Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sau khi được phê chuẩn sẽ trở thành khu vực thương mại tự do rộng lớn chiếm tới 30% kim ngạch thương mại toàn cầu; mang lại cơ hội mở cửa thị trường rất lớn cho Việt nam. Bên cạnh đó,TPP cũng sẽ tiềm ẩn những những thách thức, điển hình là lĩnh vực nông nghiệp vốn gắn liền với đối tượng dễ bị tổn thương trong quá trình hội nhập là nông dân.
Trang 1THÁCH THỨC CỦA NGÀNH CHĂN NUÔI DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA TPP:
THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH CHALLENGES FOR LIVESTOCK SECTOR OF VIETNAM UNDER THE IMPACT
OF THE TPP: PRACTICES ANDPOLICY RECOMMENDATIONS
ThS Nguyễn Duy Đạt Trường Đại học Thương mại
Tóm tắt
Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) sau khi được phê chuẩn sẽ trở thành khu vực thương mại tự do rộng lớn chiếm tới 30% kim ngạch thương mại toàn cầu; mang lại
cơ hội mở cửa thị trường rất lớn cho Việt nam Bên cạnh đó,TPP cũng sẽ tiềm ẩn những những thách thức, điển hình là lĩnh vực nông nghiệp vốn gắn liền với đối tượng dễ bị tổn thương trong quá trình hội nhập là nông dân
Từ khóa:TPP, hội nhập, chăn nuôi, nông nghiệp
Abstract
The Trans-Pacific partnership agreement (TPP) after being approved will become a large free trade area, accounting for 30% of global trade volume; providesmarket open opportunities for Vietnam Besides, the TPP will also potentially exist challenges, especially the agricultural sector that is inherent to the vulnerable agents who are farmers in the integration process
Key words:the TPP, integration, livestock, agriculture
Hiệp định đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) gồm 12 quốc gia thành viên (Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Mỹ và Việt Nam) sau khi được phê chuẩn sẽtrở thành khu vực thương mại tự do rộng lớn với 800 triệu dân, chiếm 30% kim ngạch thương mại toàn cầu và gần 40% sản lượng kinh tế thế giới; mang lại cơ hội mở cửa thị trường cho hầu hết các nước thành viên do mức thuế thấp hơn Bên cạnh những cơ hội mà việc tham gia đàm phán TPP mang lại, sự khác biệt giữa các nước thành viên sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ cho các nước có trình độ phát triển thấp như Việt Nam, cụ thể là sự cạnh tranh hàng hóa gay gắt khi các dòng thuế nhập khẩu được đưa về 0% Một trong những lĩnh vực chịu tác động lớn nhất từ làn sóng TPP đó chính là ngành chăn nuôi, ngành có năng lực cạnh tranh còn yếu,và lại gắn liền với đối tượng
dễ bị tổn thương trong quá trình hội nhập là nông dân
Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu đánh giá tác động của việc gia nhập TPP tới nền kinh tế Việt nam Có thể kể tới:
của TPP đối với Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy bài viết này lập luận rằng Việt Nam
có thể hưởng lợi đáng kể về tốc độ tăng trưởng GDP, xuất khẩu, và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Trong dài hạn, nền kinh tế cũng được hưởng lợi nếu những cải cách hơn nữa về pháp lý, thể chế, và hành chính được thực hiện cùng với những cải tiến trong các lĩnh
vực nhà nước và tư nhân
nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành, Nguyễn Thị Thu Hằng và cộng sự (2015).Nghiên cứu này đac chỉ ra tác động của TPP và AEC lên nền kinh tế Việt Nam và ngành ngành chăn
Trang 2nuôisử dụng mô hình cân bằng tổng thể GE và biến thể GTAP để đánh giá tác động của TPP
và AEC tới nền kinh tế Việt Nam và ngành chăn nuôi Đây là nghiên cứu rất toàn diện Tuy nhiên số liệu từ những năm 2013 và bảng IO 2007 không thể đánh giá hết thực tế tác động của TPP tới ngành chăn nuôi
Những điểm quan trọng của Hiệp định TPP trong nông nghiệp
Về cắt giảm thuế quan, theo TPP, hầu hết các khoản thuế quan đối với hàng hóa nông sản xuất khẩu của Việt Nam sẽ được xóa bỏ Về xác định mức thuế suất mới (TRQ), đối với một số sản phẩm, việc tiếp cận thị trường ưu tiên sẽ được cung cấp qua quá trình xác định mức thuế suất mới, cho phép tiếp cận một số lượng xác định các mặt hàng nhập khẩu với mức thuế suất ưu đãi, gần như bằng zero TPP còn quy định các biện pháp bảo vệ cho phép một nước nhập khẩu đánh thuế đặc biệt vào một mặt hàng khi số lượng nhập khẩu tăng vọt, gây ra hoặc đe doạ gây ra tổn hại trầm trọng cho ngành sản xuất nội địa liên can TPP quy định hạn chế sử dụng các biện pháp bảo vệ Về các biện pháp kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), TPP xây dựng và tăng cường các quy định của Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật và vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) TPP thúc đẩy phát triển và áp dụng các biện pháp SPS theo phương thức chắc chắn về khoa học, dựa trên cơ sở rủi ro, đảm bảo các cơ quan quản lý tại Việt Nam và các nước thành viên TPP khác có thể bảo vệ an toàn thực phẩm và sức khỏe cây trồng và động vật Các điều khoản của hiệp định bao gồm tăng cường tính minh bạch, thông báo nhanh
về các lô hàng tại thời điểm nhập khẩu và thông tin công khai hơn trong quá trình thực hiện các biện pháp SPS.Hiệp định cũng cung cấp các cơ chế giải quyết tranh chấp và tư vấn để giải quyết các vấn đề SPS giữa các chính phủ một cách kịp thời.Điểm đặc biệt là TPP đánh dấu lần đầu tiên chủ đề công nghệ sinh học nông nghiệp được bao hàm trong một hiệp định thương mại song phương hoặc khu vực Thừa nhận công nghệ sinh học nông nghiệp là một công cụ quan trọng để đảm bảo lương thực thực phẩm cho dân số thế giới đang ngày càng tăng theo cách thức bền vững, Hiệp định bao gồm các điều khoản về công nghệ sinh học nông nghiệp cho phép các nước tham gia TPP thúc đẩy sự minh bạch trong các tiến trình quyết định của mình, cùng hợp tác đối với các tình huống về mức độ hiện diện thấp và xúc tiến kịp thời việc công nhận cá sản phẩm công nghệ sinh học hiện đại Hiệp định TPP cũng tạo ra nhóm làm việc tình nguyện nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến thương mại sản phẩm công nghệ sinh học nông nghiệp.Về nông nghiệp hữu cơ, TPP thúc đẩy sự hợp tác giữa các chính phủ tham gia TPP xem xét công nhận tính tương đương của các tiêu chuẩn hữu cơ.Với các điều khoản công nhận tính tương đương, thương mại về các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ được tạo điều kiện
Tác động của việc tham gia TPP với ngành chăn nuôi của Việt Nam
Trong số 12 quốc gia tham gia TPP, khá nhiều quốc gia được xem là có năng lực cạnh tranh về sản phẩm nông nghiệp Nếu tính tới giá trị tuyệt đối xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp
có thể kể tới là Mỹ, Canada, Úc, Mexico, Malaysia, New Zealand, Việt NamvàChile (xem bảng 1)
Bảng 1: Giá trị xuất khẩu nông sản của các quốc gia tham gia TPP (năm 2013)
Trang 3Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên chỉ số phát triển thế giới trực tuyến
Nếu tính theo tỷ lệ xuất khẩu nông sản so với tỷ lệ xuất khẩu hàng hóa thì New Zealand chiếm cao nhất, tới 61% xuất khẩu hàng hóa vào năm 2014 Tiếp theo là các nước Peru, Chile, Úc, Việt Nam, Canada, Malaysia và Mỹ (xem thêm bảng 2)
Bảng 2: Tỷ lệ xuất khẩu hàng thực phẩm so với xuất khẩu hàng hóa
Nguồn: Chỉ số phát triển thế giới trực tuyến và tính toán của tác giả
Mặc dù nông nghiệp vẫn được coi là “ngành thế mạnh của” Việt Nam Trong đó, thủy sản được đánh giá là có thế mạnh nhất, tiếp đến là trồng trọt, chăn nuôi xếp vị trí thứ ba.Tuy
Brunei Darussalam* 20,667,312
* 2012 Data
Food exports (% of merchandise exports)
Trang 4nhiên, Theo World Bank1, Việt Nam thuộc nhóm có trình độ phát triển nông nghiệp thấp nhất trong 12 quốc gia tham gia TPP.Năm 2013, nếu tính theo giá trị sản phẩm nông nghiệp trên mỗi nhân lực tham gia sản xuất nông nghiệp (theo giá cố định 2005) - Agriculture value added per worker - constant 2005 US$), Việt nam chỉ đạt 476 đô la, rất thấp so với Mỹ (69.457 đô la), Nhật Bản (50.720 đô la) Úc (49.723 đô la) (Xem bảng 3)
Bảng 3: Giá trị sản phẩm nông nghiệp trên mỗi nhân lực tham gia sản xuất nông nghiệp
Nguồn: Chỉ số phát triển thế giới online, Ngân hàng thế giới, cập nhật ngày 14/10/2015 và tính toán của tác giả (các ô trống là không có dữ liệu)
Hình 1: Giá trị sản phẩm nông nghiệp trên mỗi nhân lực tham gia sản xuất nông nghiệp
Nguồn: Chỉ số phát triển thế giới online, Ngân hàng thế giới, cập nhật ngày 14/10/2015
1 World Bank (2008), Báo cáo phát triển thế giới: Nông nghiệp cho phát triển
Australia 45,121 45,931 39,100 41,482 48,442 47,792 49,342 50,034 49,723 52,701 Brunei Darussalam 90,224 81,324 77,691 80,598 85,200 80,206 83,868
Canada
Chile 5,359 5,499 5,707 6,127 5,794 5,829 6,536 6,421 6,431 6,638 Japan 27,987 29,197 33,433 38,279 37,076 39,284 42,879 46,150 50,720
Mexico 3,344 3,555 3,734 3,826 3,774 3,850 3,809 4,145 4,239 4,416 Malaysia 6,792 7,306 7,511 7,926 8,060 8,398 9,038 9,321 9,674 10,127 New Zealand 28,167 28,276 24,929 27,229 27,141 25,543 28,993 29,722 28,677
Peru 1,469 1,580 1,620 1,729 1,732 1,754 1,885 1,905 1,949
Singapore 35,088 35,661 35,630 33,550 34,847 35,691 37,047 37,499 36,625
United States 51,516 54,461 48,103 52,447 60,467 62,883 61,391 60,614 69,457
Vietnam 399 409 420 434 437 446 460 468 476 489
Trang 5Nếu tính theo giá trị thì hiện nay, mặc dù là quốc gia có thuận lợi về nông nghiệp, Việt
nhập siêu các sản phẩm về chăn nuôi thuộc nhóm 01 và 02 (xem bảng 4) với giá trị thâm hụt
ngày càng tăng
Bảng 4: Cán cân thương mại sản phẩm chăn nuôi nhóm HS 01 - 02
Đơn vị: nghin USD
Mã
HS Sản phẩm Cán cân 2010 Cán cân 2011 Cán cân 2012 Cán cân 2013 Cán cân 2014
Giá trị xuất khẩu
2014
Giá trị nhập khẩu
2014
Nhóm 01 (36.248) (28.298) (32.880) (93.348) (276.619) 6.213 282.832
'0106 Động vật sống khác (3.068) (1.404) 1.322 2.311 888 3.584 2.696
'0101 Ngựa, lừa, la sống (62) (28) 34 (180) (50) 2 52
'0104 Dê và cừu sống (47) - (64) (40) (92) 29 121
'0103 Lợn sống (801) (2.368) (5.061) (3.325) (2.903) 505 3.408
'0105 Gia cầm sống (5.254) (6.442) (6.408) (6.889) (7.376) 368 7.744
'0102 Trâu bò sống (27.016) (18.056) (22.703) (85.225) (267.086) 1.725 268.811
Nhóm 02 (65.180) (97.668) (77.307) (124.577) (171.163) 60.715 231.878
'0203 Thịt lợn, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh 30.654 36.353 53.128 32.827 37.845 46.649 8.804
'0208 Thịt và phụ phẩm 5.750 4.372 4.201 6.047 6.000 6.243 243
'0205 Meat of horses, asses or mules - fresh, chilled or frozen - - - - - - -
'0209 Lợn và mỡ gia súc - (1.037) (210) (594) (1.071) - 1.071
'0210 Meat & edible meat offal (1.945) (1.762) (1.988) (1.797) (2.016) 241 2.257
'0204 Thịt cừu hoặc dê - tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (4.594) (3.978) (4.285) (6.856) (7.334) - 7.334
'0201 Thịt trâu bò tươi hoặc ướp lạnh (5.016) (4.696) (5.154) (6.605) (7.930) 12 7.942
'0206 phụ phẩm ăn được của thịt đỏ (1.037) (1.404) (4.011) (11.102) (15.119) - 15.119
'0202 Thịt trâu bò đông lạnh (20.007) (30.321) (43.739) (51.868) (83.270) 1.329 84.599
'0207 Thịt và phụ phẩm ăn được, của gia cầm thuộc nhóm 01.05, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh (68.985) (95.195) (75.249) (84.629) (98.268) 6.241 104.509
Nhóm 1 + Nhóm 2 (101.428) (125.966) (110.187) (217.925) (447.782) 66.928 514.710
Nguồn: Tính toán của ITC từ nguồn dữ liệu Uncomtrade Như vậy, với các số liệu kể trên, có thể chia 12 quốc gia tham gia TTP thành 3 nhóm với trình độ phát triển khác nhau như sau: Nhóm thứ nhất gồm Mỹ, Úc, New Zealand thuộc nhóm nước phát triển nhất (cả về giá trị sản xuất gia tăng và năng lực cạnh tranh); nhóm thứ 2
2 Nhóm 01 và 02 tại bảng mã HS code
Trang 6gồm: Chile, Malaysia, Việt Nam, Mexico,Peru; nhóm thứ 3 là nhóm nước Nhật, Singapore, Brunei
Trong số các quốc gia tham gia TPP, Việt Nam có thương mại hàng nông sản với tất
cả các quốc gia Các bạn hàng lớn nhất của Việt Nam lần lượt là: Mỹ, Malaysia, Singapore, Nhật Bản,Úc Việt Nam nhập siêu sản phẩm nông nghiệp từ Mỹ, Úc, New Zealand, Malaysia, Canada ở mức độ đáng kể;ở chừng mực nào đó là Peru ở mức nhỏ Trong khi đó Việt Nam xuất siêu sang Nhật Bản, Singapore, Mexico ở chừng mực nào đó là Brunei, Chile ở mức nhỏ (xem thêm hình 2)
Hình 2: Thương mại hàng nông sản của Việt Nam với các quốc gia tham gia TPP
Như vậy, có thể thấy, khi tham gia TPP, cơ hội cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam rõ ràng nhất là tại Nhật Bản, Singapore Mexico và Peru trước đây cũng áp thuế suất tương đối cao đối với các hàng hóa xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam (15 – 30%), nhưng do khoảng cách địa lý với Việt Nam khá lớn và quy mô thị trường tương đối nhỏ, mức độ tăng trưởng xuất khẩu Việt Nam đối với các thị trường này kỳ vọng đạt thấp sau khi tham gia TPP Tương tự như vậy với Chi lê dù Việt Nam đã có hiệp định thương mại tự do với Chi lê
Còn lại, chúng ta có nguy cơ chịu sự cạnh tranh gay gắt của ba nước Úc, New Zealand
và Mỹ; ở chừng mực nào đó là Malaysia.Hai nước Úc và New Zealand được đánh giá có năng lực cạnh tranh vào hàng cao nhất thế giới ở các sản phẩm ngành chăn nuôi bò (thịt bò, sữa).Mỹhiện tại là nước có thế mạnh trong các sản phẩm như sữa, thịt bò, thịt gia cầm, thịt heo.Việt Nam đang nhập khá nhiều các mặt hàng này từ Mỹ Nếu mở cửa, nguy cơ sản phẩm tương tự của Việt Nam gặp khó khăn khi cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu từ nước này là rất lớn
Bảng 5: Năng lực cạnh tranh của ngành chăn nuôi Việt Nam- So sánh với một vài quốc gia trong TPP –Nhóm ngành Thực phẩm tươi sống (Fresh food)
Chỉ số
Vietnam 2014 Hoa Kỳ 2014 New Zealand 2014 Úc 2014
Giá trị Xếp hạn
g Giá trị
Xếp hạng Giá trị hạng Giá trị Xếp hạng Xếp
Số lượng quốc gia tham gia bảng xếp
Trang 7Giá trị xuất khẩu (nghìn US$) 16.069.853 105.927.284 9.664.970 29.074.774 Tốc độ tăng giá trị xuất khẩu - Export
Tỷ lệ giá trị xuất khẩu trên tổng giá trị
Tỷ lệ giá trị xuất khẩu trên tổng giá trị
Cán cân thương mại hàng thực phẩm tươi
Giá trị xuất khẩu ròng (nghìn US$) -1.172.064 143 32.924.593 2 8.334.864 10 24.804.659 4 Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người
(trên tổng dân số) - Per capita exports
Thị phần trên thị trường thế giới - Share
Mức đa dạng hóa sản phẩm - Product
Tập trung hóa sản phẩm - Product
Đa dạng hóa thị trường - Market
Tập trung hóa thị trường - Market
Thay đổi trong thị phần - Relative change
Nguồn: Tính toán của ITC dựa trên số liệu của UNcomtrade
Bảng 5 cho chúng ta thấy rõ hơn về năng lực cạnh của Việt Nam khi so sánh với Mỹ, New Zealand và Úc Mặc dù chúng ta có thị phần khá tốt đối với nhóm ngành hàng thực phẩm tươi sống với mức 2%, đứng ở vị trí 13/177 nước so với vị trí số 1; số 23 và số 8 lần lượt của Mỹ, New Zealand và Úc Chúng ta cũng có mức tập trung hóa và đa dạng hóa thị trường và sản phẩm ở mức độ khá tốt (xếp hạng từ 21-47) Tuy nhiên Việt Nam ở vị trí rất thấp trên bảng xếp hạng nếu tính ở tốc độ tăng giá trị xuất khẩu và cán cân thương mại, và giá trị xuất khẩu ròng Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh yếu của chúng ta nếu so với ba nước Mỹ, New Zealand và Úc
Bảng 6: Cán cân thương mại hàng chăn nuôi nhóm hàng HS 01 - 02 giữa Việt Nam với Úc, NewZealand và Mỹ
Đơn vị: nghìn đô la
Mã
HS Nhóm sản phẩm
Cán cân thương mại Việt Nam với thế giới
Cán cân thương mại Việt Nam và Úc
Cán cân thương mại Việt Nam và New Zealand
Cán cân thương mại Việt Nam và
Mỹ
Nhóm 1: -93.348 -276.619 -61.207 -227.032 -5.904 -248 -1.966 3.55
-7
'0101 Ngựa, lừa, la sống -180 -50 0 0 0 0 0 -50
-1.16
6 '0102 Trâu bò sống -85.225 -267.086 -60.961 -226.306 -5.785 0 0 0 '0105 Gia cầm sống -6.889 -7.376 -206 -189 -119 -248 -2.725
-3.01
5 '0106 Động vật sống khác 2.311 888 0 -498 0 0 1.463 756
Trang 8-124.577 80.0
12 '0208 Thịt và phụ phẩm 6.047 6.000 4 -18 -20 -39 96 38 '0202 Thịt trâu bò đông lạnh -51.868 -83.270 -8.614 -11.469 -973 -1.443 -12.040
-16.2
63 '0201 Thịt trâu bò tươi hoặc ướp lạnh -6.605 -7.930 -4.959 -5.996 -1.171 -902 -483 -836 '0203 Thịt lợn, tươi, ướp lạnh hoặc đông lạnh 32.827 37.845 -4 -100 0 0 -2.151 -851 '0204
Thịt cừu hoặc dê -
tươi, ướp lạnh hoặc
đông lạnh -6.856 -7.334 -6.287 -6.523 -313 -751 -4 -2 '0210
Thịt và các bộ phận
nội tạng thịt ăn
-1.90
6
'0207
Thịt và phụ phẩm
ăn được, của gia
cầm thuộc nhóm
01.05, tươi, ướp
lạnh hoặc đông lạnh -84.629 -98.268 -44 -79 0 0 -47.166
-59.8
62 '0209 Lợn và mỡ gia cầm -594 -1.071 0 0 0 0 0 0 '0206 phụ phẩm ăn được của thịt đỏ -11.102 -15.119 -854 -3.204 0 -221 -731 -330
Tổng nhóm 1 + nhóm 2 217.925 - -447.782 -81.976 -254.431 -8.381 -3.604 -66.172
-83.5
69 Nguồn: Tính toán của ITC từ nguồn dữ liệu Uncomtrade
Đi sâu hơn, năm 2014, Việt nam nhập siêu tới gần 450 triệu USD các nhóm 1 và nhóm
2 trong bảng mã HS Trong đó nhập siêu từ ba nước Úc, Mỹ và New Zealand chiếm 76% nhập siêu của Việt Nam trong hai nhóm này Trong đó, các sản phẩm Việt Nam kém cạnh tranh nhất là trâu bò sống; thịt trâu bò đông lạnh; thịt và phụ phẩm ăn được Các nhóm ngành này lại là thế mạnh của Úc (trâu bò sống nhóm 0102); Úc – Mỹ - New Zealand (nhóm 0202
và nhóm 0207)
Thách thức với ngành chăn nuôi Việt Nam
Trong số các nội dung đàm phán, nội dung đàm phán về đầu tư lại hứa hẹn đem đến nhiều cơ hội cho ngành nông nghiệp nước ta Khi TPP có hiệu lực, hiệp định này sẽ thúc đẩy, gia tăng đầu tư của các nước thành viên (nhất là các nước phát triển như Mỹ, Australia, New Zealand, Singapore, Nhật Bản ) vào Việt Nam, đặc biệt trong một số lĩnh vực Việt Nam mong muốn phát triển như các ngành nông nghiệp công nghệ cao, hình thành các chuỗi khép kín với công nghệ tiên tiến, tạo khả năng cho Việt Nam tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu
Trái ngược với đàu tư, cả ba lĩnh vực SPS – TBT và lao động đều chứa các rủi ro cho Việt Nam Trong số các sản phẩm nông nghiệp, cả ba ngành trồng trọt, chăn nuôi và thủy hải sản trên đều có xu hướng chịu tác động khá rõ của các đàm phán liên quan đến nội dung thuế quan, SPS – TBT, đầu tư và lao động; trong đó bao gồm cả những mặt thuận lợi và khó khăn.Trong các lĩnh vực đàm phán, có thể nói các đàm phán về thuế quan, SPS – TBT, đầu tư
và lao động là những nội dung quan trọng hơn cả, có ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực nông nghiệp.Trong các đàm phán về thuế quan, thủy sản được cho là ngành nông nghiệp tận dụng được nhiều lợi thế hơn cả, cụ thể là có cơ hội gia tăng xuất khẩu khi thuế nhập khẩu thủy sản váo các quốc gia còn 0% So với ngành hàng thủy sản, nhóm hàng chăn nuôi (lấy thịt, lấy sữa)
Trang 9và trồng trọt (trái cây), đặc biệt là chăn nuôi lại được dự báo là sẽ bị cạnh tranh gay gắt, thậm chí ngay tại thị trường nội địa (nhất là với mặt hàng thịt bò và thịt lợn)
Theo đánh giá của các chuyên gia, có thể kể tới các nguyên nhân sau tạo nên sức cạnh tranh kém của ngành chăn nuôi Việt Nam:
các nước trong khu vực và trên thế giới
lớn
Vấn đề thứ nhất là dođặc điểm của ngành chăn nuôi Việt Nam hiện nay là quy mô tự phát, nhỏ lẻ, phân tán chiếm chủ yếu, trong khi ứng dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế.Trong khi các quốc gia khác (như Hoa Kỳ) có quy mô sản xuất lớn khiến năng suất cao.Hiện nay, tổng giá trị sản xuất của toàn ngành chăn nuôi hiện đạt khoảng 140 - 150 nghìn
tỷ đồng.Theo ước tính của Cục Chăn nuôi (Bộ NN&PTNT), chăn nuôi nông hộ vẫn chiếm tới
40 – 50% tổng sản lượng chăn nuôi của cả nước, cá biệt có lĩnh vực tỷ lệ chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tới 60% như trâu, bò, cả nước hiện chỉ có khoảng 23.000 trang trại đạt doanh thu từ
nuôi lợn, nhưng giá thịt của Mỹ đang rẻ hơn ở Việt Nam 40%
Chi phí đầu tư cho sản xuất cao xuất phát từ sự phụ thuộc của sản xuất chăn nuôi vào vật tư đầu vào như con giống, thức ăn, thuốc thú y Theo Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước phụ thuộc vào nhập khẩu tới 50% nguồn nguyên liệu Ước tính mỗi năm, Việt Nam phải nhập trên 8 triệu tấn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, trị giá trên dưới 3 tỷ USD, chủ yếu từ các nước Argentina, Mỹ, Ấn Độ, Brazil… Trong
đó, các loại nguyên liệu giàu đạm như khô dầu đậu tương, bột xương thịt, bột cá nhập khẩu 90% và khoáng chất, vitamin nhập tới 100% Về thuốc thú y, mỗi năm Việt Nam phải nhập một lượng lớn để phục vụ chăn nuôi trong nước, nhất là vaccine.Điều này dẫn tới giá thành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam luôn cao hơn 10% so với các nước khác.Nếu có nguồn giống tốt sẽ góp phần tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, đồng thời theo tính toán, còn góp phần làm giảm khoảng 9% giá thành sản phẩm chăn nuôi tại Việt Nam
Không chỉ chi phí sản xuất cao hơn, một trong những điểm yếu cố hữu của ngành chăn nuôi là năng suất thấp Trong đó phải kể đến chất lượng con giống chưa đảm bảo Theo thống
kê, trong số 20 nước có tổng đàn heo nái đứng đầu thế giới, Việt Nam đứng cuối bảng về năng suất sinh sản.Trong khi năng suất sinh sản của lợn giống các nước như Mỹ, Thái Lan, Trung Quốc… đạt 25 – 26 con/lứa thì ở Việt Nam chỉ ở mức 17 – 20 con
Về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, yêu cầu của thị trường các nước về ATTP ngày càng cao Tăng mức độ an toàn trong vấn đề bảo
vệ sức khỏe thông qua các quy định khắt khe hơn về vệ sinh dịch tễ và rào cản kỹ thuật cũng
là một trong những yêu cầu bắt buộc của TPP Những rào cản dưới dạng quy định kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ rất có thể sẽ vô hiệu hóa lợi ích từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam; bởi dù thuế nhập khẩu vào các nước có được xóa bỏ nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư
3 http://vcn.vnn.vn/nganh-chan-nuoi-hoi-nhap-tpp-chat-luong-phai-duoc-dat-len-hang-dau_n58965_g721.aspx
truy cập 15/10/2015
Trang 10lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao bì của các nước vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí là còn rủi ro hơn nhiều so với thuế quan
Trong khi đó, vấn đề ATTP trong chăn nuôi gia súc, gia cầm ở Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề đáng lo ngại như việc hướng dẫn và quản lý sử dụng thuốc kháng sinh còn lỏng lẻo, tình trạng sử dụng các chất bổ trợ trong thức ăn chăn nuôi khá tùy tiện
Theo số liệu điều tra của Dự án cạnh tranh ngành chăn nuôi và ATTP (Lifsap) - một
dự án do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ đang triển khai tại 12 tỉnh, TP (trong đó có Hà Nội) cho biết, vấn đề VSATTP của Việt Nam thường được quản lý một cách lỏng lẻo trong tất cả các chuỗi chăn nuôi., hệ thống chăn nuôi quy mô nhỏ với mức vệ sinh an toàn thấp chiếm tới 70% trong tổng sản lượng cung cấp ra thị trường Trong khi đó, mô hình chăn nuôi thương mại với quy mô lớn với mức độ an toàn cao chỉ cung cấp khoảng 15% sản lượng
Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, trong năm 2014, qua lấy mẫu kiểm tra, cơ quan này
đã phát hiện 5,2% mẫu thức ăn chăn nuôi dương tính với chất cấm và 17,7% mẫu thịt, gan, thận lợn tồn dư kháng sinh Không những thế, công nghệ chế biến, bảo quản thịt sau giết mổ của nước ta còn hạn chế nên số lượng các sản phẩm được chế biến, đóng gói, có tem nhãn ghi xuất xứ nguồn gốc và chứng nhận ATTP khá ít ỏi.Trong khi đó, các sản phẩm thịt nhập khẩu
từ nước ngoài, nhất là một số nước như Australia, Mỹ… được đảm bảo VSATTP cao hơn.Điều này càng khiến cho sản phẩm chăn nuôi trong nước yếu thế hơn khi cạnh tranh
Một số đề xuất chính sách
Để ngành chăn nuôi đứng vững trước làn sóng TPP, việc quan trọng là tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu ngành chăn nuôi Trong 4 nhóm giải pháp lớn đặt ra của mục tiêu tái cơ cấu ngành chăn nuôi là phải rà soát tính toán lại cơ cấu sản phẩm để cân đối chăn nuôi lợn, gà, trâu, bò phát huy lợi thế của từng khu vực Đồng thời tăng cơ cấu sản phẩm thịt bò, thịt gia cầm, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào thị trường
Một giải pháp quan trọng nữa là chúng ta hướng đến tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm ngành chăn nuôi thông qua nâng cao chất lượng con giống, thức ăn chăn nuôi, giết
mổ tập trung Trong thời gian tới, Bộ NN&PTNT cần chỉ đạo tập trung đẩy mạnh tái cơ cấu ngành chăn nuôi, tập trung cao nhất vào nâng cao chất lượng con giống, kể cả với sản xuất nông hộ lẫn sản xuất trang trại Đồng thời, tạo ra hành lang pháp lý, hàng rào kỹ thuật để tăng cường quản lý các loại giống đang lưu hành trên địa bàn cả nước
Về thị trường, Bộ NN&PTNT cần chỉ đạo theo dõi sát diễn biến cung, cầu thị trường trong nước và thế giới, tăng cường năng lực nghiên cứu, dự báo và thông tin thị trường để định hướng sản xuất đến tất cả các ngành, từng phân ngành Đồng thời, kiểm soát dung lượng thị trường, quản lý điều tiết sản xuất, kinh doanh, tránh tình trạng được mùa mất giá
Song song với đó, cần có chính sách hỗ trợ xây dựng các chuỗi liên kết trong chăn nuôi.Đây là mô hình đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng thành công, trong đó, DN ký hợp đồng kinh tế với người nông dân.Sản phẩm chăn nuôi khi xuất chuồng được đưa đến nhà máy giết mổ, kết nối với nơi chế biến rồi đưa ra thị trường bán lẻ hoặc siêu thị thành một chuỗi khép kín từ trang trại tới bàn ăn.Ngoài ra còn cần phải mở rộng liên kết, không chỉ liên kết các “nhà” mà còn phải nằm trong chuỗi liên kết toàn cầu
Bộ NN&PTNT cần thực thi hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững song song với việc rà soát và thay đổi đề án này (nếu cần thiết) Đánh giá bước đầu, tái cơ cấu đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực