gạo của Việt Nam

Hình 7 Nhập khẩu cám gạo của Việt Nam từ 2013 đến tháng 7/2015

(Nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam, 2015)

Trên thị trường thế giới, nhu cầu về các sản phẩm dầu gạo hay nguyên liệu cám khô dầu của các nước như Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc… là rất lớn Các quốc gia này cũng đã nhập khẩu lượng cám gạo hàng năm rất lớn để phát triển rất mạnh ngành sản xuất dầu ăn từ cám gạo, và sau đó tiếp tục được chế biến sâu hơn để cho ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao

để tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu Do đó, nếu ngành cám gạo nước ta được quan

1 Bao gồm cả dầu thực vật tinh luyện và dầu thực vật thô

Các loại dầu khác Dầu đậu nành Dầu cọ

Trang 9

tâm đầu tư, Việt Nam hoàn toàn có thể tận dụng lợi thế là thành viên của TPP để xuất khẩu phụ phẩm này sang thị trường các quốc gia trong khối

(3) Nhu cầu sử dụng trấu trong một số ngành công nghiệp: ngày nay trấu đang được sử dụng trong khá nhiều ngành công nghiệp như: sản xuất than củi nhân tạo; sử dụng thay thế dầu FO trong sản xuất bia với chi phí rẻ hơn 90% so với nồi hơi đốt dầu và 60% chi phí nhiên liệu so với nồi hơi đốt than đá; nhiên liệu cho các nhà máy nhiệt điện,… Với sản lượng gạo khoảng 45 triệu tấn gạo/năm của nước ta, lượng trấu thải ra khoảng 8,94 triệu tấn/năm nhưng mới chỉ có khoảng hơn 3 tấn trấu được sử dụng; số lượng còn lại thường được xử lý bằng cách đốt hoặc bỏ xuống sông, gây ô nhiễm môi trường Do đó, nếu tận dụng được nguồn trấu

dư thừa như là nhiên liệu tại các nhà máy nhiệt điện thay thế cho than đá, có thể đáp ứng được 25% nhu cầu trong năm 2015, tiết kiệm được 36.000 tỷ đồng/năm nhờ giảm được 25% lượng than đá Lượng trấu này nếu xây dựng các nhà máy phát điện sinh khối tại Việt Nam sẽ tạo ra công suất 4.800 MW – tương đương với công suất nhà máy thủy điện Sơn La2 Tuy nhiên, khó khăn đặt ra ở đây là ngoài khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long có tập trung các nhà máy xay xát lúa có quy mô lớn tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thu mua trấu, hệ thống các nhà máy xay xát gạo tại các khu vực khác trên cả nước hầu hết có quy mô nhỏ, phân tán nên không dễ dàng cho công tác thu mua trấu với số lượng lớn, chi phí thấp trong một khoảng thời gian dài

4.2 Các thách thức trong phát triển chuỗi giá trị mở rộng ngành lúa gạo Việt Nam

4.2.1 Nguy cơ bị kiểm soát các ngành công nghiệp trong chuỗi giá trị lúa gạo mở rộng bởi doanh nghiệp nước ngoài

Theo lộ trình sau khi gia nhập TPP và AEC, Việt Nam sẽ phải giảm dần thuế suất nhập khẩu các sản phẩm từ các nước thành viên xuống còn 0%, thị trường Việt Nam sẽ trở nên cạnh tranh hơn với sự gia nhập của các sản phẩm nông nghiệp chế biến đến từ các quốc gia thành viên trong các khối Chẳng hạn, trong ngành dầu thực vật, các sản phẩm dầu thực vật có nguồn gốc từ cọ, đậu nành, hướng dương, hạt cải… từ các quốc gia như: Thái Lan, Malaysia, Indonesia… trong khối AEC sẽ có lợi thế cạnh tranh về giá bán trên thị trường Việt Nam Mặt khác, nếu chúng ta không nhanh chóng tìm ra các giải pháp thay thế, xây dựng các nhà máy chế biến dầu gạo thay thế cho các nguồn nguyên liệu nhập khẩu có thể sẽ dẫn đến nguy cơ giảm sút thị phần dầu của các doanh nghiệp dầu thực vật trong nước Muốn vậy, các doanh nghiệp chế biến dầu ăn cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị lúa gạo trong nước

Một nguy cơ khác là sau khi hội nhập, các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam tăng dần đến một lúc nào đó có thể sẽ kiểm soát được toàn bộ ngành công nghiệp sau lúa gạo của nước ta, từ ngành công nghiệp chế biến nguyên liệu cám, cám khô dầu đến dầu gạo ăn cao cấp… Khi đó, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó lòng chen chân vào được và

sẽ đánh mất toàn bộ ngành công nghiệp tiềm năng này vào tay các doanh nghiệp nước ngoài

Trang 10

4.2.2 Các chính sách vĩ mô và vi mô của Nhà nước

Trong bối cảnh kinh tế mới, các chính sách của Nhà nước vẫn chưa hình thành một định hướng phát triển tổng thể rộng hơn về chuỗi giá trị lúa gạo trong chiến lược phát triển chung của quốc gia Là ngành trọng điểm trong xuất khẩu, tuy nhiên, ngành lúa gạo vẫn chưa thật sự nhận được nhiều sự đầu tư về tài chính, công nghệ cũng như thiếu liên kết vùng và liên kết giữa các nhân tố trong chuỗi giá trị của ngành Nhìn vào ngành hiện nay, có thể thấy việc kết nối giữa các chính sách vĩ mô và vi mô còn nhiều bất cập Theo số liệu thống kê, đầu tư của Nhà nước cho nông nghiệp trong những năm vừa qua ở mức thấp và đang có xu hướng giảm dần khi giai đoạn 2003 – 2007 chiếm 8.7%, năm 2008 giảm xuống 6.4%, năm 2009 là 6.2% và đến năm 2014 chỉ khoảng 5%, trong khi giá trị sản phẩm nông nghiệp chiếm khoảng 19,3% GDP Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực này còn thấp hơn nữa khi chỉ đạt 1,4% tổng vốn FDI trong 9 tháng đầu năm 2014 Bên cạnh đó, nhiều khu vực trong nước đang có

xu hướng chuyển đổi nhiều diện tích đất nông nghiệp cho việc phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và các công trình kết cấu hạ tầng khác

Hiện tại, Nhà nước còn thiếu các chính sách trong việc liên kết và hình thành vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh, tạo nên các vùng sản xuất quy mô lớn để có thể đưa cơ giới hóa vào sản xuất, nâng cao chất lượng hàng hóa nông sản Việc thiếu chính sách trong liên kết vùng làm cho chuỗi giá trị ngành lúa gạo mở rộng khó tìm được sự đồng thuận từ phía các tổ chức, doanh nghiệp và người nông dân trong việc sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo và các chế phẩm khác Trong điều kiện thị trường cạnh tranh mạnh như hiện nay, các chủ thể trong chuỗi giá trị cần tích cực hơn trong việc liên kết với nhau, trong đó các nhà khoa học cần đi đầu trong việc nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới trong hoạt động chế biến các sản phẩm mới từ lúa gạo với hàm lượng giá trị gia tăng cao hơn Nông dân liên kết hình thành tổ hợp tác, hợp tác xã tạo nên vùng chuyên canh, hoặc thành lập công ty nông nghiệp (nông dân hùn vốn và làm chủ), sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp Doanh nghiệp phải đưa ra

dự báo thị trường, ký hợp đồng bao tiêu với nông dân và đầu tư vật tư nông nghiệp cho nông dân; xây dựng kho tàng để nâng cao chuỗi giá trị hạt gạo

Các quốc gia phát triển thúc đẩy mạnh chuỗi giá trị ngành lúa gạo mở rộng bằng các giải pháp “ươm mầm công nghệ” Tuy nhiên, ở nước ta, quy trình xét duyệt để được quyết định cho “ươm tạo” quá chậm chạp và có điểm chưa thật hợp lý Điều này đồng nghĩa những sáng kiến mới phục vụ cho ngành công nghiệp sau gạo có thể sẽ không phát huy được và muốn thay đổi thì chính sách cho vấn đề này cũng cần phải thay đổi theo Suất đầu tư sản xuất

từ cám gạo thường lớn hơn nhiều so với suất đầu tư cho sản xuất gạo do những đòi hỏi cao hơn về công nghệ và nhân lực, do vậy những ưu đãi, khuyến khích chung của Nhà nước cho nông nghiệp như hiện nay là chưa đủ để doanh nghiệp an tâm nghĩ xa hơn, đầu tư mạnh hơn cho ngành này

4.2.3 Năng suất lao động còn hạn chế

Việc mở rộng chuỗi giá trị lúa gạo đòi hỏi trình độ công nghệ cao, nhiều nghiên cứu

chuyên sâu và đầu tư lớn Tuy nhiên, trên thực tế, việc thu hoạch lúa gạo cũng như một số sản phẩm nông nghiệp hiện chưa đúng kĩ thuật, dẫn tới tình trạng các phụ phẩm sinh ra kém chất lượng, không tận dụng được nhiều Ví dụ như, do “quy trình ngược” của công nghệ sau thu

Ngày đăng: 22/09/2021, 13:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w